Trong các phần trước
Trong các phần trước, chúng ta đã đề cập đến
Khái niệm về quyền con người (phần
1); Quyền được xét xử công bằng trong
pháp luật quốc tế (phần 2); Tính
tương thích giữa pháp luật Việt Nam với luật pháp quốc tế về quyền được xét xử
công bằng (phần 3). Tiếp theo chúng tôi xin giới thiệu Phần 4.
Bảo đảm các nguyên tắc nhằm bảo vệ quyền
con người trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân.
Trong bộ máy nhà nước ta, vị trí của Tòa án nhân dân được thể hiện tại Điều 102
của Hiến pháp: “Tòa án nhân dân là cơ
quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”.
Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất được Hiến pháp và pháp luật trao chức năng
xét xử. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Tòa án nhân dân nhân danh nhà nước đưa
ra các phán quyết để quyết định trực tiếp tới sinh mệnh, chính trị, kinh tế của
con người cụ thể do đó, đóng vai trò vô cùng quan trọng và trực tiếp trong việc
bảo đảm các quy định về quyền con người không bị xâm phạm.
Để việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý nói chung và bảo vệ quyền con người
nói riêng, trong hoạt động xét xử của mình, tòa án phải tuân theo những nguyên
tắc nhất định mà hầu hết được quy định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật. Tuy
nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà việc thực hiện các nguyên tắc đó chưa
thống nhất, có nguyên tắc không được thực hiện hay thực hiện không đúng dẫn đến
nhiều phiên tòa không đạt được mục đích.
Để quyền con người không bị xâm phạm trong hoạt động tư pháp mà trọng tâm là
hoạt động xét xử, Tòa án nhân dân cần bảo đảm thực hiện đúng các nguyên tắc sau:
1- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Đây là nguyên tắc bao trùm lên toàn bộ hoạt động của tòa án, mà tính thượng tôn
pháp luật là yếu tố tiên quyết là kim chỉ nam cho hoạt động xét xử của Thẩm phán
và Hội thẩm. Nguyên tắc này nhằm bảo đảm cho hoạt động xét xử chỉ tuân theo pháp
luật. Các quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
đã được quy định cụ thể trong từng điều luật. Thẩm phán và Hội thẩm không được
làm những việc mà luật không quy định. Điều này sẽ tránh được sự tùy tiện trong
xét xử dẫn đến việc xâm phạm các quyền con người.
2- Nguyên tắc xét xử công khai
Khoản 3 Điều 103 Hiến pháp quy định: “Tòa
án nhân dân xét xử công khai. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước,
thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật
đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín”.
Việc bảo đảm nguyên tắc xét xử công khai không chỉ thể hiện tính minh bạch
trong xét xử mà còn nhằm thực hiện sự giám sát của nhân dân trong hoạt
động xét xử của Tòa án, đặt Tòa án nhân dân và cơ quan tiến hành tố tụng dưới sự
giám sát của người dân. Đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán
và Hội thẩm.
3- Nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp quy định:
“Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ
quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”.
Trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 2013, có ý kiến nên quy định: nghiêm cấm
mọi can thiệp trái pháp luật vào hoạt
động xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm. Tuy nhiên ý kiến khác lại cho rằng, bất cứ
hành vi can thiệp nào vào hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm đều là trái
pháp luật, vì Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật,
nếu quy định nghiêm cấm mọi can thiệp
trái pháp luật thì có thể sẽ dẫn đến có những cách hiểu cho rằng có những
can thiệp đúng luật. Do đó, Hiến pháp
quy định: “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức,
cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”.
Việc bảm đảm tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử có ý
nghĩa quan trọng để quyền của con người được thực thi đúng pháp luật, tránh tình
trạng Thẩm phán, Hội thẩm bị tác động của “các thế lực” làm sai lệch vụ án.
4- Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
Xác định sự thật của vụ án là nguyên tắc xuyên suốt trong tất cả các giai đoạn
tố tụng. Nguyên tắc này được thể rõ nét trong Điều 31 Hiến pháp: Người buộc tội
được coi là không có tội cho đến khi được
chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật.
Để bảo vệ các quyền con người, việc chứng minh để xác định sự thật của vụ án là
yếu tố quyết định. Các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện pháp hợp
pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm
rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định không có tội.
5- Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Khoản 4 Điều 103 Hiến pháp quy định: “Tòa
án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số trừ trường hợp xét xử theo
thủ tục rút gọn”.
Khi xét xử các thành viên của Hội đồng xét xử ngang quyền với nhau và biểu quyết
theo đa số đối với từng vấn đề, người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý
kiến của mình bằng văn bản và được lưu trong hồ sơ vụ án.
Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy trí tuệ tập thể, đảm bảo hoạt
động xét xử được khách quan, toàn diện, tránh độc đoán, chủ quan duy ý chí xâm
phạm đến quyền được xét xử công bằng, ảnh hưởng tới quyền con người.
6- Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
Việc bảo đảm quyền được bào chữa ở tất cả các giai đoạn tố tụng đểu có vai trò
quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người. Thực tế hiện nay, vị thế của luật
sư trong tố tụng của nước ta vẫn còn thấp. Đặc biệt là mối quan hệ giữa Viện
Kiểm sát (bên buộc tội) với người bào chữa (bên gỡ tội) chưa bình đẳng do người
buộc tội có những “đặc quyền” đối với
người bị buộc tội (như người buộc tội là cơ quan nhà nước, nhân danh nhà nước,
là người có quyền hỏi và đề nghị tòa án kết tội). Trong khi đó, có Thẩm phán còn
có tâm lý coi Luật sư như rào cản, gây khó dễ cho Tòa án, không tạo điều kiện
cho luật sư thực hiện nhiệm vụ. Trong khi đó, các quy định về người bào chữa
trong Bộ luật TTHS không thống nhất, mẫu thuẫn hoặc chưa có văn bản hướng dẫn
dẫn đến chưa bảo đảm tốt quyền được bào chữa trong xét xử. Đây là một trong
những nguyên nhân nhiều tình tiết của vụ án không được làm rõ, xét xử oan sai,
xâm phạm tới quyền con người.
7- Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án
Quyền bình đẳng trước Tòa án là một phần của quyền bình đẳng trước pháp luật -
quyền đã được Hiến định. Để bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử thì
nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án rất quan trọng. Đó là Kiểm sát
viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của
họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra
chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án.
Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự
thật khách quan của vụ án.
Để quy định này được thực thi thì Hội đồng xét xử phải điều khiển phiên tòa theo
đúng quy định của pháp luật tố tụng, phải có thái độ khách quan, tạo điều kiện
để người tham gia phiên tòa thực hiện quyền bình đẳng của họ trước Tòa án. Điều
này sẽ khắc phục được các vi phạm quyền con người trong xét xử.
8- Giám đốc việc xét xử
Giám đốc xét xử là sự kiểm tra hoạt động xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa
án cấp dưới, thông qua đó mà uốn nắn, sửa chữa hoặc hủy bỏ những sai lầm, nhằm
bảo đảm cho Tòa án các cấp áp dụng đúng đắn và thống nhất pháp luật. Đây là hoạt
động quản lý, đồng thời nó cũng là quyền và nghĩa vụ tố tụng của Tòa án cấp trên
đối với Tòa án cấp dưới. Thực hiện tốt điều này sẽ giảm thiểu và ngăn chặn những
vi phạm về quyền con người trong xét xử.
Hiến pháp Việt Nam đã quy định trách nhiệm của Nhà nước ta là
“công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm
quyền con người, quyền công dân”. Tòa án nhân dân với vị thế là một trụ cột
trong bộ máy nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con
người thông qua hoạt động xét xử. Đây được coi là nhiệm vụ then chốt, hàng đầu
để xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.