Luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay (Kỳ 1)
Luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam
(Kỳ 1)
Nguyễn Lâm
Khoa Thẩm phán - Học viện Tòa án
Dẫn nhập
Tôn giáo, tín ngưỡng là hình thái ý thức xã hội. Theo quan điểm của Chủ nghĩa
duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, tôn giáo được con người sáng
tạo ngay từ buổi bình minh của nhân loại.
Sự tác động không nhỏ của tôn giáo tới đời sống xã hội chính là nhờ vào hai “hạt
nhân”: niềm tin và tính thiêng. Hai yếu tố này tập trung thành sức mạnh, đi sâu
vào tâm khảm của các tín đồ và chi phối một cách đáng kể lối sống, hành vi của
con người, trong đó đáng chú ý là vai trò định hướng đạo đức xã hội của tôn giáo.
Vì vậy, tôn giáo đã và sẽ còn tiếp tục tồn tại trong nền văn hóa, văn minh nhân
loại.
Việt Nam là một đất nước đa tộc người, đa tôn giáo. Tôn giáo ở Việt Nam có tôn
giáo ngoại nhập, tôn giáo nội sinh. Tôn giáo là một trong những yếu tố góp phần
làm phong phú bản sắc văn hóa Việt Nam, xây dựng chính quyền Nhà nước.
Trên phương diện quan hệ nhà nước - tôn giáo, bắt đầu từ giai đoạn lịch sử Trung
đại Việt Nam, giới nghiên cứu khoa học xã hội đã chứng minh vai trò của tôn giáo
trong bảo vệ nền độc lập, tự chủ và xây dựng nền văn hóa dân tộc; các chức sắc
tôn giáo và nho sĩ đã tham gia tích cực vào “hộ quốc, an dân”, “tề gia - trị
quốc - bình thiên hạ”; nhiều trong số họ đã trở thành biểu tượng cho cốt cách,
tâm hồn và khí phách Việt Nam, như Vạn Hạnh (938 - 1025), Khuông Việt (933 -
1011), Trần Nhân Tông (1258 - 1308),...(của Phật giáo); Nguyễn Trãi (1380 -
1442),
Nguyễn Bỉnh Khiêm
(1491 - 1585),
Phạm Khiêm Ích
(1679 - 1740), Lê Quý Đôn (1726 - 1784),... ( của Nho giáo). Ngược lại, tôn giáo
cũng đã từng được các triều đại Việt Nam bảo trợ để phát triển như thời Lý -
Trần với Phật giáo, Thời Lê, Mạc với Nho giáo. Có thể nói, tôn giáo, thông qua
hai “đại biểu” là Phật giáo và Nho giáo, đã góp một phần làm nên một đất nước
Việt Nam hùng cường, tự chủ, nhân nghĩa - yêu hòa bình.
Bước sang thời kỳ lịch sử hiện đại, tôn giáo tiếp tục có những đóng góp không
nhỏ cho quá trình giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; nhiều tín đồ tôn giáo đã “cởi
áo cà sa khoác chiến bào”, “sống phúc âm giữa lòng dân tộc” - tham gia vào khối
đại đoàn kết toàn dân, đấu tranh với kẻ thù xâm lược để có được nền độc lập như
ngày hôm nay.
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp không nhỏ, tôn giáo cũng tiềm ẩn nhiều nguy
cơ làm bất ổn định xã hội một khi niềm tin tôn giáo bị chi phối một cách thái
quá. Hiện nay, vấn đề Hồi giáo, vấn đề truyền đạo trái phép và các vụ án liên
quan đến tôn giáo đang đặt ra nhiều nghi ngại không chỉ cho quản lý Nhà nước mà
cho toàn xã hội.
Xác định tầm quan trọng của tôn giáo trong đời sống chính trị, xã hội, coi tôn
giáo như một “nguồn lực” quan trọng của quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển
đất nước, trên quan điểm “lịch sử cụ thể” của Chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay từ
ngày đầu giành chính quyền Cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm, chú ý tới
vấn đề này bằng các văn bản quy phạm pháp luật. Đến khoảng nửa cuối thế kỷ XX,
đặc biệt là từ năm 1990 khi
Nghị quyết số 24/ NQ-TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị Khóa VI về “Tăng cường
công tác tôn giáo trong tình hình mới” ban hành và đưa vào đời sống xã hội - vấn
đề luật pháp về tôn giáo dần được ổn định và thể hiện tính nhất quán, nhằm phát
huy những ưu điểm của tôn giáo đồng thời có hướng giải quyết những vấn đề nhạy
cảm liên quan tới vấn đề này.
Như vậy, tôn giáo đã trở thành đối tượng nghiên cứu được quan tâm trong mọi thời
kỳ cách mạng Việt Nam và trên nhiều phương diện, trong đó có phương diện quản lý
nhà nước cũng như luật pháp về vấn đề này.
Pháp luật Việt Nam nói chung đã và đang nghiên cứu, hoàn thiện những vấn đề liên
quan tới luật pháp về tôn giáo. Là một lĩnh vực chuyên thực hiện công tác tư
pháp, người làm Tòa án rất cần thiết phải có sự hiểu biết một cách khái quát
những vấn đề lý luận chung về tôn giáo để góp phần giải quyết các vụ việc liên
quan tới tôn giáo như truyền đạo trái phép, quyền sở hữu cơ sở thờ tự và công
tác xét xử cho những đối tượng là người theo tôn giáo một cách hiệu quả. Trên
tinh thần đó, bài viết này sẽ hướng tới giải quyết
3 vấn đề căn bản: một là đưa ra cái nhìn
tổng quan về tôn giáo và diện mạo tôn giáo ở Việt Nam; hai là chỉ ra lộ trình và
một số đặc điểm căn bản của quá trình xây dựng luật pháp về tôn giáo ở nước ta
từ năm 1945, đặc biệt là giai đoạn nửa cuối thế kỷ XX đến nay; và ba là nêu
những vấn đề đặt ra trong việc nghiên cứu liên ngành tôn giáo, luật pháp tôn
giáo trong đào tạo ngành Tòa án ở nước ta hiện nay.
1. Lý luận chung về tôn giáo và quan hệ nhà nước - tôn giáo ở Việt Nam
1.1. Tôn giáo và bản chất của tôn giáo
Tôn giáo là gì và giữa tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau như thế nào?
Đầu tiên, tôn giáo phải được khẳng định là một hình thái ý thức xã hội. Thuộc
thượng tầng kiến trúc, tôn giáo chi phối không nhỏ đời sống tinh thần, tác động
tới cả quá trình tạo ra của cải vật chất và văn minh con người. Điều này đã được
chứng minh qua các dấu tích tôn giáo cổ xưa còn để lại trên các loại hình văn
hóa vật thể (khảo cổ học về nhà ở, trang phục, năng mộ, v.v…) và phi vật thể.
Tôn giáo có một quá trình “di chuyển” từ các hiện tượng tín ngưỡng dân gian
truyền thống, đi từ các hiện tượng đa thần, bách thần đến độc thần. Đây là một
quy luật phổ quát ở cả tôn giáo giữa các nền văn minh phương Đông và phương Tây.
Một câu hỏi đặt ra là: giữa tôn giáo và tín ngưỡng có những đặc điểm khác và
giống nhau như thế nào?
Trước hết, như trên đã nói, bất kỳ một tôn giáo nào cũng được hình thành và phát
triển trên cơ sở kế thừa hệ thống tín ngưỡng, các triết lý dân gian truyền thống;
nhiều trường hợp là sự tiếp nhận cả các tôn giáo trước đó. Tuy nhiên, sự ra đời
của một tôn giáo luôn gắn với vai trò của một nhân vật “xuất chúng” trong lịch
sử của một tộc người, cộng đồng cụ thể. Nói cách cụ thể hơn, tôn giáo là một
dạng thức được bác học hóa, “chưng cất” từ các hiện tượng dân gian dưới một Giáo
chủ có trí tuệ và những khả năng đặc biệt.
Khi nói đến tôn giáo là chúng ta nói đến sự hội đủ các yếu tố như:
Giáo chủ,
Giáo lý - Giáo luật cũng như hệ thống
kinh sách; có hệ thống Chức sắc tôn giáo,
Cơ sở thờ tự, và có
Tín đồ. Điều này có thể thấy rất rõ
khi nhìn vào các tôn giáo lớn trên thế
giới như Ki-tô giáo (bao gồm: Công giáo, Tin lành, Anh giáo và Chính thống giáo),
Phật giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo (Tân Bà-la-môn giáo), v.v... Ở đây, Chúa Jesu
Ki-tô được coi là giáo chủ của Công giáo; kinh Tân ước, Cựu ước là giáo lý -
kinh sách; hệ thống nhà thờ - thánh đường là cơ sở thờ tự; Giáo hoàng, Giám mục,
Linh mục, Phó tế là chức sắc tôn giáo cùng với các giáo dân tạo nên diện mạo của
tôn giáo này. Tương tự, Đức Thích ca-Mâu-ni được coi là giáo chủ; Tam tạng kinh
điển (Kinh - Luật - Luận) được coi là giáo lý - kinh sách; Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni (
Tăng - Ni: Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức; Ni trưởng, Ni sư, Sư cô) là chức sắc;
Chùa, Am, Mật thất là cơ sở thờ tự - tu hành; các Phật tử là các tín đồ tạo nên
diện mạo của Phật giáo. Vân vân.
Như vậy, tôn giáo là một loại hình tư tưởng - tâm linh được định hình và quy
chuẩn hóa các yếu tố thờ tự và lễ nghi thông qua con người, đồng thời được bồi
đắp, phát triển không ngừng theo không gian và thời gian, tạo nên một sự thống
nhất trong đa dạng cho một hình thái ý thức xã hội đặc thù này.
Tôn giáo thể hiện rõ năng lực “cứu thế” của mình bằng hệ thống lý luận bác học,
có phương pháp và có những chuẩn mực nhất định.
Khác với tôn giáo, hệ thống tín ngưỡng luôn gắn liền với các sinh hoạt
văn hóa mang tính dân gian. Nói cách khác, tín ngưỡng là những loại hình
văn hóa tư tưởng gắn bó chặt chẽ với văn hóa của một vùng miền, tộc người nhất
định. Vì vậy, đặc điểm nổi bật của tín ngưỡng là tính chất hư cấu, phiếm thần,
đa thần, đặc biệt là mọi hiện tượng chỉ dừng lại ở sự sơ khai, giản đơn. Đặc
điểm này phổ biến ở hầu hết các châu lục, quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn
thế giới. Những nghi lễ dân gian gắn liền với sinh hoạt văn hóa cộng động, lao
động; các câu chuyện huyền thoại gắn liền với nhiều tục lệ địa phương đã tạo
nên đời sống tín ngưỡng vô cùng phong
phú và độc đáo cho nhân loại. Chính đặc điểm và sự phong phú này mà người ta đã
chia các hiện tượng tín ngưỡng ra thành nhiều loại hình như: Tô-tem giáo, Shaman
giáo, Linh hồn giáo, v.v... Ở Việt Nam, chúng ta thấy rất rõ các hiện tượng tôn
giáo như vậy, trong đó đáng chú ý là các hiện tượng thờ Tam phủ - Tứ phủ, thờ
cúng Tổ tiên, thờ Thần hoàng làng (người Việt); thờ
Thần cây, Thần sông - núi; hay các hiện tượng ở các tộc người thiểu số.
Tuy nhiên, ở tôn giáo và tín ngưỡng phải có điểm chung, có mối quan hệ hữu cơ
với nhau. Những điểm chung căn bản, trước hết đó là tồn tại hai hạt nhân:
niềm tin và
tính thiêng. Đây là hai “lõi” căn bản
nhất không thể thiếu trong tôn giáo và tín ngưỡng. Cụ thể, trong chúng không thể
thiếu niềm tin, càng không thể thiếu cái “thiêng”. Hai yếu tố này chính là sức
mạnh của tôn giáo!
Vậy, bản chất của tôn giáo (và tín
ngưỡng) là gì? Chúng tôi sẽ khảo cứu quan điểm khác nhau, từ các nhà kinh điển
của Chủ nghĩa Max cho đến các nhà nghiên cứu xã hội học tôn giáo để bước đầu trả
lời câu hỏi này.
Trước hết, theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo (và tín ngưỡng) là
hình thái ý thức xã hội, được con người ta sáng tạo trong lịch sử. Tôn giáo ra
đời như sự phản ánh những bất công trong xã hội, là thứ “gây mê” có chức năng
đền bù hư ảo và phản ánh một cách nhanh chóng được con người phản ánh ở các
trình độ nhận thức khác nhau. Trong tác phẩm Chống Đuy-rinh, Ăng-ghen viết:
“Nhưng tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc
con người- của những lực lược ở bên
ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực
lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”.
Như vậy, tôn giáo không phải “trên trời rơi xuống” mà do con người sáng tạo ngay
trên mặt đất này.
“Con
người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người”
như Mác và Ăngghen đã tuyên bố. Nguyên nhân sâu xa của sự xuất hiện tôn giáo bắt
nguồn từ chính các mâu thuẫn xã hội. C. Mác đã nghiên cứu và đưa ra nhận định: “Sự
nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự
phản kháng chống lại sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của
chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như
nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần”.
Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.
Cần phải nói thêm rằng, ngay từ giai đoạn đầu nghiên cứu xã hội, Mác và Ăngghen
đã nhận thấy nguồn gốc và bản chất của tôn giáo. Trên tinh thần đó, các ông đề
xuất:
“chúng
ta không biến những vấn đề thế tục thành thần học. Chúng ta biến những vấn đề
thần học thành vấn đề thế tục”.
Kế thừa quan điểm duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, đồng thời nhận thấy vai
trò quan trọng của tôn giáo trong quá trình thực hiện cách mạng, Lênin cho rằng:
“Mỗi người đều phải được hoàn toàn tự do không những muốn theo tôn giáo nào thì
theo mà còn phải có quyền truyền bá bất kỳ tôn giáo nào hoặc thay đổi tôn giáo”.
Như vậy, tôn giáo được các nhà kinh điển tiêu biểu của Chủ nghĩa Mác nhìn nhận
như là một sản phẩm của lịch sử, do con người sáng tạo và là quy luật tất yếu
của một xã hội nhiều mâu thuẫn. Nói cách khác, tôn giáo là sự phản ánh những mâu
thuẫn nội tại giữa con người với con người, giữa con người với thế giới thực tại;
là sự phản ánh của những giai đoạn nhận thức chưa tìm được lối thoát. Vậy, các
quan điểm, trường phái khác về tôn giáo như thế nào? Tác giả khảo sát quan điểm
của một nhà xã hội học nổi tiếng người Đức -
Max Weber.
Trên phương diện xã hội học tôn giáo,
Max Weber cho rằng tôn giáo là “một hoạt động tập thể đặc biệt” và ông đưa ra
hai khái niệm quan trọng:
một là,
“ngay cả khi vượt qua những lời dẫn đến dạng này hoặc dạng khác ở bên ngoài, tôn
giáo có liên quan ở dưới đây, cách thức để tự suy giảm trên quả đất này”;
hai là, “những
hành vi mong muốn đến từ tôn giáo hoặc ma thuật là những hành vi, ít tương đối,
lý tính. Một trong những đóng
góp của Weber sẽ chỉ ra rằng có những dạng khác nhau của lý tính
-
lý tính công cụ và lý tính tinh thần và rằng ngay cả việc hợp lý hóa của tôn
giáo đóng vai trò chính trong sự xuất hiện hiện đại hóa.
Ở đây, niềm tin tôn giáo được
Max Weber
nhìn nhận ở dạng nhận thức cao - lý tính, và ông cho rằng, trong quá trình “lao
động tập thể” con người đã biết sử dụng đến tôn giáo như một nguồn lực để tiến
đến những xã hội văn minh, hiện đại hơn. Và như thế, tôn giáo là một sản phẩm tư
duy đặc biệt, là động lực của sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, ông cũng rơi vào
tình trạng chung khi nghiên cứu về tôn giáo khi đứng trên lập trường của chủ
nghĩa duy tâm và cho rằng, tôn giáo là một dạng thức của lý tính tinh thần, tin
vào một “lực lượng” đặc biệt nào bên ngoài chi phối sự sáng tạo vào tự nhiên,
con người.
1.2. Đặc điểm, diện mạo tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
1.2.1. Đặc điểm chung
Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, đa tôn giáo. Tôn giáo ở Việt Nam có tôn
giáo ngoại nhập và tôn giáo nội sinh, bên cạnh đó là đời sống văn hóa tín ngưỡng
truyền thống khá đậm đặc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam từ Bắc vào Nam.
Trong các tôn giáo ngoại nhập, Nhập giáo, Nho giáo và Đạo giáo là ba tôn giáo
lớn được truyền và nước ta sớm nhất. Theo chính sử ghi chép, cả ba tôn giáo này
đều vào nước ta từ khoảng từ thế kỷ I đến thế kỷ II SCN.
Riêng Phật giáo, theo một số nguồn tư liệu dân gian khác, nhiều khả năng Phật
giáo đến Việt Nam từ khoảng thế kỷ III TCN.
Với những đặc điểm tương đồng (“Tam giáo đồng nguyên”: cùng gốc) nên cả Nho,
Phật, Đạo giáo đều có nhiều điểm phù hợp với văn hóa Việt Nam, có những đóng góp
đáng chú ý cho văn hóa và lịch sử nước nhà không chỉ ở thời Bắc thuộc mà đặc
biệt kẻ từ khi nước ta độc lập tự chủ (938).
Nhiều thập kỷ qua, một số học giả cho rằng, ba tôn giáo này mặc dù là tôn giáo
ngoại nhập, song đã cắm rễ và sinh tồn hàng thiên niên kỷ trên đất nước ta nên
đã trở thành một phần của văn hóa truyền thống Việt Nam, tôn giáo truyền thống
của dân tộc. Nói cách khác, Nho, Phật, Đạo giáo khi vào Việt Nam, trải qua quá
trình “khúc xạ” giữa văn hóa tôn giáo nội tại và văn hóa truyền thống Việt đã
trở thành tôn giáo truyền thống của dân tộc.
Cần phải giải thích rằng, chữ “truyền thống” ở đây không nên hiểu tương đồng với
khái niệm “bản địa”, càng không nên chỉ một loại hình văn hóa được hoàn toàn
sinh ra và phát triển thuần túy trên đất nước ta; mà phải hiểu “truyền thống” là
một quá trình “khúc xạ”, tiếp biến - mà trải qua một thời kỳ dài, người dân sở
tại chấp nhận, biến đổi, bồi đắp những yếu tố mới vào để
biến cái ngoại nhập thành cái của mình,
phù hợp với sinh hoạt văn hóa - xã hội của chính họ, và dần trở thành một bộ
phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa của chính cộng đồng tộc người đó.
Hơn nữa, Phật giáo khi vào Việt Nam, là một tôn giáo còn đang trong quá trình
phát triển; nhiều lớp văn hóa Phật giáo Việt Nam đã thể hiện yếu tố bản địa ở
trong nó, mà Thiền phái Trúc lâm Yên Tử, hiện tượng thờ Tứ pháp, Thạch Quang
Phật,... là những minh chứng sống động khẳng định tính truyền thống, lập trường
tên gọi là “Phật giáo Việt Nam”.
Với Nho giáo và Đạo giáo cũng tương tự như vậy. Cũng là Nho giáo, nhưng ở Nho
giáo Nguyễn Trãi khác với Nho giáo khi truyền trực tiếp từ Trung Quốc sang. Hay
trong Đạo giáo, giữa Đạo giáo trong đạo Tam phủ - Tứ phủ Việt Nam khác hắn với
các hiện tượng đạo giáo khi mới du nhập từ Trung Quốc vào. Vấn đề ở đây là, văn
hóa phải được coi là một quá trình phát sinh, kế thừa, bồi đắp, lan tỏa và phát
triển liên tục mà các lớp văn hóa bồi đắp sau chính là những nhân tố giúp cho
mỗi loại hình văn hóa đó có thể sinh tồn và phát triển liên tục trong đời sống
văn hóa tộc người, văn hóa vùng, văn hóa khu vực. Và như vậy, khái niệm “chủ
nhân” văn hóa ở đây cũng phải được hiểu theo một hướng động như vậy.
Trở lại vấn đề chính, khác với các tôn giáo trên, khoảng nửa đầu thế kỷ XVI trở
về sau, ở Việt Nam tiếp tục đón nhận hai tôn giáo đến từ phương Tây là Công giáo
và Tin lành. Đây là hai tôn giáo cùng gốc (Ki-tô giáo) những có một vài đặc điểm
khác biệt do sự phát triển của lịch sử và quá trình biến đổi.
Công giáo vào Việt Nam năm 1533, là một tôn giáo có những đặc điểm, tính chất và
quá trình truyền giáo khác biệt so với các tôn giáo phương Đông.
Đây là một trong những lý do căn bản nhất khiến khi vào Việt Nam, Công giáo đã
chịu không ít áp lực trong quá trình truyền đạo, nhất là vấn đề không chấp nhận
để giáo dân thờ cúng tổ tiên. Tuy vậy, khoảng nửa cuối thế kỷ XX, với chính sách
hội nhập văn hóa từ giáo triều Rôma (sau Công đồng Vatican II: 1962 - 1965), Hội
đồng Giám mục Việt Nam đã tiếp thu một cách căn bản tinh thần này và ra Thư
chung 1980 với đường hướng “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc
của đồng bào”. Và cũng từ đây, nhiều yếu tố văn hóa truyền thống Việt Nam được
đưa vào vận dụng trong các sinh hoạt tôn giáo của người Công giáo; các nghi thức
tang ma, cưới hỏi, các phong trào văn hóa, văn nghệ cũng được ghi nhận là có
tiếp thu những tinh hoa từ truyền thống dân tộc.
Cần phải nói thêm rằng, Công giáo cũng là một tôn giáo có những đóng góp đáng
chú ý cho văn hóa dân tộc. Đó là việc một số giáo sĩ dòng Tên đã tham gia phát
minh ra chữ quốc ngữ hiện đại theo hệ La-tinh. Đây là một đặc điểm không thể
không nói khi bàn những vấn đề chung về tôn giáo ở Việt Nam.
Cũng như Công giáo, Tin Lành gặp phải không ít trở ngại khi vào truyền giáo ở
nước ta. Năm 1911, Tin Lành vào Việt Nam nhưng mới thực sự phát triển từ những
thập niên cuối thế kỷ XX đến nay. Một trong những lý do căn bản khiến tôn giáo
này phát triển muộn là vì, khi truyền vào Việt Nam, không những Tinh Lành phủ
nhận nhiều yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc mà nhiều phần tử là chức sắc và
tín đồ Tin Lành đã có hành vi phản động, đi ngược lại với lợi ít quốc gia, dân
tộc. Những hiện tượng này còn biểu hiện một cách rõ nét trong các vụ việc lớn
xảy ra ở Tây Nguyên (2004) với danh nghĩa là Tin Lành Đề-ga và Tây Bắc (khoảng
cuối thập kỷ 90) với danh nghĩa là Tin Lành Vàng-chứ, Tin Lành Sìn-hồ, v.v...
Những phần tử này chủ yếu lôi kéo những giáo dân chủ yếu là người dân tộc thiểu
số, kích động họ chống lại chính quyền địa phương.
Như vậy, tôn giáo ở Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa truyền thống dân
tộc. Điều đáng nói là, các tôn giáo đến Việt Nam từ sớm đã có những đóng góp
không nhỏ hình thành nên diện mạo văn hóa Việt Nam phong phú và đa sắc thái. Các
tôn giáo đến sau, như Công giáo, cũng đã góp phần hình thành nên chữ quốc ngữ
Việt Nam, một yếu tố rất quan trọng của văn hóa hiện đại ở nước ta.
Với những đặc thù riêng, khi tổng hợp về những vấn đề chung trong tôn giáo Việt
Nam, Đặng Nghiêm Vạn
và tập thể các tác giả Viện Nghiên cứu Tôn giáo đưa ra 7 đặc trưng của tôn giáo
Việt Nam tộc
đó là: Tôn giáo Việt Nam trước, sau vẫn giữ được bản sắc dân tộc; xu thế hòa
nhập mà không hợp nhất, mang tính đa/phiếm thần; khó phân biệt được cái thiêng
và cái tục; mang đậm tính chất dân tộc, vì dân vì nước, đặc biệt là đạo thờ Tổ
tiên; vai trò phụ nữ trong đời sống tôn giáo thể hiện rõ rệt; đời sống tôn giáo
vận hành theo lối tiểu nông; đời sống tôn giáo thay đổi cùng với hoàn cảnh chính
trị của đất nước.
Các tôn giáo ở Việt Nam tiếp tục có những đóng góp cho sự phát triển văn hóa, xã
hội. Những nghiên cứu gần đây đã khẳng định tôn giáo là một “nguồn lực”, và như
vậy, tôn trọng tự do tôn giáo và nghiên cứu để ban hành những vấn đề liên quan
để bảo vệ, định hướng cho tôn giáo phát triển gắn với lợi ích quốc gia dân tộc
là một trong những vấn đề then chốt hôm nay và cả mai sau.
1.2.2. Các tôn giáo cụ thể ở Việt Nam
Như trên đã trình bày, nước ta có tôn giáo ngoại nhập và tôn giáo nội sinh. Các
tôn giáo được người dân đón nhận và phát triển.
Hiện nay, nước ta có khoảng 13 tôn giáo với 38 tổ chức được Nhà nước công nhận
với tư cách pháp nhân. Tại sao lại có số lượng tôn giáo và các tổ chức được công
nhận với con số chênh lệch lớn như vậy? Trước hết, trên thực tế, nhiều tôn giáo,
trong quá trình phát triển đã nảy sinh nhiều hệ phái khác nhau. Các hệ phái này,
về bản chất là có những quy chuẩn căn bản tương tự nhau nhưng cũng có một số
khía cạnh riêng mà người ta không chấp nhận ở nhau. Chính vì thế mà nhiều trong
số các tôn giáo đã tách ra để hoạt động riêng lẻ với tổ chức mang những quy định
riêng. Ví dụ, ở Ki-tô giáo, từ thế kỷ XI trở về sau người ta đã tách ra thành
bốn tôn giáo là Công giáo, Tin lành, Anh giáo và Chính Thống giáo. Và trong một
số tôn giáo này lại tiếp tục có sự phân chia tiếp. Cụ thể, ở Việt Nam hiện nay,
Tin Lành có hàng chục hệ phái đã và đang hoạt động riêng như: Tin Lành Trưởng
Lão, Tin Lành Ngũ tuần, Tin Lành Vàng Chứ, Tin Lành Đề-ga; Hồi giáo có Hồi giáo
Ba-ni ở miền Trung, tập trung nhiều nhất ở Ninh Thuận, Bình Thuận và Hồi giáo
Islam ở Đông Nam bộ và một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long; v.v…(Các tôn
giáo và một số đặc điểm liên quan sẽ trình bày ở bảng dưới đây).
Liên quan trực tiếp tới các tôn giáo trên là các cơ sở thờ từ và chức sắc, tín
đồ. Theo con số thống kê
nghiên cứu năm 2011, cả nước ta có khoảng 86. 740 chức sắc tôn giáo, 23. 845 cơ
sở thờ tự và khoảng 25.008.972 tín đồ. Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể vấn đề này
qua bảng biểu dưới đây.
Bảng 1: Thống kê số lượng tôn giáo, chức
sắc, tín đồ
và các cơ sở thờ tự các tôn giáo ở Việt Nam (tính đến 2011)
|
TT
|
Tôn giáo
|
Chức sắc
|
Cơ sở thờ tự
|
Tín đồ
|
|
1
|
Phật giáo
|
42.000
|
15.500
|
10.000.000
|
|
2
|
Công giáo
|
20.000
|
6.000
|
6.100.000
|
|
3
|
Tin lành
|
3.000
|
500
|
1.500.000
|
|
4
|
Cao Đài
|
12.722
|
1.331
|
2.471.000
|
|
5
|
Hòa Hảo
|
2.597
|
39
|
1.260.000
|
|
6
|
Hồi giáo
|
700
|
77
|
72.000
|
|
7
|
Ba’hai
|
|
|
7.000
|
|
8
|
Tứ Ân Hiếu Nghĩa
|
409
|
78
|
70.000
|
|
9
|
Bửu Sơn Kỳ Hương
|
|
19
|
15.000
|
|
10
|
Tịnh Độ Cư sĩ Phật hội
|
4.800
|
206
|
1.500.000
|
|
11
|
Phật Đương Minh Sư Đạo
|
300
|
54
|
11.000
|
|
12
|
Minh Lý Tam Đạo Tông Miếu
|
72
|
4
|
1.058
|
|
13
|
Bà La Môn
|
158
|
37
|
54.000
|
|
14
|
Các Tôn giáo khác
|
|
|
2.000.000
|
|
|
Tổng
|
86.740
|
23.845
|
25.008.972
|
Nguồn: Viện Nghiên cứu
Tôn giáo, Những vấn đề cơ bản về Tôn giáo
Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, Báo cáo Tổng hợp đề tài nghiên cứu cấp Bộ
(đã nghiệm thu), tr. 55.
Như vậy, tôn giáo ở Việt Nam đa dạng về loại hình và phong phú về sắc thái văn
hóa. Tôn giáo ở Việt Nam tiếp thu cả yếu tố ngoại nhập nhưng tinh lọc cả những
yếu tố tinh hoa trong văn hóa truyền thống, tạo cho nền văn hóa Việt Nam đa dạng
và phong phú hơn. Với gần ¼ dân số theo tôn giáo cũng đã và đang là tín hiệu
đáng mừng góp phần xây dựng một xã hội dân sự đạo đức và giàu nhân văn hơn.
1.2.3. Một số loại hình tín ngưỡng phổ biến ở Việt Nam
Cùng với các tôn giáo trên, ở Việt Nam có một hệ thống tín ngưỡng dân gian đậm
đặc và phong phú. Tín ngưỡng ở Việt Nam cũng có đầy đủ các thể loại như Shaman
giáo, Tôtem giáo, Linh hồn giáo,…Trong bài viết này, vì liên quan đến vấn đề
luật pháp tôn giáo nên chúng tôi chỉ tập trung vào một số loại tín ngưỡng tiêu
biểu là: tín ngưỡng thờ Tổ tiên, thờ Thành hoàng làng và tín ngưỡng Thờ Tam phủ
- Tứ phủ.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là loại tín ngưỡng phố biến ở hầu hết các tộc người
ở Việt Nam. Đây là một sinh hoạt văn hóa tâm linh mang nhiều yếu tố tích cực. Nó
không chỉ nêu cao đạo lý “uống nước nhớ nguồn” mà còn kêu gọi khối đại đoàn kết
toàn dân, là cơ sở để bồi đắp tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước. Thờ cúng tổ
tiên, vì thế, đối với người Việt nói riêng, nhiều tộc người khác ở Việt Nam nói
chung, được coi là một hằng số bất biến, không có tôn giáo nào có thể thay thế,
từ bỏ được.
Biểu hiện của thờ cúng tổ tiên phong phú trên cả không gian và thời gian: từ
trong tang ma, cưới-hỏi cho đến những ngày lễ Tết truyền thống của cộng đồng.
Nhưng khi nói tới tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thì người ta thường nói tới những
nghi lễ điển hình. Đó là những ngày giỗ tổ tiên, có thể chia làm 4 cấp độ: giỗ
ông, bà, cha, mẹ ở các gia đình (gia tiên); giỗ Tổ họ ở các Từ đường của mỗi
dòng họ; giỗ Tổ nghề hoặc Thần hoàng làng ở các làng; và ngày Quốc giỗ - Thờ
cúng Vua Hùng ở cấp quốc gia (10/03 âm lịch).
Bên cạnh tín ngưỡng thờ tổ tiên, có một loại tín ngương phổ biến với tần xuất tổ
chức lớn trong một năm, đó là tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng. Tín ngưỡng thờ
Thành hoàng, hay thần hoàng làng là loại tín ngưỡng gắn với tục thờ những người
có công với đất nước, có công xây dựng, mở mang làng xóm và cả những người có
công truyền dạy nhân dân làm nghề; v.v…Trong tín ngưỡng thờ tổ tiên, người ta
cũng xếp cả loại tín ngưỡng này vào, xét về ý nghĩa nguồn gốc và ý nghĩa thờ tổ.
Tuy nhiên, về bản chất, tín ngưỡng thành hoàng làng là tín ngưỡng bản địa và có
những độc lập tương đối trên cả phương diện hình thức biểu hiện và sinh hoạt thờ
cúng.
Cơ sở thờ thần hoàng làng trải qua hai bước di chuyển.
Thời kỳ đầu phần lớn các vị thần được thờ ở nghè, số ít được thờ ở các miếu. Về
sau này, cùng với sự phát triển của hệ tư tưởng Nho giáo, người ta đã biến ngôi
đình làng từ chỗ là nơi để các chức sắc trong thôn ngồi họp bàn chuyện của làng
thành nơi có chức năng kép, trong đó có việc thờ cúng và tế lễ các vị thần hoàng
làng. Đặc điểm nổi bật, hội tụ nhiều yếu tố văn hóa, tín ngưỡng truyền thống của
địa phương trong nghi thức thờ thần hoàng ở Việt Nam là các ngày Giỗ, ngày gắn
với lý do thờ cúng vị thần này. Ngày nay,đây là nguyên nhân căn bản để tín
ngưỡng này “nở rộ”, phát triển một cách mạnh mẽ với đủ sắc diện khác nhau.
Loạn hình tín ngưỡng phổ biến thứ ba là tín ngưỡng thờ Tam phủ - Tứ phủ, một
loại hình bắt nguồn từ tục
thờ Mẫu.
Nó
không chỉ là một trong những lễ nghi phổ biến ở các nước nông nghiệp như Việt Nam mà
còn diễn ra ở nhiều nước châu Á khác. Riêng ở Việt Nam,
thờ Mẫu đã có
3
bước di chuyển khá phức tạp nhưng đồng thời chứa đựng nhiều yếu tố
độc đáo,
mang đặc trưng riêng.
Thời
kỳ đầu là thờ Mẫu; sau đó,
giai đoạn thứ hai,
với sự du nhập của Đạo giáo, hiện tượng này đã nâng lên một hình thức mới đó là
tín ngưỡng Tam phủ; giai đoạn thứ ba, cũng được coi là đỉnh cao của bước di
chuyển trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng châu thổ Bắc Bộ là thờ Mẫu
trong quan hệ hỗn dung với các đấng bậc giới thần khác.
Với bước di chuyển trên đây, cơ sở thờ tự của tín Tam phủ - Tứ phủ cũng khá đa
dạng. Có thể khái quát chung thành hai loại: thứ
nhất là thờ Mẫu trong các am miếu chuyên biệt; và thứ hai là thờ Mẫu theo hình
thức hỗn dung. Trường hợp thứ nhất phổ biến trong văn hóa tín ngưỡng của người
Việt, người Chăm vùng Trung và Nam Trung bộ điển hình là thờ nữ thần Po Nagar
trong văn hóa Chăm. Trường hợp thứ hai là thờ nữ thần,
hỗn dung các vị thần khác với
Mẫu trong văn hóa tín ngưỡng ở châu thổ Bắc Bộ. Tuy vậy, hình tượng Mẫu vẫn là
điểm nhấn và có vị trí quan trọng trong hình thức tín ngưỡng này, đặc biệt là
quan hệ các Mẫu Thượng Thiên, Thượng Ngàn, Mẫu Thoải trong quan hệ tầng bậc với
Mẫu Liễu Hạnh, bên cạnh đó là sự phối thờ: Tam Bảo: Chư Phật, Bồ Tát; các vị vua
cha như Ngọc Hoàng Đại Đế, Bát Hải,Tam Toà Thánh Mẫu, Quan Lớn (Ngũ vị tôn Quan),
Thánh Chầu (Thập nhị Chầu Bà), Thánh Hoàng (Thập vị thánh Hoàng), Thánh Cô (Thập
nhị Tiên Cô), Thánh Cậu (Thập nhị Thánh Cậu), v.v...
Có thể nhận xét rằng, hệ thống tín ngưỡng ở Việt Nam mang đậm dấu ấn bản địa, có
ảnh hưởng một số lớp văn hóa ngoại nhập nhưng không chiếm tỉ lệ lớn. Các loại
tín ngưỡng ở Việt Nam góp phần vào quá trình tạo và bảo vệ bản sắc văn hóa
truyền thống Việt Nam. Cũng như loại hình tôn giáo, tín ngưỡng cũng là đối tượng
được Nhà nước quan tâm trong lịch sử.
Như vậy, với việc giới thiệu và phân tích sơ lược diện mạo tôn giáo ở Việt Nam
trên đây cho thấy tôn giáo, tín ngưỡng và văn hóa - xã hội có mối quan hệ hữu cơ
không tách rời nhau. Tôn giáo nói riêng và văn hóa nói chung là động lực thúc
đẩy các yếu tố khác phát triển bền vững. Vậy, một câu hỏi đặt ra là, với tầm
quan trọng như thế, quan hệ giữa tôn giáo và Nhà nước diễn ra như thế nào? Chúng
tôi sẽ nêu một vài nét riêng về quan
hệ này qua tiểu mục dưới đây.
1.3. Mối quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo ở Việt Nam
Mối quan hệ nhà nước - tôn giáo cũng như vấn đề liên quan đến luật pháp về vấn
đề này đã có một quá trình lâu dài trong lịch sử Việt Nam. Có thể khẳng định,
ngay từ thời Đinh - Lê - Lý - Trần và các triều đại sau, vấn đề này đã được các
triểu đình quan tâm thực hiện. Trong Việt Nam Phật giáo sử lược, Nguyễn Lang
nhận xét:
“Thiền
phái Vô Ngôn Thông có Thiền sư Ngô Chân Lưu cũng đóng góp nhiều trong lĩnh vực
chính trị. Danh hiệu Khuông Việt Đại
sư mà vua Đinh Tiên Hoàng ban cho ông đủ nói lên tầm quan trọng của công
tác ông. Khuông Việt có nghĩa là “giúp nước Việt”.
Các thiền sư lỗi lạc, xuất chúng đã có công rất lớn trong phò vua, giúp nước;
các danh Nho đã góp công rất lớn trong xây dựng, mở mang nền văn hóa, học vấn
cho dân tộc. Có thể khái quát quan hệ nhà nước - tôn giáo qua mấy luận điểm dưới
đây.
Từ khi đất nước ta bước vào thời kỳ độc lập tự chủ, tôn giáo lần lượt là bệ đỡ
tinh thần cho sự phát triển của nhà nước, quốc gia. Ở thời Lý - Trần, Phật giáo
là hệ tư tưởng chính của hai vương triều này.
Quan hệ này bắt đầu từ việc chính nhà sư là người có công trong việc dựng vua,
đồng thời là những người đứng đằng sau vua để cùng cai trị đất nước, tham gia
trực tiếp vào việc triều chính, thậm chí là công tác ngoại giao. Ngược lại,
chính quyền tôn trọng và bảo hộ, tạo điều kiện để tôn giáo đó, trước hết là hệ
thống chức sắc phát triển. Chính sử đã ghi nhận, thời Lý - Trần, chùa chiền được
xây dựng ở khắp các làng xã; nhà vua đứng ra cho xây dựng quốc tự , nhiều nhà sư
được phong là quốc sư.
“Hồi đầu lập quốc các Thiền sư đã mở những cuộc vận động gây ý thức quốc gia,
đã sử dụng các môn học phong thủy và sấm
vĩ trong các cuộc vận động ấy, đã trực tiếp thiết lập kế hoạch, thảo văn
thư, tiếp ngoại giao đoàn, bàn luận về cả những vấn đề quân sự. Nhưng sau đó khi
trong triều đình đã có đủ người lo các việc ấy thì họ chỉ giữ vai trò hướng dẫn
tinh thần và cố vấn đạo đức… những Thiền sư có tham dự chính sự như Vạn Hạnh
trong khi làm việc vẫn giữ thái độ xuất thế của mình, không muốn hòa mình trong
vòng danh lợi, xong việc thì rút lui về chùa. Triết học hành động của Vạn Hạnh
tiêu biểu cho thái độ chung của các Thiền sư: làm thì làm, nhưng không mắc kẹt
vào công việc, không nương tựa và hữu vi. Đó là triết lý vô
trụ”.
Những nhân vật thiền sư Vạn Hạnh, Trần Nhân Tông, và trước đó là Khuông Việt và
nhiều danh tăng khác là minh chứng sống động về quan hệ này. Nếu như thời Lý -
Trần là Phật giáo thì sang thời kỳ Nhà Lê, Nho giáo được độc tôn, lại là tôn
giáo chủ lưu, giữ bệ đỡ tinh thần cho việc cai trị đất nước.
Sang thời kỳ hiện đại,
căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể,
chúng ta có những quan điểm khách quan hơn, độc lập và dân chủ hơn về vấn đề này.
Quan niệm cho rằng
giữa chính quyền với các tôn giáo
có quan hệ với nhau nhưng không phải quan hệ nội tại. Dấu ấn đầu tiên cho vấn đề
này là Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo. Riêng vấn đề Công giáo,
quan hệ về tôn giáo giữa Giáo hội Công giáo Việt Nam với Tòa thánh La Mã là vấn
đề nội bộ của tôn giáo. Chính quyền không can thiệp đến” và “Việc tự do tín
ngưỡng, tự do thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân chủ cộng
hòa luôn luôn tôn trọng”.
Cần phải nói thêm rằng, quan hệ nhà nước - tôn giáo như vậy là để dần thích ứng,
phù hợp với bối cảnh thế giới khi, ở thế kỷ XX, tồn tại những kiểu mô hình nhà
nước tôn giáo khác nhau. GS. Đỗ Quang Hưng,
tổng hợp thành bốn mô hình nhà nước tôn giáo:
thứ nhất,
mô
hình quốc giáo, mô hình mà nhà nước
thế tục vẫn dựa vào một tôn giáo chủ lưu nhưng vẫn tôn trọng các tôn giáo còn
lại như Bắc Âu với Tin Lành; Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha với Công giáo,...;
thứ hai, mô
hình tôn giáo dân sự
- cho
những nước thực hiện hòa nhập các giá trị tôn giáo vào xã hội dân sự, tiêu biểu
như nước Mỹ;
thứ ba, mô
hình đa nguyên tôn giáo, dành nhiều
sự ưu tiên cho sự đa dạng của các tôn giáo cùng có vị trí pháp lý với sự mở rộng
ngày càng lớn cho các tôn giáo, như các nước Đức, Bỉ, Hà Lan,…;
và thứ tư, mô
hình thể chế thế tục trung lập, dành
cho những nước thực hiện nguyên lý thế tục triệt để, nghĩa là nhà nước không
công nhận bất cứ một tôn giáo nào, các tôn giáo đều bình đẳng và thực thi nguyên
lý thế tục trước nhà nước,
tiêu biểu như nước Pháp.
Như vậy, nhà nước và tôn giáo có những quan hệ rất gắn bó trong lịch sử, không
chỉ ở nước ta và các nước Á Đông mà ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tôn giáo
cũng là những hình thái ý thức được lựa chọn để xây dựng mô hình nhà nước sao
cho phù hợp với sự phát triển của quốc gia, dân tộc xu hướng phát triển của xã
hội hiện đại. Sự lựa chọn Nhà nước theo mô hình quốc giáo, trung lập hay vô thần
cũng không nằm ngoài hướng đi riêng của mỗi thể ch chính trị. Song, coi tôn
giáo là đối tượng đặc biệt trên cả phương diện tư tưởng, văn hóa, chính trị -
luật pháp thì đó là những quan hệ có từ rất sớm trong lịch sử loài người.
(Kỳ
sau đăng tiếp)
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu gốc
1.1. Văn bản quy phạm pháp luật
5. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1955),
Sắc lệnh số 234/SL
, ngày 14 tháng 06 năm 1955.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội
7. Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1960),
Luật Tổ chức Tòa án, ngày 14 tháng 07
năm 1960
1.2. Sách trắng và tác phẩm kinh điển (tài
liệu dịch)
10.
C. Mác và Ăngghen (1995), Góp phần phê
phán triết học pháp quyền của Hêghen, Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
13.
Nguyễn Đăng Dung
(2009),
“Nhà
nước pháp quyền là Nhà nước phòng chống sự tùy tiện”,
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 8,
tháng 4,
Hà Nội.
14. Nguyễn Thị Vân Hà (2014),
Tôn giáo và luật pháp về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam,
Luận án Tiến sĩ Tôn giáo học, Thư viện Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.
16.
Đỗ Quang Hưng (2005) Vấn đề tôn giáo
trong cách mạng Việt Nam, lý luận và thực tiễn,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
17.
Nguyễn Lang (2000), Việt
Nam Phật giáo sử luận, tập 1,
Nxb. Văn học,
Hà Nội.
18.
Trần Thế Pháp (Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc Sơn dịch - 2010), “Truyện Đầm một
đêm (Nhất Dạ Trạch - Tiên Dung và Chử Đồng Tử)”
Lĩnh Nam Chích quái, Nxb. Trẻ và Nxb.
Hồng Bàng.
19. Nguyễn Đăng Thục (1995), Lịch sử Tư
tưởng Việt Nam, Tập 1, 2, 3, 4, 5, 6, Nxb. Đồng Nai.
20. Trần Minh Thư (2004),
Hoàn thiện pháp luật về hoạt động tôn
giáo ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh.
21.
Đặng Nghiêm Vạn(2001), Lý luận về tôn
giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
22.
Viện Ngôn ngữ học (1996)
Từ
điển tiếng Việt,
Nxb.
Văn hóa - Thông tin,
Hà Nội.
Cần phải nhấn mạnh rằng khái niệm
“thành hoàng” được mượn từ Trung Quốc khoảng cuối thời kỳ Bắc thuộc;
nhưng giữa 2 khái niệm này khác nhau về bản chất: một bên là thờ thần
bảo hộ thành quách, kinh thành còn một bên là thờ thần - “Tổ” làng.