Một số vấn đề về thừa kế thế vị theo quy định tại điều 678, 679 Bộ luật dân sự (Phần 2)
Ths
Ths.Phạm Thị Bích Phượng
Thẩm tra viên, Trường Cán bộ Tòa án |
3. Những nội dung đề xuất nhằm hoàn thiện quy định về thừa kế thế vị theo
quy định tại Điều 678, 679 Bộ luật dân sự năm 2005:
3.1 Về quy định thừa kế thế vị có nhân tố con nuôi (Điều 678 BLDS):
Từ những vướng mắc khi áp dụng Điều 678 BLDS nêu trên, để góp phần trao đổi
ý kiến xây dựng Bộ luật dân sự liên quan đến quy định về thừa kế thế vị, có
thể đề xuất, đưa ra hướng giải quyết đối với từng trường hợp cụ thể như sau:
* Trường hợp thứ nhất:
Khi người nhận nuôi con nuôi chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với cha
mẹ đẻ của họ thì người con nuôi của họ có được thừa kế thế vị không?
Ví dụ: A có con đẻ là B, B nhận nuôi con nuôi là C. Trong trường hợp B chết
trước hoặc chết cùng một thời điểm với A thì C (còn sống) có được thừa kế
thế vị của A không?
Về trường hợp này, ta thấy, khi một người nhận nuôi con nuôi, phát sinh quan
hệ tình cảm, nuôi dưỡng như cha con, mẹ con giữa cha mẹ nuôi và người con
nuôi, theo đó là quan hệ giữa cha mẹ đẻ của người nhận nuôi với cháu nuôi.
Vì, Điều 24 Luật nuôi con nuôi quy định:
“giữa con nuôi và các thành viên khác
của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy
định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định
khác của pháp luật có liên quan”. Tuy giữa con nuôi với cha mẹ đẻ của
người nhận nuôi con nuôi không có quan hệ huyết thống nhưng khi được nhận
nuôi, giữa người con nuôi với cha mẹ đẻ của người nhận nuôi phát sinh quyền
và nghĩa vụ giữa ông bà và cháu đối với nhau. Từ quy định của pháp luật về
địa vị pháp lý của người con nuôi như trên, có thể suy luận giữa bố mẹ đẻ
của người nhận nuôi con nuôi và người con nuôi được thừa kế di sản của nhau,
kể cả thừa kế thế vị. Chính vì dựa trên địa vị pháp lý của người con nuôi có
đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đối với cha mẹ nuôi như con đẻ, mặt khác, dựa
trên mối quan hệ gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng nhau giữa cha mẹ - con và
giữa ông cháu, bà cháu mà họ có quan hệ thừa kế. Còn trong trường hợp cụ thể,
tùy theo mong muốn và quan hệ tình cảm của các bên mà họ có thể để lại di
sản theo di chúc.
Như vậy, theo quy định tại Điều 677
BLDS về thừa kế thế vị: “Trong trường
hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người
để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được
hưởng nếu còn sống» thì có thể đương nhiên coi người được nhận nuôi trở
thành “cháu” của cha mẹ người nuôi dưỡng. Xét cả về lý thuyết và thực tế thì
khi người nhận nuôi con nuôi chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với cha
mẹ đẻ của họ thì người con nuôi của họ được thừa kế thế vị.
Sơ đồ 3.1 – 1.
Khi người nhận nuôi con nuôi chết
trước hoặc chết cùng một thời điểm với cha mẹ đẻ của họ thì người con nuôi
của họ được thừa kế thế vị.

* Trường hợp thứ hai:
Khi người con nuôi chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với cha mẹ nuôi
thì con của người con nuôi (con đẻ hoặc con nuôi) có được hưởng thừa kế thế
vị không?
Theo quy định của Điều 24 Luật nuôi con nuôi, thì kể từ ngày giao nhận con
nuôi, giữa con nuôi và các thành viên của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các
quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật. Sở dĩ, giữa họ
phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với nhau do địa vị pháp lý của người con
nuôi được pháp luật xác định ngang bằng với con đẻ của cha mẹ nuôi, không có
sự phân biệt đối xử giữa các con. Do đó, con đẻ của người con nuôi sẽ được
thừa kế thế vị đối với di sản của ông, bà đã nhận nuôi cha mẹ họ. Bởi vì:
giữa con đẻ của người con nuôi và người con nuôi có quan hệ huyết thống với
nhau, còn giữa cha mẹ của người con đẻ với ông bà đã nhận nuôi dưỡng cha mẹ
họ lại có quan hệ nuôi dưỡng. Như vậy, người con đẻ của người con nuôi có
thể được coi là cháu của ông bà đã nhận nuôi cha mẹ họ. Việc con đẻ của
người con nuôi được hưởng thừa kế thế vị đối với di sản của ông bà đã nhận
nuôi cha, mẹ họ là hoàn toàn hợp lý.
Như vậy, trong trường hợp con nuôi chết trước hoặc chết cùng một thời điểm
với cha nuôi, mẹ nuôi thì con đẻ của người con nuôi (tức là cháu của cha
nuôi, mẹ nuôi) được hưởng phần di sản mà đáng lẽ cha, mẹ của cháu còn sống
vào thời điểm mở thừa kế được hưởng.
Sơ đồ 3.1
– 2. Khi người con nuôi chết
trước hoặc chết cùng một thời điểm với cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì con đẻ
của người con nuôi được thừa kế thế vị.

Còn trường hợp tương tự, với
tình huống con nuôi của người con nuôi có được hưởng thừa kế thế vị
không? Ta thấy, con nuôi của người nuôi con nuôi không đương nhiên trở
thành cháu của người đã nhận nuôi dưỡng cha mẹ nuôi mình, vì thế, giữa
người con nuôi với người đã nhận nuôi dưỡng cha mẹ nuôi của họ cũng
không tồn tại mối ràng buộc pháp lý nào. Giữa người nhận nuôi con nuôi
với cha, mẹ nuôi của người đó có quan hệ cha - con, mẹ - con phát sinh
trên cơ sở nhận nuôi con nuôi, còn giữa con nuôi của người nhận nuôi con
nuôi và cha, mẹ nuôi của người đó không tồn tại bất cứ quan hệ nào. Vì
thế, trong trường hợp con nuôi chết trước hoặc chết cùng một thời điểm
với cha nuôi, mẹ nuôi thì con nuôi của người con nuôi không được hưởng
thừa kế thế vị.
Sơ đồ 3.1 – 3.
Khi người con nuôi chết trước hoặc chết
cùng một thời điểm với cha nuôi, mẹ nuôi thì con nuôi của người đó không được
thừa kế thế vị.
Có thể nói rằng: Thừa kế thế vị tạo khả năng gắn bó giữa những người thân thích
nhất của người để lại di sản với người là con, cháu hoặc được coi là con, cháu
của người đó trong việc hưởng di sản thừa kế thế vị.
Vì thế, quy định của Điều 678 BLDS cần được hiểu là: Con nuôi được thừa kế di
sản của cha nuôi, mẹ nuôi và cha, mẹ nuôi được thừa kế di sản của con nuôi.
Người làm con nuôi vừa được thừa kế của cha mẹ nuôi, vừa được thừa kế của cha mẹ
đẻ. Ngoài ra, người làm con nuôi vẫn còn có quan hệ thừa kế với những người
trong gia đình cha, mẹ đẻ theo 3 hàng thừa kế và thừa kế thế vị.
Qua những nội dung trao đổi trên đây về quy định của Điều 678 BLDS, thấy rằng,
những quy định về thừa kế thế vị trong BLDS nói chung và về quan hệ thừa kế thế
vị có nhân tố con nuôi cần được tiếp tục sửa đổi, bổ sung kịp thời để đáp ứng
nhu cầu của cuộc sống.Trong tiến trình xây dựng BLDS, cần sửa đổi, bổ sung quy
định của Điều 678 BLDS rõ ràng hơn, theo hướng dự liệu về các trường hợp thừa kế
thế vị có nhân tố con nuôi nêu trên. Và trong thời gian tới, Tòa án nhân dân tối
cao cũng cần có hướng dẫn về áp dụng Điều 678 BLDS để tòa án các cấp giải quyết
tranh chấp được thống nhất, thấu tình, đạt lý, bảo đảm quyền lợi chính đáng của
người dân.
3.2 Về quy định thừa kế thế vị trong trường hợp con riêng với cha kế, mẹ kế (Điều
679 BLDS):
Theo các phân tích trên, quy định tại Điều 679 BLDS về quan hệ thừa kế giữa con
riêng và cha dượng, mẹ kế như hiện nay thì việc xác định quyền thừa kế theo pháp
luật của nhau giữa con riêng và cha dượng, mẹ kế là một vấn đề phức tạp và sẽ có
nhiều quan điểm khác nhau trong việc áp dụng quy phạm để giải quyết tranh chấp
thực tế phát sinh. Như vậy, pháp luật về thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói
riêng không những thiếu chặt chẽ mà còn khó có thể áp dụng được thống nhất ở các
cấp tòa án. Vì vậy, đề xuất cần xây dựng quy định của Điều 679 BLDS cụ thể hơn,
theo hướng sau:
- Không bắt buộc cả hai bên đều phải có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau mới
được hưởng thừa kế, mà chỉ cần một phía chăm sóc,
nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con là được hưởng thừa kế của nhau. Việc
“chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con,
mẹ con” pháp luật nên quy định nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau giữa con riêng và
cha kế, mẹ kế không phụ thuộc vào nơi cư trú của họ, không phụ thuộc vào độ tuổi
của người con riêng đã thành niên hay chưa, mà phải căn cứ vào việc giữa họ có
thực sự thể hiện được nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con hay
không và vào mối quan hệ đã hình thành trên thực tế.
- Quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu thương nhau giữa cha dượng, mẹ kế với con
riêng của vợ, của chồng được thể hiện ở những mối quan hệ sau: không có sự phân
biệt đối xử giữa con riêng của vợ, của chồng với các con chung của họ. Cha
dượng, mẹ kế coi con riêng của vợ, của chồng như con ruột của mình và không dừng
lại ở mặt hình thức mà thể hiện được trên thực tế nghĩa vụ: yêu thương, nuôi
dưỡng, giáo dục các con, chăm lo việc học tập và phát triển lành mạnh của con về
thể chất, trí tuệ và đạo đức.
- Khi có tranh chấp xảy ra, muốn xác định được
“quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau”
như thế nào được coi là có “quan hệ chăm
sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con” thì Tòa án phải điều tra những
thành viên trong gia đình, họ tộc, hàng xóm; nếu thấy giữa các bên có quan hệ
yêu thương, chăm sóc quý trọng nhau, không phân biệt con riêng, con chung; người
con riêng coi cha dượng, mẹ kế như cha đẻ, mẹ đẻ của mình và ngược lại có thể
cho họ thừa kế của nhau. Pháp luật cũng không cần phải bắt buộc cả hai bên đều
phải có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng nhau mới được hưởng thừa kế, mà chỉ một phía
chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con là được thừa kế của nhau.
Từ đó, Điều 679 BLDS cần được xây
dựng hoàn thiện hơn nữa để loại trừ những khó khăn, vướng mắc khi tòa án giải
quyết những tranh chấp liên quan đến thừa kế thế vị trong trường hợp con riêng
với cha kế, mẹ kế. Để việc áp dụng pháp luật được thống nhất nhằm nâng cao chất
lượng giải quyết án, đáp ứng kịp thời đòi hỏi của xã hội và tính chất phức tạp
của các tranh chấp thừa kế,
Điều 679 BLDS cần sửa đổi cụ thể như sau:
“Con riêng và cha kế, mẹ kế không phụ
thuộc vào nơi họ cư trú nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ
con từ một phía hoặc từ cả hai phía thì được thừa kế tài sản của nhau theo quy
định của Điều 676 và con hoặc cháu của người con riêng đó còn được thừa kế tài
sản theo quy định tại Điều 677 của Bộ luật này”.
Cùng với việc sửa đổi Điều 679 BLDS như ở trên, đề xuất Tòa án nhân dân tối cao
có văn bản hướng dẫn cụ thể thế nào là “có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu
thương nhau như cha con, mẹ con” để việc áp dụng được thống nhất.
Quy định như vậy không những thuận tiện cho việc áp dụng quy phạm về việc giải
quyết những tranh chấp về quyền thừa kế trong trường hợp cụ thể liên quan đến
thừa kế thế vị mà nó còn phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và truyền thống
tốt đẹp của người Việt Nam trong quan hệ kế mẫu, kế phụ.
Rất mong những đóng góp ý kiến xây dựng một số vấn đề về thừa kế thế vị theo quy
định tại Điều 678, 679 Bộ luật dân sự năm 2005 trên đây được hướng dẫn, sửa đổi
để việc thực thi pháp luật thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói riêng được
thống nhất, có hiệu quả hơn nữa trong cuộc sống.