Kinh nghiệm chuẩn bị, thiết kế và trình bày một nghiên cứu khoa học
Nguyễn Lâm
| Nguyễn Lâm, TS Triết học - Học viện Tòa án |
Tóm tắt
Nghiên cứu khoa học là hoạt động đi tìm cái mới (find out some new
problems/matters). Cái mới ở đây không chỉ thể hiện trên kết quả nghiên cứu mà
còn ở phương pháp khoa học và khả năng ứng dụng phương pháp mới để giải quyết
một vấn đề. Mặc dù vậy, có một thực tế là hiện nay, cả hai khía cạnh này chưa
thực sự được nhiều người làm nghiên cứu chú ý đồng thời; có thể họ chỉ quan tâm
trình bày những “cái mới” hoặc là ngược lại chỉ đi vào phần “lý luận” khiến cho
công trình dừng lại ở những mô tả chứ chưa thể hiện đầy đủ theo quy chuẩn của
một nghiên cứu. Vậy, một câu hỏi đặt ra là: thế nào là một công trình nghiên cứu
và đã là một công trình thì cần tuân thủ những nguyên tắc nào, cần chuẩn bị,
triển khai theo tuần tự căn bản nào để có được kết quả mà ở đó phản ánh đủ hai
vấn đề chính là mục tiêu (tìm ra cái
mới) và phương pháp? Bài viết bước
đầu đề cập tới vấn đề này, trong đó tập trung làm rõ một số khái niệm cốt lõi và
bàn về cấu trúc, quy trình thực hiện một công trình khoa học.
1. Lý luận chung
1.1. Một số khái niệm cốt lõi
Để thành công một nghiên cứu, người thực hiện phải nắm được bản chất - nội hàm
của những khái niệm cốt lõi dưới đây.
Công trình nghiên cứu
là một nghiên cứu có mục tiêu, phương pháp[1]
đã được xác định một cách cụ thể, kèm theo đó là những yêu cầu khác cần được chỉ
rõ như đối tượng/vấn đề, tình huống và phạm vi nghiên cứu; các câu hỏi nghiên
cứu, giả thuyết khoa học, phương pháp khoa học (phương pháp tiếp cận, phương
pháp luận và phương pháp nghiên cứu - sẽ nói ngay ở phần dưới) để đưa ra được
kết quả nghiên cứu mới có đóng góp
trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Như vậy, một công trình nghiên cứu
được gọi là hoàn chỉnh khi và chỉ khi nó thể hiện được cả hai khía cạnh là hướng
đi và những phát hiện mới trong kết quả nghiên cứu.
Gắn bó mật thiết với các công trình nghiên cứu luôn là các
Báo cáo khoa học. Báo cáo khoa học là một báo cáo kết quả nghiên cứu được
khái quát hóa bằng các luận điểm, số liệu cụ thể trên cơ sở kết quả nghiên cứu
tổng thể mà công trình nghiên cứu đã thực hiện thành công. Là một báo cáo tổng
thể, song có hai vấn đề cốt lõi phải được trình bày trong một báo cáo khoa học
đó là phương pháp khoa học đã sử dụng và toàn bộ những kết quả nghiên cứu chính
mà tác giả hoặc nhóm tác giả đã thực hiện. Và như vậy, cấu trúc của một báo cáo
khoa học có đích và những đặc điểm tương đồng với một công trình hay bài báo
khoa học - đó là chỉ ra được hai hạt nhân
cót lõi là phương pháp và kết quả mới đã đạt được.
Cần phải nói thêm rằng, trong hoạt động khoa học, thông thường chúng ta gặp ba
loại báo cáo là báo cáo
điền dã,
báo cáo
tổng thuật và
báo cáo khoa học. Ba loại báo cáo này
đôi khi chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Nếu như hai loại báo cáo trước là
cơ sở để tiến hành một nghiên cứu thì báo cáo khoa học chính là khâu tổng kết
những kết luận được tìm ra từ một chu trình nghiên cứu.
Bảng 1: So sánh đặc điểm căn bản của các loại báo cáo
|
Phân loại
|
Đặc điểm
|
|
Báo cáo điền dã
|
- Mô tả chi tiết các dữ liệu ghi chép được khi quan sát và xử lý các tư
liệu quay phim, ghi hình.
- Sắp xếp theo trình tự thời gian, bối cảnh ưu tiên trong nghiên cứu.
|
|
Báo cáo tổng thuật
|
Đã có sự khái quát hóa bằng các nhóm chủ đề, vấn đề được bàn tới so với
báo cáo điền dã. Báo cáo này có thể thấy phổ biến sau các Hội thảo khoa
học.
|
|
Báo cáo khoa học
|
Đưa ra một cách vắn tắt các kết quả nghiên cứu chính cho một nghiên cứu
có quy mô.
|
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
là những khía cạnh cụ thể mà người thực hiện hướng tới giải mã để đưa ra kết
luận. Ở đây, tên đề tài của một công trình là đối tượng chung chung, bao quát
nhưng đối tượng cụ thể sẽ là những chi tiết rất rõ ràng mà người nghiên cứu cần
trình bày trong một nghiên cứu. Ví dụ giả định chọn đề tài “Ly hôn của người
cùng Công giáo ở Hà Nội hiện nay” thì đối tượng nghiên cứu chính phải là: quan
điểm của người Công giáo về hôn nhân gia đình; nguyên nhân, diễn biến và thực
trạng - những biểu hiện (diện mạo) của tình trạng ly hôn ở người cùng Công giáo
ở Hà Nội; những nghịch lý - bi kịch tinh thần của bản thân và gia đình người
cùng Công giáo sau khi ly hôn (xét trên góc độ giáo luật, thần học và các phép
bí tích); nhận định hệ giá trị trong quan điểm hôn nhân gia đình của người Công
giáo và những đóng góp của nó cho đạo đức xã hội; dự báo những suy thoái về đạo
đức của người Công giáo qua tình trạng ly hôn; và các giải pháp ngăn chặn tình
trạng ly hôn của người trong cùng Công giáo ở Hà Nội hiện tại. Như vậy, mục tiêu
của đề tài cần đi tới là làm rõ những khía cạnh/ đối tượng cụ thể trên cũng như
những cái mà người nghiên cứu cần chỉ ra trong công trình này. Những vấn đề cụ
thể, trên cơ sở xác định hướng tiếp cận và căn cứ vào Mã chuyên ngành, người
nghiên cứu tiếp tục làm rõ những nội dung căn bản ở phần giới hạn nội dung ở
phần phạm vi nghiên cứu.
Thông thường, đi cùng với đối tượng nghiên cứu là
phạm vi. Phạm vi nghiên cứu là sự
giới hạn mà ở đó, ngoài xác định rõ phạm vi về nội dung còn cần xác định phạm vi
về thời gian, không gian và một số khía cạnh liên quan. Như vậy, đối tượng
nghiên cứu sẽ có những điểm giống và khác với phần
giới hạn nội dung ở phần phạm vi
nghiên cứu.
Câu hỏi nghiên cứu
là những vấn đề, tình huống mà người thực hiện đặt ra để đi tìm câu trả lời.
Trong một nghiên cứu thông thường có ít nhất là 3 câu hỏi nghiên cứu chính cần
đi sâu tìm hiểu. Trong các câu hỏi lớn mang tính đại diện sẽ xuất hiện những câu
hỏi nhỏ phụ thuộc.
Giả thuyết nghiên cứu
là những mệnh đề khẳng định hoặc phủ định mà người nghiên cứu phát hiện, đưa ra
rồi đi vào chứng minh, nghiên cứu, giải mã. Giả thuyết nghiên cứu, vì thế không
phải là các mệnh để Nếu - Thì hoặc những vấn đề đặt câu hỏi chung chung mà là
những khía cạnh lớn đã được nhận định là đúng hoặc sai rồi tiến hành chứng minh
để đưa ra kết luận. Giả thuyết nghiên cứu, vì thế phải có tiên lượng[2].
Ngoài các khái niệm trọng tâm trên, chúng ta còn có các khái niệm rất căn bản
khác là mục tiêu nghiên cứu và
mục đích nghiên cứu. Nếu như mục tiêu
sẽ cho người nghiên cứu biết sẽ phải hướng tới nghiên cứu tìm ra mấu chốt của
vấn đề thì mục đích nghiên cứu sẽ phải trả lời mang kết quả nghiên cứu phục vụ
vào việc gì.
Như vậy, trong nghiên cứu khoa học có khá nhiều khái niệm cần phải hiểu một cách
bản chất. Khái niệm không chỉ là vấn đề “rường - cột” trong một nghiên cứu mà
còn là vấn đề “bản thể” để giúp người nghiên cứu có thế giới quan cũng như hướng
tiếp cận khoa học đúng đắn. Chúng tôi sẽ trình bày vấn đề tiếp theo có liên quan
qua tiểu mục dưới đây.
1.2. Vấn đề chọn hướng nghiên cứu
Để một nghiên cứu thực sự có những đóng góp mới, người thực hiện cần phải căn cứ
vào nhiều yếu tố, trong đó việc xác định được hướng đi sẽ quyết định sự thành
bại của công trình. Tác giả sẽ làm rõ một số vấn đề liên quan trực tiếp tới
phương pháp khoa học để tìm hướng chung cho một nghiên cứu.
Trước hết, như đã trình bày một phần, trong nghiên cứu khoa học, hai
hạt nhân của hoạt động nghiên cứu là
mục tiêu và
phương pháp - Phương pháp khoa học.
Vậy, diện mạo của phương pháp khoa học gồm những bộ phận nào? Tác giả sẽ đề cập
tới ba khái niệm có mối liên hệ gắn kết, là
phương pháp tiếp cận,
phương pháp luận và
phương pháp nghiên cứu cụ thể dưới
đây.
Thứ nhất,
phương pháp tiếp cận là góc nhìn của
người nghiên cứu đến đối tượng nghiên cứu. Thông thường, một vấn đề nghiên cứu
có thể nhìn trên nhiều góc độ khác nhau, có thể là tiếp cận liên ngành, cũng có
thể là chuyên ngành hoặc phổ biến hiện nay là tiếp cận lý thuyết.
Ví dụ trong đề tài “Luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay” thì
phương pháp tiếp cận của đề tài chính là sử dụng nhãn quan của luật học, chính
trị học để nhìn vào vấn đề tôn giáo cũng như quan hệ tôn giáo với pháp luật nhà
nước trong giai đoạn này. Ngoài những vấn đề lý luận chung về tôn giáo, đối
tượng nghiên cứu chính sẽ là: quá trình xây dựng luật pháp về tôn giáo ở Việt
Nam; diện mạo và đặc điểm luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam; và những đề xuất
hoàn thiện để ban hành luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam. Và như vậy, công trình
đã sử dụng hướng tiếp cận liên ngành luật pháp và tôn giáo để giải quyết vấn đề,
ở đây hướng tiếp cận chính của công trình là sử dụng “nhãn quan” của Luật học
với thời lượng chiếm 50% của công trình. Ngược lại, một ví dụ khác, giả định
công trình là “Tôn giáo trong luật pháp ở một số quốc gia Hồi giáo” thì hướng
tiếp cận chủ đạo lại là tìm ra ảnh hưởng của giáo lý Hồi giáo (Tôn giáo học)
trong quá trình xây dựng luật pháp của quốc gia này. Và ở đây, ngoài vấn đề giới
thiệu chung về diện mạo luật pháp ở các nước này, đối tượng trọng tâm trong
nghiên cứu sẽ là hàm lượng giáo luật, giáo lý trong các bộ luật được ban hành ở
đây. Trên thực tế, các nước lấy Hồi giáo là quốc đạo thì việc ban hành luật pháp
chịu ảnh hưởng trực tiếp giáo lý, kinh sách (ở đây là kinh Koran). Và nghiên cứu
này cần được đặt ở Mã ngành Tôn giáo học. Đây là những hướng tiếp cận liên ngành
rất phổ biến hiện nay.
Ngoài ra, chúng ta có thể chọn hướng tiếp cận lý thuyết. Đây là một trong những
hướng nghiên cứu phổ biến hiện nay. Tiếp cận lý thuyết có nghĩa là chúng ta sử
dụng một hay một tổ hợp lý thuyết để làm rõ một vấn đề nào đó trong luật pháp.
Ví dụ có thể chọn đề tài “Lý thuyết chức năng trong nghiên cứu các chức năng tố
tụng hình sự Việt Nam”[3].
Sau khi khu biệt các khái niệm liên quan đến chức năng, tác giả tập trung làm rõ
khái niệm “lý thuyết chức năng” và sử dụng lý thuyết này vào nghiên cứu chức
năng để làm rõ chức năng tố tụng hình sự của Việt Nam và đưa ra kết luận phát
hiện “chức năng bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự bị rơi vào tình thế
chưa được đề cập nghiên cứu hay thể chế hóa trong chính sách pháp luật”[4].
Cần phải nói thêm rằng, việc sử dụng lý
thuyết và một số phương pháp đặc thù chuyên ngành hẹp có những khác nhau về bản
chất. Cũng là hệ thống các nguyên tắc, nhưng nghiên cứu lý thuyết tức là căn cứ
vào nguyên tắc của một tư tưởng nhưng người nghiên cứu có thể, trên cơ sở đó,
phát triển lý thuyết đó cho phù hợp với bối cảnh của những vấn đề tương tự trong
một cộng đồng, rộng hơn là một quốc gia mà mình hướng tới giải quyết, đóng góp.
Thứ hai, phương pháp luận, hiểu một
cách lý thuyết, là hệ thống lý luận về phương pháp; nói cách khác, các phương
pháp nghiên cứu chính là đối tượng nghiên cứu của phương pháp luận[5].
Tuy nhiên, về bản chất, phương pháp luận là tư duy đặt đối tượng nghiên cứu
trong tổng thể nguyên hợp của các yếu tố hình thành và tác động vào sự vật, hiện
tượng như không gian, thời gian, con người và sự tác động giữa các yếu tố đó;
trên cơ sở năng lực tư duy này, người nghiên cứu lựa chọn hướng tiếp cận, phương
pháp nghiên cứu hợp lý để phát hiện những vấn đề mới. Như vậy, ở đây, chức năng
của phương pháp luận là định hướng, gợi mở và dự báo những vấn đề cho một nghiên
cứu. Cần phải nói thêm rằng, để có được
tư duy phương pháp luận, người làm khoa học phải trải qua một quá trình rèn
luyện, nghiên cứu rất căn bản và tốn nhiều công sức mới có thể đạt đến được.
Một ví dụ, khi giả định đề tài: “Bạo lực gia đình ở Hà Nội từ năm 1930 đến năm
1954”, thì về nguyên tắc phương pháp luận, chúng ta phải đặt thực trạng bạo lực
này trong bối cảnh người phụ nữ và đàn ông Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi hai luồng
tư tưởng là tư tưởng Nho giáo phong kiến và tư tưởng văn hóa phương Tây được
tiếp biến giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, bên cạnh đó là các
nguyên nhân trực tiếp khác như tình yêu, vấn đề kinh tế, sự đói nghèo, v.v... Ở
đây, một mặt, người đàn ông Việt Nam vốn đặt quá nặng nề về vấn đề “Tam tòng, Tứ
đức” theo quan nhiệm Nho giáo; mặt khác, người phụ nữ đã được phương Tây hóa khi
nhận ra rằng, cuộc sống cần có cách nhìn nhận mới, hiện đại, con người không thể
bị “bó hẹp” trong môi trường gia đình truyền thống, thiếu dân chủ. Và sự “bứt
phá” này có nguồn gốc sâu xa là cuộc tiếp biến văn hóa phương Tây vào Việt Nam.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân căn bản đẩy người phụ nữ Việt Nam vào
cái gọi là bi kịch gia đình, khi ngoại tình, tham gia vào chính trị và các quan
hệ xã hội hiện đại khác, nhất là đối với phụ nữ trí thức. Song song với đó, sự
đói nghèo cũng là một trong những nguyên nhân chính đẩy hôn nhân gia đình người
Việt vào “cuộc chơi” với nhiều sự lựa chọn, cái nhìn mới - mà bạo lực gia đình
vừa là kết quả vừa là nguyên nhân dẫn tới đổ vỡ hôn nhân. Và ở đây, tư duy
phương pháp luận sẽ định hướng cho người nghiên cứu biết chọn phương pháp và lý
thuyết thích hợp để phát hiện những vấn đề, nguyên nhân căn bản.
Thứ ba, phương pháp nghiên cứu là hệ
thông nguyên tắc có chức năng công cụ phục vụ cho các thao tác tư duy, nghiên
cứu mà phương pháp luận đã xác định. Phương pháp nghiên cứu vì thế rất phong
phú, đa dạng. Khi chọn một phương pháp nghiên cứu, người ta phải tuân thủ những
nguyên tắc rất nghiêm ngặt của phương pháp đó. Ví dụ, khi sử dụng phương pháp
nghiên cứu định tính, chúng ta không được vi phạm nguyên tắc khi tiến hành phỏng
vấn sâu, phỏng vấn tham dự bằng hệ thống câu hỏi hay các phiếu điều tra phát ra
được tính toán trước theo nguyên tắc.
Tóm lại, phương pháp tiếp cận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu có
những đặc điểm, chức năng riêng nhưng có mối liên hệ, quan hệ hữu cơ với nhau.
Bảng 2: Phân biệt đặc điểm, chức năng của các loại phương pháp khoa học
|
Loại phương pháp
|
Đặc điểm
|
Chức năng
|
|
Phương pháp tiếp cận
|
- Thường chọn góc nhìn liên ngành và chuyên ngành để “soi” đối tượng
nghiên cứu.
- Thường chọn các lý thuyết để tiếp cận vấn đề.
|
Làm rõ các khía cạnh đặc thù của đối tượng nghiên cứu trên cơ sở một góc
nhìn, một lý thuyết nghiên cứu.
|
|
Phương pháp luận
|
- Gắn đối tượng trong tổng thể nguyên hợp của các yếu tố cấu thành.
- Tư duy lý thuyết, tư duy “mảng - miếng” khi thực hiện xem xét đối
tượng
|
Gợi mở, định hướng, dự báo khuynh hướng phát triển của đối tượng nghiên
cứu
|
|
Phương pháp nghiên cứu
|
- Phong phú, đa dạng
- Rút ra từ nhiều chuyên ngành khoa học khác nhau
|
Công cụ trong quá trình giải quyết các thao tác trong nghiên cứu.
|
Như vậy, khi tham gia vào nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu cần phải
hiểu bản chất những khái niệm, thuật ngữ chuyên sâu liên quan đến hoạt động này.
Nói cách khác, một nghiên cứu chỉ có thể được thực hiện thành công khi và chỉ
khi tác giả của nó có được hệ thống tri thức, lý luận liên quan, trong đó nội
hàm của các khái niệm căn bản, trừu tượng như đã trình bày ở trên phải được hiểu
một cách tường tận. Liên quan trực tiếp tới vấn đề đã trình bày, tiểu mục dưới
đây sẽ đi vào giải quyết vấn đề tiếp theo: cấu trúc của một nghiên cứu.
2. Quy trình thực hiện
2.1. Chuẩn bị một nghiên cứu
2.1.1. Xác định tên đề tài nghiên cứu
Việc xác định tên đề tài là một vấn đề không đơn giản mà người nghiên cứu, trên
cơ sở chuyên môn sâu, cùng với quá trình đọc tài liệu, đi thực tiễn có thể chọn
lựa và đề xuất một nghiên cứu cụ thể. Do đó, một tên đề tài thường gắn với người
chủ nhiệm có đủ năng lực để nghiên cứu độc lập.
Về nguyên tắc, tên đề tài không được hiểu theo hai nghĩa, không được dài dòng.
Tên đề tài, vì thế cần súc tích, ngắn gọn và có mục tiêu, đối tượng nghiên cứu
rõ ràng. Một đề tài không được sử dụng các cụm từ có độ bất động cao (ví dụ:
Về,
Góp bàn về,
Góp (cùng) bàn về…) hay những cụm từ
chỉ mục đích (như Để,
Nhằm,
Góp phần,…)[6].
Một đề tài được gọi là đạt yêu cầu khi và chỉ khi đối tượng, phạm vi và mục tiêu
nghiên cứu thể hiện một cách rõ nét. Ví dụ, đây là một đề tài toát lên được các
yêu cầu đó: “Kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam”[7].
Ở đây, sau khi phát hiện tình trạng xảy ra nhiều vi phạm trong thực hiện các văn
bản quy phạm pháp luật, tác giả hướng tới thực hiện nghiên cứu với các đối tượng
chính là: nguyên nhân,
thực trạng và
các loại vi phạm về văn bản quy phạm pháp
luật ở các cơ quan hành chính nhà nước; và trên cơ sở đó, tác giả
nghiên cứu đề xuất giải pháp để giảm
thiểu tình trạng trên.
2.1.2. Đọc tài liệu và giới hạn phạm vi, mục tiêu nghiên cứu
Một đề tài có thể theo ba hướng: một là đối tượng nghiên cứu mới, rất ít hoặc
chưa có ai làm; hai là, đề tài và những vấn đề liên quan đã được quá nhiều người
nghiên cứu; và ba là, đề tài cần đến cả tư liệu thực tiễn chưa có người đề cập
và tư liệu sẵn có. Trong ba loại đề tài trên, loại thứ hai, tức loại đã có quá
nhiều người nghiên cứu là những đề tài “khó gặm” nhất. Vì để phát hiện ra những
vấn đề mới trên cơ sở của những người đã có am hiểu về nó, nhất là các chuyên
gia thì đây quả là một sự dũng cảm, một thử thách lớn. Do đó, dù là theo hướng
đề tài nào thì đọc tài liệu thật kỹ theo nguyên tắc khách quan sẽ cho ra kết quả
nghiêm túc, có đóng góp.
Thông thường, tư liệu mà chúng ta có thể tìm đọc là các Tạp chí chuyên ngành, vì
phần lớn các công trình trước khi công bố chính thức thường được cắt, trích công
bố những vấn đề liên quan trên Tạp chí[8].
Cũng có thể nói, nhiều trường hợp, tác giả chỉ công bố trong phạm vi một bài
nghiên cứu với quy mô vừa và nhỏ ở Tạp
chí nên việc khảo cứu các vấn đề liên quan đến tên đề tài ở loại hình xuất bản
này là một thao tác khoa học bắt buộc và có hiệu quả để tránh sự trùng lặp.
Sau khi đọc tài liệu, người nghiên cứu sẽ có một cái nhìn toàn cảnh về “diện
mạo” vấn đề mình sẽ nghiên cứu, từ đó xác định cho mình một phạm vi thích hợp,
đồng thời co hẹp hoặc mở rộng mục tiêu nghiên cứu - cái mà theo chủ quan người
nghiên cứu, đã hoặc chưa từng được chỉ ra trong các công trình trước để không
rơi vào tình trạng lãng phí thời gian, công sức cho nghiên cứu sắp tới của bản
thân.
2.1.3. Xác định phương pháp khoa học - hướng đi của nghiên cứu
Như trên đã trình bày một phần, trong một nghiên cứu, việc xác định hướng đi
quyết định sự thành bại của nghiên cứu đó. Hướng đi không chỉ là vấn đề chúng ta
sử dụng loại phương pháp khoa học nào mà còn thể hiện ở chỗ, khi áp dụng phương
pháp khoa học ấy cho một đề tài cụ thể, vô hình trung, người nghiên cứu đóng góp
một phương pháp mới trong nghiên cứu những vấn đề liên quan mà trước đó chưa có
ai thực hiện. Ví dụ, khi sử dụng lý thuyết chức năng trong nghiên cứu chức năng
của Tòa án, đề tài của tác giả Đinh Thị Mai[9]
đã đóng góp một cách tiếp cận mới khi chỉ ra được bản chất chức năng của Tòa án
trong quá trình xét xử khi khảo sát các khía cạnh của lý thuyết chức năng của
các nhà khoa học lý thuyết mà cách tiếp cận này trước đó chưa được sử dụng.
Chính vì thế, trong các xu thế nghiên cứu hiện nay, một công trình nghiên cứu để
có được những phát hiện mới thì trong tư duy phương pháp luận cần phải xác định
việc sử dụng các lý thuyết nghiên cứu, cách tiếp cận hợp lý là một hướng đi có
thể mang lại kết quả tích cực. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta sính sử
dụng lý thuyết, nhưng thực tế đã chứng minh lý luận đi lên từ thực tiễn và lý
luận quay trở lại để “hướng dẫn” thực tiễn và quan trọng, thông qua đó chúng ta
có thể phát hiện nhiều vấn đề mới mà cách làm “truyền thống” trước đây không
thực hiện được.
2.2. Thiết kế một nghiên cứu
2.1.1. Xây dựng Đề cương
Từ những công tác chuẩn bị nêu trên, chúng ta thiết kế Đề cương nghiên cứu. Đề
cương phải toát ra được những công việc chính mà người nghiên cứu sẽ thực hiện.
Nó không chỉ bao gồm nội dung và phương pháp nghiên cứu mà còn phải “thiết kế”
cả vấn đề về nhân lực tham gia (nếu là đề tài quy mô lớn), vấn đề phân bổ thời
gian, kinh phí cho suốt quá trình. Dù quy mô nghiên cứu có khác nhau, song nhìn
chung, một Đề cương nghiên cứu phải nhằm tới những ý cốt lõi dưới đây:
-
Tên đề tài/ vấn đề nghiên cứu
-
Dẫn nhập
-
Tổng quan những vấn đề liên quan đến công trình
-
Kết quả nghiên cứu
-
Thảo luận
-
Kết luận và Đề xuất (có thể không cần)
-
Tài liệu tham khảo
-
Phụ lục kế hoạch nghiên cứu ( bao gồm thời gian, lực lượng tham gia và kinh phí:
đối với công trình của Nhà nước).
Cần phải nói thêm rằng, với thứ tự của Đề cương trên đây, người nghiên cứu có
thể chuyển hóa các vấn đề thành các Chương của công trình, trong đó cần có hai
Chương phản ánh hai vấn đề cốt lõi là Tổng quan những vấn đề liên quan đến công
trình, trong đó có phần trình bày về mục tiêu và phương pháp nghiên cứu, các lý
thuyết sẽ sử dụng ở phần nào, giải quyết vấn đề cụ thể nào; và Chương trình bày
kết quả và thảo luận kết quả nghiên cứu. Hiện nay, trong hầu hết các công trình
nghiên cứu, từ các đề tài mang tính Trường quy như Khóa luận, Luận văn, Luận án,
cho đến các đề tài dự án đều thể hiện bằng các Chương, có thể là 2 hoặc 3
Chương, thậm chí nhiều hơn[10].
Quay trở lại vấn đề, từ tên đề tài và
phạm vi nghiên cứu đã được giới hạn lại, người nghiên cứu sẽ viết phần Dẫn
nhập. Phần này phải toát được hai vấn đề: một là nêu lên những vấn đề chung về
lý luận và thực tiễn liên quan đến công
trình nghiên cứu để làm nổi lên thực trạng chung cần tiếp tục nghiên cứu;
thứ hai là đưa ra câu hỏi nghiên cứu
và giả thuyết khoa học; thứ ba là
phương pháp nghiên cứu; và cuối cùng
là dự kiến kết quả nghiên cứu. Tất cả
những phần này được trình bày dưới dạng
Văn dẫn nhập, có nghĩa là viết khái quát thế nào để lôi cuốn người đọc dõi
theo ý tưởng cũng như những vấn đề mà mình sẽ làm trong phần chi tiết mà không
rơi vào tình trạng trùng lặp so với phần viết chính sẽ triển khai ở dưới.
Sang tới phần Tổng quan, người nghiên
cứu phải nói được ba vấn đề cốt lõi: thứ nhất là tổng quan được nguồn tài liệu
mình đã và sẽ khảo sát; thứ hai là trình bày thật chi tiết các phương pháp mà
mình đã và sẽ thực hiện. Phần này rất quan trọng vì thực tế, những nghiên cứu
trước đây rất ít chú trọng đến phần này; trong khi chúng ta sử dụng phương pháp
khoa học nào, như thế nào, ở đâu thì không nói ra. Thứ ba là đưa ra được hướng
tiếp cận, giả thuyết khoa học và khung phân tích lý thuyết mà tác giả sẽ thực
hiện trong đề tài. Và cuối cùng, tác giả sẽ phải đưa ra các khái niệm, thuật ngữ
liên quan đến công trình này.
Ở phần Kết quả nghiên cứu, phần trọng
tâm của một nghiên cứu, tác giả sẽ trình bày những luận điểm ở dạng kết luận.
Mỗi luận điểm sẽ đi cùng với luận chứng, biểu đồ, bảng biểu cụ thể (tùy theo
từng dạng đề tài); các số liệu đều được giải thích rõ nguồn và trích nguồn. Có
nghĩa là, ở đây, chúng ta sẽ trình bày những cái mới và chứng minh nó là những
đóng góp mới có sở cứ rất chắc chắn. Thông thường, mỗi một luận điểm sẽ có từ
hai luận chứng trở lên; đi kèm với đó là những số liệu đính kèm bảng biểu. Và,
cứ ở mỗi luận điểm lớn (sẽ có các luận điểm nhỏ hơn) sẽ có một nhận xét sơ bộ
(còn những thảo luận nên đẩy xuống phần dưới).
Thảo luận
là một phần rất quan trọng, nó phản ánh tương đối rõ bản lĩnh và tính trung thực
của người nghiên cứu cũng như độ chính xác cho mỗi nghiên cứu. Phần thảo luận
chính là những nhận xét, nhận định, bình luận và kết luận của tác giả, nhóm tác
giả về kết quả nghiên cứu. Trong đó, những nhận định về tính ứng dụng của nó
trong hiện tại và tương lai, cùng với đó là những bình luận về vấn đề mà các
nghiên cứu trước đã làm, sẽ góp phần làm cho công trình có một vị trí riêng
2.1.2. Xử lý, phân bổ tài liệu, luận cứ, luận chứng
Trong phần lớn các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, người nghiên cứu
đồng thời thực hiện ba thao tác là nghiên cứu thực địa, đọc tài liệu và xử lý
tài liệu trong cùng một thời gian. Ở đó, nguồn tài liệu thực địa được thu thập
đến đâu cần được nghiên cứu, phân bổ rồi xử lý đến đó. Chẳng hạn, với các nguồn
tư liệu điền dã thu thập từ các phiên tòa, sau khi đưa về, người nghiên cứu cần
phân tách ngay về tình trạng tội danh và xếp vào mục trường hợp nghiên cứu A, B
hay C - theo nhóm đối tượng tài liệu để dễ xử lý sau này. Thậm chí, người nghiên
cứu còn phân tích và nhận xét sơ khởi nguồn tài liệu. Bởi vì chính trong quá
trình xử lý dữ liệu chúng ta phát hiện những vấn đề mới mà nếu không đưa ra
những nhận xét ngay thì có thể sau đó, chúng ta sẽ quên. Ví dụ, khi khảo sát các
Hồ sơ đã được xét xử, người ta nhận thấy một số ý rất quan trọng xuất phát từ
nhận thức của nguyên đơn, bị đơn hay từ các thành viên của Hội đồng xét xử mà sẽ
là những phát hiện rất quan trọng cho việc nghiên cứu, đề xuất trong nghiên cứu
này. Và tư liệu này cần được ghi rất nhanh trong quá trình thực hiện điền dã tư
liệu và phải được xử lý, nhận xét sớm để tránh bị lãng quên.
Trước khi bắt tay vào viết công trình, ở phần này, thông thường người nghiên cứu
phải tiến hành một bước nữa là xử lý, phân bổ nguồn tư liệu cho các phần liên
quan đến Đề cương. Trên thực tế, phần này đã là phần mà tác giả bắt đầu viết;
bởi các nguồn tư liệu trong quá trình xử lý chính là quá trình tính toán, đo đạc
cùng với quá trình nhận xét, kết luận sơ khởi. Phần này sẽ phục vụ cho cả hai
phần: cơ sở lý luận và kết quả nghiên cứu. Cần phải nói thêm rằng, trong một
nghiên cứu, người nghiên cứu cần đọc tương đối nhiều những nghiên cứu chuyên
ngành và liên ngành liên quan, sau đó “bổ ngang” tư liệu: những tư liệu nào cần
tham khảo với tư cách là những “chỉ dẫn” về phương pháp luận, phương pháp hay lý
thuyết nghiên cứu thì cần phân tích và trình bày rất cụ thể ở phần Tổng quan
cũng như cơ sở lý luận; tư liệu còn lại liên quan trực tiếp tới đối tượng nghiên
cứu thì tiến hành sàng lọc rồi tìm những luận điểm, kết luận quan trọng sử dụng
làm luận chứng để trích dẫn, làm rõ trong phần kết quả nghiên cứu.
Ngoài ra, có một phần nguồn tư liệu quan trọng bậc nhất ở một nghiên cứu là phần
tư liệu nghiên cứu thực địa (đối với phần lớn các nghiên cứu về khoa học xã
hội). Nguồn tư liệu này chủ yếu trình bày ở phần kết quả nghiên cứu. Và thông
thường, để cho một nghiên cứu có tính minh bạch và dễ dàng theo dõi hơn, người
nghiên cứu thường xử lý nguồn tài liệu này dưới dạng các bảng biểu, biểu đồ, rồi
trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét về bản chất của vấn đề nghiên cứu.
Như vậy, trong một nghiên cứu, để phân bổ tư liệu cũng như sử dụng các nguồn tư
liệu phục vụ cho các luận chứng, luận cứ là đặc biệt quan trọng. Dù là nguồn tư
liệu dưới dạng tổng hợp từ các nghiên cứu đi trước có liên quan hay nguồn nghiên
cứu thực địa thì khi xử lý rất cần tác giả đưa ra khung biểu đồ, bảng biểu bởi
trên thực tế, một số liệu được xử lý bằng cách khái quát hóa dưới dạng này sẽ có
hiệu quả hơn người viết nói ra bằng nhiều trang. Và như thế, việc khái quát hóa
tư liệu bằng các mô hình là một thao tác có thế mạnh.
2.1.3. Viết và hoàn thiện công trình
Sau khi khung - xương của một công
trình đã được dựng, người nghiên cứu tiến hành hoàn thiện công trình. Về bản
chất, đây là phần “đắp” vỏ ngôn ngữ để diễn giải bản chất thuộc đối tượng nghiên
cứu mà mình cần chứng minh để thuyết phục người đọc. Phần này thường thực hiện
hai thao tác: phân tích sâu các số liệu và đưa ra nhận xét. Ở phần thứ nhất, sau
khi các số liệu đã được xử lý ở phần trên, người thực hiện tiến hành diễn giải
các số liệu “biết nói” này để đưa ra kết luận. Trên thực tế, chỉ cần đưa ra các
bảng biểu để biểu thị số liệu hoặc đưa ra tỉ lệ phần trăm liên quan đã chứng
minh và thuyết phục được đồng nghiệp, song ở đây rất cần một khâu lập luận để
những vấn đề chứng minh được tường minh và chặt chẽ hơn.
Ở phần thứ hai, đây thực chất là phần bình luận kết quả nghiên cứu - thảo luận.
Các số liệu đã được xử lý, giờ đây người nghiên cứu chỉ cần xây dựng các luận
điểm để làm rõ mối quan hệ giữa số liệu với những kết luận về phát hiện mới của
công trình. Trong quá trình này, tác giả sẽ dành nhiều thời lượng để chỉ ra rằng
đâu là cái mới, có thể so sánh với những “cái cũ” để chứng minh, khẳng định cái
mới. Như vậy, phần thảo luận kết quả nghiên cứu là rất quan trọng, như đã nêu
trên, để khẳng định năng lực nghiên cứu, phát hiện vấn đề của tác giả.
2.3. Trình bày, báo cáo một nghiên cứu
Trình bày ở đây được hiểu là khâu công bố, báo cáo kết quả nghiên cứu cuối cùng
tới đồng nghiệp và cơ quan liên quan. Hiện nay, phần lớn các nghiên cứu đều được
báo cáo trên PowerPoint. Đây là một thuận lợi đối với người làm nghiên cứu.
Về nguyên tắc, phần trình bày, báo cáo kết quả nghiên cứu sẽ tập trung vào hai
phần chính là công bố những phát hiện mới của một công trình và phương pháp mà
tác giả thực hiện nó mà không dông dài sa vào các chi tiết khác để mờ đi những
vấn đề cốt lõi cần đề cập. Chính vì thế, người nghiên cứu nên thiết kế các
slides đủ để nói những vấn đề nêu trên. Tùy vào quy mô của công trình, song
thông thường, người trình diễn PowerPoint nên để khoảng 1 phút/ slide. Chẳng
hạn, nếu là một báo cáo đề tài cấp Học viện hoặc cấp Bộ thì với 30 phút cho 30
slides là hợp lý nhất.
3. Thay lời kết
Nghiên cứu là một hoạt động khoa học nhằm tìm ra cái mới. Vấn đề đặt ra là “cái
mới” như thế nào và thế nào là “cái mới” - lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố
bên trong người nghiên cứu. Nói cách khác, để đưa ra được những đề tài thực sự
có đóng góp, người làm nghiên cứu cần không ngừng trau dồi nhiều đức tính, phẩm
chất bên cạnh hệ thống phương pháp khoa học, đồng thời coi hoạt động
đọc chuyên nghiệp và
viết chuyên nghiệp là hai thao tác
cốt lõi (đối với giảng viên của Học viện Tòa án thì có lẽ còn phải là bốn hoạt
động: đọc,
viết,
xét xử và
giảng dạy chuyên nghiệp?). Cụ thể,
đọc chuyên nghiệp ở đây không chỉ là
đọc nhiều sách và nhiều thông tin trong các sách chuyên ngành, liên ngành để
tích lũy mà còn phải đọc xem trong một nghiên cứu, một chuyên khảo như vậy thì
họ triển khai một vấn đề như thế nào,
theo hướng nào: từ cách tiếp cận, cách lập luận, cách trình bày các luận điểm
khoa học cho đến các phương pháp khoa học mà tác giả sử dụng. Còn
viết chuyên nghiệp chỉ đơn giản là
thông qua các hoạt động đọc, xét xử và giảng dạy trên, chúng ta nhận thấy
có vấn đề gì mới chưa được nhiều người đề
cập hoặc những phát hiện theo mình là thú vị thì đặt bút viết; trong quá
trình tranh tụng, xử án, chúng ta phát hiện cái gì là tình huống hay, dở có thể
là bài học kinh nghiệm cho đồng nghiệp, học trò, đặc biệt là những khó khăn,
vướng mắc trong ngành cần tháo gỡ thì cần thiết phải ghi chép lại và viết ra;
trong giảng dạy, cái gì cần bổ sung hoặc lược bỏ, phương pháp nào theo mình là
tốt, có hiệu quả thì cũng đặt bút viết ra: một mặt để chia sẻ với đồng nghiệp,
mặt khác rèn luyện tư duy nghiên cứu, bố cục và thao tác của người viết, v.v...
Mới đầu viết thì không hề dễ dàng nhưng
không vượt qua để rèn luyện thao tác này thì không bao giờ có được một
nghiên cứu chất lượng. Đây phải là những công việc “sát sườn”, thường xuyên của
người giảng viên chuyên ngành của Học viện Tòa án.
Tóm lại, hiện nay Học viện Tòa án đang có một lợi thế là quy tụ được khá nhiều
chức danh Tòa án đã từng làm công tác xét xử tại các địa phương về làm công tác
giảng dạy. Như vậy, chúng ta đã và đang có một lực lượng làm nghề xét xử chuyên
nghiệp; nếu Học viện tiếp tục tuyển dụng nguồn nhân lực theo hướng này, sau đó
“đắp” thêm phương pháp khoa học và thường xuyên đưa hoạt động khoa học vào quá
trình nghiên cứu và giảng dạy, chúng ta sẽ có một Học viện Tòa án thực sự có
những đóng góp cho xã hội - một Học viện Tòa án đào tạo ra được đội ngũ người
làm nghề không chỉ có trí tuệ và nhân cách trong xét xử mà còn có khả năng tự
cầm bút viết nghiên cứu đề xuất cải cách và hoàn thiện tư pháp cho nước nhà. Và
xin được nhấn mạnh lại, trong môi trường học thuật (như Academy), hoạt động
nghiên cứu khoa học cần được đẩy mạnh, ứng dụng trong toàn bộ hoạt động giảng
dạy và nghiên cứu của Học viện. Hoạt động này cần bắt đầu từ những nghiên cứu
nhỏ, những Tiểu luận, Báo cáo (Báo cáo điền dã tư liệu, Báo cáo tổng thuật và
Báo cáo khoa học) và phải thực hiện theo Trường quy (quy định mẫu riêng) của Học
viện.
Hà Nội, tháng 09 năm 2015
N.L
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Cao Đàm (2008), Phương pháp luận
nghiên cứu khoa học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
2. Vũ Cao Đàm (2008), “Giả thiết và giả thuyết trong nghiên cứu khoa học”,
Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số 2, Hà
Nội.
3. Đinh Thị Mai (2015), “Các chức năng tố tụng hình sự Việt Nam: nhìn từ lý
thuyết chức năng”, Tạp chí Nhân lực Khoa
học xã hội, số 5, Hà Nội.
4. Nguyễn Văn Tuấn (2012), Chất lượng
giáo dục đại học: nhìn từ góc độ hội nhập, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí
Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
5. Nguyễn Văn Tuấn (2012), Đi vào nghiên
cứu khoa học, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
6. Nguyễn Văn Tuấn (2013), Từ nghiên cứu
đến công bố: kỹ năng mềm cho nhà khoa học, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí
Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
7. Nguyễn Văn Tuấn (2013), Tự sự của
người làm khoa học, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
8. Nguyễn Văn Tuấn (2014), Phân tích dữ
liệu với R, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
9. Vũ Văn Viên (2015), “Các loại hình phương pháp luận trong lịch sử”,
Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, Số
05, Hà Nội.
[1]
Nguyễn Văn Tuấn (2013),
Từ nghiên cứu đến công bố: kỹ
năng mềm cho nhà khoa học, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Tp.
Hồ Chí Minh.
[2]
Nguyễn Văn Tuấn (2013),
Từ nghiên cứu đến công bố: kỹ
năng mềm cho nhà khoa học, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Tp.
Hồ Chí Minh, tr. 361-370.
[3]
Đinh Thị Mai (2015), “Các chức
năng tố tụng hình sự Việt Nam: nhìn từ lý thuyết chức năng”,
Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội,
số 5, tr. 10 -15.
[4]
Đinh Thị Mai (2015), Tlđd, tr.
18.
[5]
Vũ Văn Viên (2015), “Các loại
hình phương pháp luận trong lịch sử”,
Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội,
Số 05, Hà Nội, tr. 59-64.
[6]
Vũ Cao Đàm (2008),
Phương pháp luận nghiên cứu khoa
học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, Tr. 55, 56.
[7]
Học viện Khoa học xã hội (20I5),
Luận án Tiến sĩ Luật học, Chuyên ngành:
Luật Hiến pháp và luật hành chính.
[8]
Theo quy định của Nhà nước, trước
khi công bố các đề tài lớn như đề tài cấp Nhà nước, đề tài Luận án, các
Dự án nước ngoài,… các công trình này phải công bố một báo cáo khoa học
về những vấn đề cốt lõi, liên quan trực tiếp để dư luận xã hội bình luận
hoặc có những phản hồi. Đây cũng chính là cách thăm dò dư luận xem tính
thực thi của công trình đến đâu.
[9]
Đinh Thị Mai (2015), “Các chức
năng tố tụng hình sự Việt Nam: nhìn từ lý thuyết chức năng”,
Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội,
số 5, Hà Nội.
[10]
Tuy nhiên, phần lớn trong số
những gì tôi được đọc và tìm hiểu thì không lột tả được hai vấn đề cốt
lõi của một nghiên cứu là khẳng định được phương pháp nghiên cứu tác giả
chọn và quan trọng, đưa ra được những cái mới thực chất. Phần nhiều là
những mô tả, tổng quan những gì đã được nghiên cứu rồi đưa ra những
Chương vô thưởng, vô phạt đề xuất, kiến nghị