Một số ý kiến về phương pháp giảng dạy cho đối tượng là cán bộ công chức Tòa án nhân dân
Nguyễn Anh Thư - Khoa Công chức
| Nguyễn Anh Thư - Khoa Công chức Tòa án |
I/
THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO CỦA HỌC VIỆN TÒA ÁN
Ngày 30/7/915, Thủ tướng Chính phủ đã
ký
quyết định thành
lập Học viện Tòa án trên cơ sở Trường Cán bộ Tòa án. Học
viện Tòa án có trụ sở chính tại thành phố Hà Nội.
Học viện Tòa án là cơ sở giáo dục đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc
dân trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao.
Về công tác đào tạo, bồi dưỡng,
bên cạnh những thành công đã đạt được còn khá nhiều điều bất cập. Trong đó, tồn
tại đáng chú ý là chất lượng đào tạo vẫn còn chưa được như mong muốn do tài
liệu, giáo trình giảng dạy chưa hoàn thiện và đặc biệt là đội ngũ giảng viên
cơ hữu
còn rất thiếu lại chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc giảng dạy.
Đa
số giảng viên là kiêm nhiệm nên việc dành thời gian cho
việc nghiên cứu
bài giảng,
soạn giáo án, nghiên cứu về phương pháp cũng như các kỹ năng giảng dạy còn chưa
được đầu tư và quan tâm nhiều.
Chính vì vậy,
việc
sử dụng phương pháp giảng dạy nào cho phù hợp với đối tượng học
viên là
Thư ký, Thẩm tra viên, Thẩm phán…và các chức danh khác hiện đang trực tiếp làm
công tác chuyên môn
tại Tòa án nhân dân các cấp để đảm bảo chất lượng đào tạo tốt nhất
là vấn đề đã và đang đặt ra cần phải giải quyết.
Hiện nay, phương pháp giảng dạy của chúng ta
chủ yếu
là
phương pháp thuyết trình.
Mặc
dù,
các giảng viên đã sử dụng các sline trên màn hình máy chiếu để thuyết trình
nhưng về cơ bản chỉ
tập trung vào kỹ năng tư duy phân tích,
nghĩa là dạy cho người học cách hiểu các khái niệm, các nội dung đã được nêu rõ
trong các quy định của pháp luật, thảo luận theo phương pháp định sẵn, loại bỏ
những hướng đi không đúng, tìm ra câu trả lời đúng nhất mà chưa chú trọng đến
việc giới thiệu, yêu cầu, bắt buộc người học phải tham khảo những tài liệu gì.
Phương pháp giảng dạy này đã làm mất đi tính chủ động, tích cực, sự hứng thú
trong học tập của học viên.
Hậu quả của phương pháp giảng dạy theo kiểu truyền thống
như
trên
dẫn đến sự thụ động của người học trong việc tiếp cận
kiến thức.
Sự thụ động này là nguyên nhân tạo cho người học sự trì trệ, ngại đọc tài liệu,
ngại tranh luận, thiếu khả năng thuyết trình, lười tư duy và thiếu tính sáng tạo
trong tư duy khoa học, thậm chí có thể họ còn quan niệm rằng chỉ cần học những
gì giảng viên giảng trên lớp là đủ… Ngoài ra,
sự thụ động của họ còn thể hiện qua phản ứng của họ đối với bài giảng của giảng
viên trên lớp,
đó là đa
phần
học viên
chấp nhận tất cả những gì giảng viên trình bày,
sự
giao tiếp trao đổi thông tin trong lớp học nhiều khi chỉ mang tính một chiều.
Từ thực tế trên cho thấy để nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao vị thế của Học
viện Tòa án thì việc đổi mới phương pháp giảng dạy là việc làm cấp thiết và cần
tiến hành một cách đồng bộ. Đổi mới phương pháp giảng dạy sẽ cung cấp những cơ
hội đặc biệt để
cả giảng viên và học viên
nhận thức rõ những giá trị
và mục đích của chương trình đào tạo,
ý thức được trách nhiệm của mình trong việc dạy và học.
Việc đổi
mới
phương pháp giảng dạy cũng đặt ra
yêu cầu giảng viên
phải
không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết, năng lực chuyên môn,
kỹ năng sư phạm...để
đảm bảo nâng cao
chất lượng đào tạo của Học viện Tòa án.
Trong đó,
vai trò của người giảng viên trở thành nhân tố kích thích
sự say mê nghiên cứu, học tập
của học viên, mài sắc thêm năng lực
chuyên môn, tính
độc lập
trong công việc,
tăng cường khả năng tổ chức, sử dụng kiến thức,
khả năng
thực hành ....
Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy mới đòi hỏi
giảng viên
phải có sự
chuẩn bị kỹ càng
những tài liệu,
những văn bản pháp luật liên quan đến bài giảng và những ví dụ về thực tiễn xét
xử, giải quyết các loại
vụ
án.
Những tài liệu này phải gắn với các phương pháp kiểm tra mới nhằm khuyến khích
không chỉ khả năng nghiên cứu, phân tích, đánh giá các tình huống cần xử lý theo
quy định của pháp luật
và cả
các kỹ năng thực hành của học viên.
II/
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
CHỦ ĐỘNG,
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Chúng ta đều nhận thức được phương pháp giảng dạy là những cách thức truyền đạt
kiến thức giữa người giảng và người học, nhờ đó mà người học nắm vững được nội
dung, kiến thức, kỹ năng cần thiết của môn học.
Phương
pháp giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến
chất lượng đào tạo. Một phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện
để giảng viên, và người học phát huy hết khả năng của mình trong việc truyền
đạt, lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy. Một phương pháp giảng dạy khoa học
sẽ làm thay đổi vai trò của người thầy đồng thời tạo nên sự hứng thú, say mê và
sáng tạo của người học.
Hiện nay, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, chúng ta đang
sử dụng một số các phương pháp giảng dạy như:
- Phương pháp giảng dạy truyền thống (là việc giảng viên chủ động truyền đạt
kiến thức, kỹ năng còn người học tiếp thu một cách thụ động);
- Phương pháp giảng dạy hiện đại ( là việc giảng viên trong quá trình giảng đã
sáng tạo phương pháp giảng dạy mới nhằm đạt hiệu quả cao);
- Phương pháp giảng dạy thụ động (là việc giảng viên truyền đạt kiến thức, độc
thoại, đặt câu hỏi và áp đặt kiến thức có sẵn, độc quyền đánh giá cho điểm, học
viên học thuộc một cách máy móc);
- Phương pháp giảng dạy tích cực ( là việc tự mình tìm ra kiến thức, giảng viên
đối thoại, hợp tác, trao đổi với học viên và khẳng định kiến thức do học viên
tìm ra…).
Ngoài ra, để việc giảng dạy có hiệu quả, chúng ta cũng có thể kết hợp phương
pháp giảng dạy truyền thống với những phương pháp giảng dạy hiện đại khác… Tuy
nhiên, qua nghiên cứu thực tiễn, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng phương pháp
giảng dạy cũ hay mới đều có những ưu điểm và hạn chế khác nhau. Do vậy, sử dụng
phương pháp giảng dạy nào thì cũng cần phải phù hợp với nội dung bài học, phù
hợp với đối tượng học viên là ai và phù hợp với chương trình đào tạo, bồi dưỡng
cụ thể…
Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số phương pháp giảng dạy để các
giảng viên cùng trao đổi, góp ý và lựa chọn.
1. Phương pháp người học là trung tâm
Đây là phương pháp đặt học viên vào vị trí trung tâm. Phương pháp này bắt đầu
với việc giảng viên phải tìm hiểu các học viên của mình về trình độ, năng lực,
nhu cầu được cập nhật kiến thức... Giảng viên là người hướng dẫn các học viên
cách tiếp cận kiến thức chuyên môn, cùng nhau trao đổi những nội dung bài học và
đánh giá tiến độ học của học viên so với mục tiêu đặt ra của bài học, giúp cho
người học có được các kỹ năng cơ bản để học tập, nghiên cứu. Phương pháp này tạo
cho học viên tính chủ động nghiên cứu, học tập và chủ động tiếp cận kiến thức;
học viên phải có trách nhiệm với việc học của bản thân. Với phương pháp này
giảng viên đóng vai trò là người hướng dẫn học viên trong quá trình học.
Phương pháp người học là trung tâm mang đến nhiều lợi ích, trước hết nó loại bỏ
cách dạy và học: " Giảng viên chủ động nói, học viên nghe một cách thụ động",
khuyến khích sự sáng tạo từ giảng viên và học viên một cách tối đa, đồng thời
tạo nên sự thân thiện giữa giảng viên và người học thông qua việc tăng cường
trao đổi, đối thoại qua lại. Phương pháp người học là trung tâm tập trung sự
tham gia nhiệt tình, chủ động của người học trong suốt quá trình khám phá tìm
tòi, đồng thời tạo điều kiện để người học có cơ hội trình bày, mạnh dạn, tự tin
đưa ra ý kiến bảo vệ quan điểm, nhận thức của mình.
Với phương pháp giảng dạy này, giảng viên đóng vai trò tương tác chính giữa học
viên và môi trường học, định hướng đối với nội dung bài học và tư duy nghiên
cứu. Giảng viên tạo cơ hội để học viên cộng tác với nhau trong khi học, tạo cơ
hội để học viên được tiếp xúc với môi trường chuyên môn, gặp gỡ trao đổi với
những người đang hoạt động trong những lĩnh vực chuyên môn để học viên tạo ra
các mối tương tác xã hội, tôn trọng tính đa dạng và phát huy lối tư duy linh
hoạt. Qua việc tiếp xúc, hợp tác
giữa giảng viên hướng dẫn với các học viên và với những người đang hoạt động
chuyên môn, cá nhân người học sẽ có cơ hội tiếp thu kiến thức xã hội, trình độ
chuyên môn, có khả năng nhận thức và tư duy phản ánh tốt. Từ đó, xác định được
mục tiêu học tập, chủ động phát triển trình độ hiểu biết và hoàn thiện bản thân
hơn.
2. Phương pháp làm việc nhóm:
Trong phương pháp giảng dạy này, giảng viên cung cấp cơ sở lý thuyết nền tảng,
học viên được chia theo nhóm từ 5 đến 10 học viên một nhóm. Mỗi nhóm sẽ chọn
(hoặc được giao) một đề tài nào đó có liên quan đến nội dung bài học rồi tự phân
chia công việc trong nhóm cho các thành viên để tiến hành việc tìm hiểu những
nội dung liên quan đến đề tài qua tài liệu, giáo trình, văn bản quy phạm pháp
luật ... tìm hiểu thực tế xem các đơn vị, cơ quan chuyên môn hiện đang thực hiện
công việc liên quan đến đề tài như thế nào với những bằng chứng là thông tin, số
liệu, hình ảnh thực tế. Cụ thể, thông qua tiếp cận trực tiếp, thông tin trên
Internet… Nhóm sẽ hội ý để nhận định, đánh giá, phân tích nội dung đề tài trên
cơ sở lý luận, xác định cách thức áp dụng pháp luật trong thực tiễn cũng như tìm
ra những hạn chế, ưu điểm hay vướng mắc về phương thức xử lý tình huống và căn
cứ áp dụng pháp luật mà đề tài (nội dung chương trình học) đặt ra… Sau đó, các
nhóm sẽ viết lại thành báo cáo môn học kèm nhận xét, đánh giá hay đưa ra ý kiến
của nhóm về đề tài này. Cuối cùng, các nhóm sẽ thay phiên nhau trình bày nội
dung báo cáo mà nhóm đã thực hiện để nhận được những ý kiến đóng góp hoặc câu
hỏi chất vấn của các nhóm khác và của giảng viên. Nhóm sẽ thảo luận và trả lời
các câu hỏi được đặt ra, giảng viên sẽ hỗ trợ thêm khi có những vấn đề còn chưa
thống nhất hoặc đưa ra kết luận đối với những nội dung còn gây tranh cãi…
Phương pháp làm việc nhóm sẽ kích thích vai trò chủ động của người học. Học viên
là người chủ động tìm tòi, suy nghĩ, nhận định, phân tích, tổng hợp, đánh giá…
đề tài của nhóm mình và cả đề tài của các nhóm khác.
3. Phương pháp giảng dạy bằng tình
huống:
Tình huống là một hoàn cảnh thực tế trong đó các chủ thể cần phải đưa ra quyết
định. Phương pháp giảng dạy bằng sử dụng tình huống thích hợp với những bài
giảng về kỹ năng. Các tình huống tóm tắt những áp lực và khía cạnh khác nhau mà
chủ thể đó phải cân nhắc khi ra quyết định với những thông tin thường không hoàn
chỉnh hoặc mâu thuẫn vào lúc đó. Một số thông tin trong tình huống có thể được
cố tình bỏ sót, cho phép tình huống có thể có nhiều phương án để học viên buộc
phải tìm biện pháp xử lý.
Tình huống thường trình bày dưới hình thức một sự mâu thuẫn/xung đột, đặc biệt
là sự căng thẳng giữa những phương án hành động khác nhau mà những phương án này
có thể tạo ra những quan điểm, lợi ích và những giá trị khác nhau trong sự mâu
thuẫn và nó đòi hỏi phải được giải quyết bằng một quyết định.
Hiện nay, Học viện Tòa án đã sử dụng các tình huống là những phiên tòa thực tế,
các phiên diễn án, các phiên hòa giải…… được ghi lại trên băng, đĩa hình để đưa
vào bài giảng dưới dạng trình chiếu.
Ngoài ra, giảng viên có thể đưa ra những tình huống yêu cầu các học viên đóng
vai của các nhân vật và đưa ra một hoặc nhiều cách thức xử lý. Phương pháp này
cũng đã được Học viện Tòa án áp dụng đối với chương trình đào tạo Thẩm phán và
Thư ký Tòa án ( diễn án, diễn phiên hòa giải, diễn tình huống khi tiếp đương sự,
khi nhận đơn khởi kiện…)
Phương pháp tình huống là một quá trình gồm ba bước: Chuẩn bị cá nhân, thảo luận
nhóm nhỏ và thảo luận cả lớp. Học bằng tình huống là phương pháp học dựa trên cơ
sở thảo luận. Nó cho phép người tham dự học bằng cách thực hành. Bằng việc đóng
vai các nhân vật trong tình huống, học viên có cơ hội nhập vai và gánh vác trách
nhiệm của những con người cụ thể để đưa ra cách thức thực hiện hay một quyết
định cụ thể.
Phương pháp tình huống cho phép học viên tham gia vào quá trình ra quyết định mà
người ta phải thực sự đương đầu trong một tổ chức thật, có quyền sở hữu, cảm
giác được áp lực, nhận rủi ro và trình bày ý tưởng của mình với người khác giúp
buổi học có sự trao đổi thông tin đa chiều. Các tình huống giúp học viên phát
triển lòng tự tin, khả năng suy nghĩ độc lập và hợp tác trong công việc với đồng
nghiệp.
Phương pháp tình huống cũng là công cụ tuyệt vời để giảng viên kiểm tra, đánh
giá kiến thức về lý luận, khả năng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nhận thức xã
hội và là cơ sở đánh giá khả năng hoàn thành nhiệm vụ của học viên.
III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LƯU Ý KHI TRIỂN KHAI
CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CHỦ ĐỘNG
- Mỗi chương trình đào tạo, mỗi môn học có thể áp dụng linh hoạt và đa dạng các
hình thức học tập. Mỗi một phương pháp giảng dạy đều nhấn mạnh lên một khía cạnh
nào đó của quá trình học tập. Theo nhận thức của chúng tôi, cho dù các phương
pháp giảng dạy thể hiện hiệu quả như thế nào thì nó vẫn tồn tại một vài khía
cạnh mà người học và người dạy chưa khai thác hết. Chính vì thế mà không có một
phương pháp giảng dạy nào được cho là lý tưởng. Mỗi một phương pháp đều có ưu
điểm và hạn chế nhất định, do vậy người giảng nên xây dựng cho mình một phương
pháp giảng dạy riêng phù hợp với mục tiêu, bản chất của vấn đề cần trao đổi, phù
hợp với thành phần, đối tượng, các nguồn lực, công cụ dạy-học sẵn có và cuối
cùng là phù hợp với sở trường, sở thích của mình.
- Áp dụng các phương pháp giảng dạy cũng cần tính tới điều kiện tổ chức lớp học,
các phương pháp giảng dạy trên tỏ ra hiệu quả đối với các lớp học ít người,
chừng khoảng 40 – 50 học viên. Khi triển khai các phương pháp này tại các lớp
học đông hơn cần có những giúp đỡ của trợ giảng hoặc các thiết bị kỹ thuật điện
tử.
- Vai trò của giảng viên là phải tạo ra được các cơ hội học tập, thông qua các
hoạt động đa dạng, kích thích học viên khám phá, áp dụng, phân tích và đánh giá
các nội dung bài học hơn là truyền đạt thông tin một chiều.
- Có nhiều phương pháp giảng dạy cải tiến giúp học viên học chủ động và trải
nghiệm, mỗi phương pháp đều có những mặt thuận lợi và khó khăn riêng. Tùy vào
từng mục tiêu và điều kiện cụ thể, giảng viên sẽ phối hợp linh hoạt các phương
pháp trong quá trình giảng dạy của mình.
Có thể nói, các phương pháp giảng dạy cải tiến giúp chương trình đào tạo đạt
được các mục tiêu chuẩn, nghĩa là sau khi xây dựng chuẩn chương trình đào tạo
thì đối với giảng viên việc “dạy cái gì”
không còn là quan trọng mà điều quan trọng phải là “dạy
như thế nào”. Có một câu danh ngôn mà chúng tôi luôn tâm đắc khi giảng bài,
đó là: “Người thầy trung bình chỉ biết
nói, người thầy giỏi biết giải thích, người thầy xuất chúng biết minh họa và
người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng”. Và chúng tôi cho rằng:
Phương pháp giảng dạy tích cực nhất đó
chính là tinh thần trách nhiệm, sự nhiệt tâm, cách truyền đạt khoa học mang lại
cảm hứng học tập cho học viên chính là phương pháp giảng dạy hiệu quả nhất.