URL: http://hvta.toaan.gov.vn/portal/page/portal/hvta/27676686/27677461?pers_id=28346379&item_id=331122050&p_details=1
 
Tổng quan về hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên gắn với quá trình hình thành, phát triển của Học viện Toà án
22/06/2026-09:00:00 AM
 
 ThS

                                                  ThS. Dương Thị Huế[1]

I. Mở đầu

Tại các cơ sở giáo dục đại học, hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên không chỉ là nhiệm vụ bắt buộc mà còn là thước đo phản ánh năng lực học thuật, trình độ chuyên môn và mức độ đóng góp của cơ sở đào tạo đối với sự phát triển của nền tri thức nhân loại. Học viện Tòa án (HVTA), cơ sở đào tạo trực thuộc Toà án nhân dân có chức năng chính là đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho hệ thống Toà án nhân dân - hoạt động NCKH của giảng viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thông qua hoạt động NCKH, giảng viên không chỉ củng cố, mở rộng kiến thức chuyên môn mà còn góp phần định hình bản sắc học thuật và uy tín của Học viện trong hệ thống các cơ sở đào tạo luật và tư pháp, đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ công tác xét xử và cải cách tư pháp trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.

Từ khi thành lập đến nay, việc nâng cao chất lượng NCKH của đội ngũ giảng viên HVTA luôn được Lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao, Ban Giám đốc Học viện đặc biệt quan tâm, hoạt động này đã đạt được những kết quả bước đầu như phong trào dần đi vào ổn định, số lượng đăng ký đề tài khoa học, hội thảo khoa học các cấp liên tục tăng qua các năm, hoạt động viết sách, giáo trình và tài liệu bồi dưỡng cũng có những khởi sắc,… Tuy nhiên, so với tiềm năng của Học viện thì những kết quả này còn khá khiêm tốn. Do đó, việc khảo cứu tổng quan hoạt động NCKH của giảng viên gắn với quá trình hình thành và phát triển của HVTA không chỉ giúp nhìn nhận những kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra, mà còn tạo nền tảng khoa học cho việc hoạch định chiến lược, đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động NCKH của giảng viên trong giai đoạn mới.

II. Kết quả nghiên cứu

1. Khái quát về sự hình thành và phát triển của Học viện Toà án

HVTA có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời (1956 - 2025). Tiến trình phát triển của Học viện có thể được khái quát thông qua các mốc thời gian tiêu biểu, phản ánh những bước chuyển quan trọng về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và vị thế của HVTA trong hệ thống đào tạo pháp luật và tư pháp của Nhà nước.

(1) Ngày 13/9/1945, Hồ Chí Minh - Chủ tịch Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã ký ban hành Sắc lệnh số 33c/SL về việc thành lập Tòa án quân sự trong phạm vi cả nước. Trong giai đoạn này, đội ngũ cán bộ trong ngành tư pháp đã được hình thành như thẩm phán khu, thẩm phán tỉnh, thẩm phán huyện, tuy nhiên đa số cán bộ chưa được bồi dưỡng về nghiệp vụ. Bối cảnh đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải xây dựng một cơ sở chuyên bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ Tư pháp.

(2) Ngày 29/12/1956, tại công văn số 628/4A ngày 29/12/1956 của Thủ tướng Phủ đã cho phép Bộ Tư pháp được mở trường huấn luyện cán bộ[2]. Tại Điều 2, Nghị định số 01-CP ngày 11/2/1960 của Chính phủ quy định về nhiệm vụ và tổ chức của Bộ Tư pháp gồm có: 1. Vụ Tổ chức cán bộ, 2. Vụ Tuyên giáo, 3. Vụ nghiên cứu pháp luật, 4. Trường cán bộ tư pháp, 5. Văn phòng. Như vậy, có thể khẳng định tiền thân của Học viện Toà án là Trường Cán bộ tư pháp trực thuộc Bộ Tư pháp được thành lập vào ngày 29/12/1956. Các nhiệm vụ về đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cán bộ Tư pháp đã được triển khai thực hiện như nghiệp vụ hành chính tư pháp các cấp, nghiệp vụ Toà án nhân dân các cấp; nghiệp vụ Viên Công tố các cấp[3]. Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng thực hiện thông qua các hội nghị học tập hoặc các lớp huấn luyện ngắn hạn từ 3 đến 4 tháng và được tổ chức trong cả nước. Đây chính là tiền đề quan trọng, đặt nền móng cho các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ các chức danh tư pháp được triển khai sau này.

(3) Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 18/LCT công bố Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trong đó không còn sự tồn tại của Bộ Tư Pháp. Đồng thời tại Sắc lệnh số 19/LCT ngày 26/7/1960 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà công bố Luật tổ chức Toà án nhân dân, theo Điều 21 của Sắc lệnh này thì một trong những thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao là “…nghiên cứu những quy định về tổ chức tư pháp, thủ tục tố tụng, luật hình sự, dân sự, phụ trách việc huấn luyện, đào tạo cán bộ Toà án nhân dân và phụ trách việc tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân…”. Dó đó, có thể hiểu đến thời điểm này khi Bộ Tư pháp bị giải thể thì Trường Cán bộ tư pháp có chức năng đào tạo, bồi dưỡng tư pháp đã do Toà án nhân dân tối cao quản lý.[4]

(3) Sau năm 1973, Trường Cán bộ tư pháp đổi tên thành Trường Cán bộ Toà án, có trụ sở tại Hà Nội, sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Trường Cán bộ Toà án cơ sở 2 được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh. Hai cơ sở này chủ yếu mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng có trình độ sơ cấp 6 tháng và trung cấp 12 tháng. Trong quá trình này, Trường đã mời các nhà chính trị, các chuyên gia pháp luật, chuyên gia khoa học xã hội trong nước cũng như các chuyên gia nước ngoài đến từ Liên Xô, Trung Quốc, … sang giảng bài cho nhiều khóa đào tạo, bồi dưỡng.

(4) Năm 1979, Trường được nâng lên thành Trường Cao đẳng Tòa án và mở hệ đào tạo cao đẳng 36 tháng với nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ xét xử chuyên ngành Tòa án làm nguồn bổ sung thẩm phán cho Toà án nhân dân các cấp.

(5) Ngày 22/11/1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 143-HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức Bộ Tư pháp (tức tái thành lập lại Bộ Tư pháp). Theo yêu cầu nhiệm vụ chung, ngày 30/4/1982, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 64/QĐ về việc chuyển giao Trường Cán bộ Toà án tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Toà án nhân dân tối cao cho Bộ Tư pháp quản lý. Ngày 22/5/1982, Bộ Trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 70/TCCB về việc tiếp nhận Trường Cán bộ Toà án tại thành phố Hồ Chí Minh; Ngày 10/8/1982, Chánh án Toà án nhân dân tối cao ban hành Quyết định số 127/QĐ-TA về việc chuyển giao Trường Cán bộ Toà án tại Hà Nội thuộc Toà án nhân dân tối cao sang Bộ Tư pháp quản lý. Ngày 11/10/1982, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 182/QĐ-TC về việc hợp nhất Trường Đại học Pháp lý Hà Nội và Trường Cán bộ Tòa án tại Hà Nội thành Trường Đại học Pháp lý Hà Nội. Chương trình đào tạo của Trường có thời gian là 48 tháng, người học được trang bị hệ thống kiến thức về pháp luật cơ bản chung nhất, sau khi tốt nghiệp các học viên được cấp bằng Cử nhân Luật và một số được tuyển dụng làm việc tại Toà án, đây là nguồn để Chủ tịch nước bổ nhiệm Thẩm phán Toà án các cấp theo quy định của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1992. Từ khi sáp nhập, tuy không còn là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ Toà án, nhưng trong giai đoạn này, việc tập huấn bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm, kỹ năng xét xử vẫn được duy trì thường xuyên qua các hội nghị chuyên đề.

(6) Ngày 23/8/1994, trên cơ sở Nghị quyết số 210/UBTVQH khóa IX ngày 20/5/1994 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn thành lập lại Trường Cán bộ Toà án trực thuộc Toà án nhân dân tối cao, ngày 23/8/1994, Chánh án Toà án nhân dân tối cao ra Quyết định số 100/TCCB về việc thành lập Trường Cán bộ Toà án trực thuộc Toà án nhân dân tối cao. Như vậy sau 38 năm với tiền thân là Trường cán bộ tư pháp, trải qua quá trình phát triển, hợp nhất Trường Cán bộ Toà án đã khẳng định được vị trí vai trò của mình trong hệ thống cơ sở đào tạo bồi dưỡng nói chung và nền tư pháp của nước ta nói riêng.

(7) Ngày 30/7/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1191/QĐ-TTg thành lập HVTA trên cơ sở Trường Cán bộ Tòa án. Đây là một dấu mốc quan trọng, đánh dấu chặng đường phát triển của HVTA. Từ một cơ sở chỉ thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp trong hệ thống Tòa án, HVTA trở thành cơ sở giáo dục đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân và đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ Toà án trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao, góp phần cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho hệ thống Tòa án nhân dân nói riêng và đất nước nói chung.

2. Hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên qua các thời kỳ tiêu biểu

2.1. Giai đoạn từ năm 1956 đến năm 2015

Đây là giai đoạn tiền thân của Học viện Tòa án, diễn ra trong bối cảnh đội ngũ giảng viên của Nhà trường chủ yếu là giảng viên kiêm nhiệm, chưa hình thành được lực lượng giảng viên cơ hữu, chuyên trách. Do những hạn chế về tổ chức và nhân sự, Học viện trong giai đoạn này chủ yếu thực hiện chức năng tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, hoạt động NCKH của giảng viên chưa được chú trọng và còn ở mức độ rất khiêm tốn, chưa trở thành hoạt động thường xuyên và có tính hệ thống.

2.2. Giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2018

Từ năm 2015 đến năm 2018, Học viện Tòa án đã ghi nhận những dấu ấn phát triển nổi bật trong việc thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ trọng tâm là bồi dưỡng các chức danh tư pháp và đào tạo hệ cử nhân chuyên ngành Luật, qua đó mở ra một giai đoạn phát triển có ý nghĩa quan trọng. Trên phương diện bồi dưỡng các chức danh tư pháp, Học viện đã tổ chức nhiều khóa học chuyên sâu, tập trung nhằm trang bị và nâng cao kiến thức pháp luật, kỹ năng xét xử cũng như phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án và các chức danh tư pháp khác. Nội dung các chương trình bồi dưỡng được xây dựng gắn chặt với yêu cầu thực tiễn xét xử, đồng thời thường xuyên cập nhật những quy định pháp luật mới, các vấn đề đặt ra trong tiến trình cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.

Song song với đó, công tác đào tạo hệ cử nhân chuyên ngành Luật trong giai đoạn này cũng có những chuyển biến tích cực. Học viện từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập, đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác trong và ngoài nước. Những nỗ lực này đã tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ cán bộ, giảng viên phát huy năng lực chuyên môn, đổi mới phương pháp giảng dạy và hoạt động NCKH của cán bộ, giảng viên Học viện Toà án đã có những khởi sắc, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và khẳng định vị thế của Học viện trong hệ thống giáo dục pháp luật (Xem thêm bảng 1).

            Năm

 

Loại hình

2015

2016

2017

2018

Đề tài NCKH cấp Học viện

0

0

0

0

Đề tài NCKH cấp Bộ/Vụ

0

2

0

1

Bài viết đăng kỷ yếu hội thảo khoa học các cấp

1

1

3

8

Bài viết đăng tạp chí khoa học

2

3

4

7

Giáo trình/ Sách tham khảo

2

2

0

3

Hội thảo khoa học các cấp

0

2

2

3

Bảng 1. Thống kê các sản phẩm khoa học tiêu biểu của cán bộ,

 giảng viên Học viện Toà án giai đoạn 2015 - 2018

(Nguồn: Phòng Khoa học, thông tin và thư viện tháng 5/2026)

Tuy nhiên, do được hình thành trên nền tảng các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ và phục vụ trực tiếp cho công tác xét xử của các chức danh tư pháp, mục tiêu và đối tượng đào tạo ban đầu mà Học viện Tòa án hướng tới chủ yếu là đội ngũ cán bộ, công chức và Hội thẩm nhân dân đang công tác trong hệ thống Tòa án. Chính vì vậy, trong giai đoạn này, các cơ chế, chính sách cũng như mức độ quan tâm dành cho hoạt động NCKH nói chung và NCKH của giảng viên nói riêng chưa được chú trọng đúng mức. Qua số liệu thống kê trên cho thấy, hoạt động NCKH của giảng viên HVTA trong thời kỳ này còn ở quy mô nhỏ, chưa phát triển xứng tầm với một cơ sở đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực tư pháp. Trong suốt giai đoạn 2015 - 2018, Học viện chưa triển khai đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện, số lượng đề tài cấp Bộ/Vụ rất hạn chế và không ổn định ở các năm. Các sản phẩm NCKH chủ yếu tập trung vào bài viết đăng tạp chí khoa học và kỷ yếu hội thảo, song số lượng còn thấp và không đồng đều. Việc biên soạn giáo trình, sách tham khảo tuy đã được thực hiện nhưng chưa thường xuyên, chưa hình thành được chuỗi sản phẩm gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và đào tạo. Bên cạnh đó, hoạt động tổ chức và tham gia hội thảo khoa học còn hạn chế, chưa trở thành diễn đàn học thuật sôi nổi để giảng viên trao đổi, công bố và phản biện kết quả nghiên cứu.

Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan, gắn với đặc thù chức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ chức và yêu cầu ưu tiên trước mắt của Học viện trong từng thời kỳ phát triển. Trong giai đoạn này, hoạt động NCKH chưa thực sự được phổ biến rộng rãi, chưa được xác định là nhiệm vụ trọng tâm gắn liền với hoạt động giảng dạy và phát triển đội ngũ giảng viên. Điều đó dẫn đến việc nhiều giảng viên chưa nhận thức đầy đủ vai trò, ý nghĩa của NCKH đối với việc phát triển tư duy pháp lý, nâng cao trình độ chuyên môn và hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp. Cùng với đó, Học viện chưa xây dựng được hệ thống cơ chế, chính sách và các quy định cụ thể nhằm định hướng, quản lý và khuyến khích hoạt động NCKH trong đội ngũ giảng viên. Sự thiếu hụt các quy trình quản lý mang tính bài bản, thống nhất đã tạo ra khoảng trống trong công tác tổ chức và triển khai, khiến hoạt động nghiên cứu chủ yếu mang tính tự phát, rời rạc và chưa được thực hiện đồng bộ, dẫn đến các sản phẩm NCKH của giảng viên Học viện Tòa án còn ở mức rất khiêm tốn (xem thêm bảng 1). Bên cạnh những hạn chế về cơ chế, số lượng giảng viên cơ hữu của Học viện trong giai đoạn này còn tương đối mỏng, lại phải kiêm nhiệm thêm công tác quản lý, hành chính nên rất khó bố trí thời gian và nguồn lực cho hoạt động NCKH. Đồng thời, việc thiếu các điều kiện bảo đảm cần thiết như kinh phí, tài liệu nghiên cứu, và các diễn đàn học thuật cũng làm thu hẹp phạm vi và hiệu quả của hoạt động nghiên cứu.

Nhìn chung, những yếu tố trên đã khiến hoạt động NCKH của giảng viên HVTA giai đoạn 2015 - 2018 chưa phát huy được vai trò là công cụ quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển đội ngũ giảng viên.

            2.3. Giai đoạn phát triển nghiên cứu khoa học của giảng viên Học viện Toà án (từ năm 2019 đến nay)

Trong giai đoạn này, HVTA đã từng bước xây dựng và triển khai các chiến lược, định hướng phát triển bám sát chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ, qua đó bảo đảm sự thống nhất giữa hoạt động đào tạo và NCKH với các quy định của pháp luật cũng như yêu cầu, xu thế phát triển chung. Theo đó, Học viện đã quán triệt và triển khai các quan điểm, định hướng được xác định tại Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó nhấn mạnh yêu cầu “tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ của các cơ sở giáo dục đại học”. Đồng thời, hoạt động NCKH của giảng viên Học viện được triển khai trên cơ sở các quy định của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 (được sửa đổi, bổ sung năm 2022) và Luật Giáo dục đại học năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018), qua đó tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc tổ chức, quản lý và phát triển hoạt động NCKH trong các cơ sở giáo dục đại học, hướng tới nâng cao năng lực nghiên cứu và khả năng ứng dụng khoa học, công nghệ của đội ngũ giảng viên. Học viện cũng triển khai thực hiện các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Thông tư số 20/2020/TT-BGDĐT ngày 27/7/2020 về chế độ làm việc của giảng viên cơ sở giáo dục đại học công lập và Thông tư số 45/2020/TT-BGDĐT ngày 11/11/2020 về Quy chế xét tặng Giải thưởng khoa học và công nghệ dành cho giảng viên trẻ và sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học. Việc bám sát và triển khai đồng bộ các chủ trương, chính sách, quy định nêu trên đã tạo nền tảng chính trị và pháp lý quan trọng, góp phần thúc đẩy hoạt động NKCH của giảng viên Học viện Tòa án ngày càng phát triển cả về quy mô và chất lượng.

Trên cơ sở quán triệt và cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về khoa học và công nghệ, Học viện Tòa án đã ban hành các quy định nội bộ nhằm tạo hành lang pháp lý và cơ chế quản lý thống nhất đối với hoạt động NCKH trong toàn Học viện. Cụ thể, ngày 16/10/2019, Học viện Tòa án đã ban hành “Quy định quản lý và thực hiện hoạt động khoa học”, tạo cơ sở cho việc tổ chức, quản lý và triển khai các hoạt động khoa học một cách đồng bộ, thống nhất. Sau một thời gian thực hiện, nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, ngày 02/6/2021, Giám đốc Học viện Tòa án đã ban hành Quyết định số 48/QĐ-HVTA Ban hành Quy định quản lý và hoạt động khoa học của Học viện Tòa án thay thế quy định trước đó. Việc kịp thời sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định nội bộ đã góp phần từng bước nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động NCKH, xác định rõ trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân trong quá trình tổ chức thực hiện, đồng thời tạo động lực thúc đẩy đội ngũ cán bộ, giảng viên tích cực tham gia NCKH, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả các sản phẩm khoa học của Học viện.

Bên cạnh đó, trong giai đoạn này, Ban Giám đốc HVTA đã tập trung xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên, đồng thời chú trọng kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động của đơn vị đầu mối quản lý hoạt động NCKH nhằm tạo động lực thúc đẩy phong trào NCKH trong toàn Học viện. Những nỗ lực này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động NCKH mà còn từng bước cải thiện chất lượng đào tạo, hướng tới mục tiêu xây dựng Học viện Tòa án trở thành cơ sở đào tạo và bồi dưỡng có uy tín. Qua đó, có thể khẳng định sự quyết liệt và nghiêm túc của lãnh đạo Học viện Tòa án trong việc tổ chức và triển khai các hoạt động khoa học một cách bài bản, hiệu quả.

Chính nhờ sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ban Giám đốc HVTA, hoạt động NCKH của giảng viên trong giai đoạn này đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Các sản phẩm khoa học không ngừng gia tăng cả về số lượng và chất lượng, phản ánh hiệu quả của các chủ trương, giải pháp thúc đẩy NCKH mà Học viện đã triển khai trong thời gian này.

Trước hết, số lượng đề tài NCKHcấp Học viện được triển khai ngày càng nhiều và có xu hướng gia tăng qua các năm, đặc biệt từ năm 2021 trở đi. Điều này cho thấy sự quan tâm của lãnh đạo Học viện đối với hoạt động NCKH, đồng thời phản ánh sự chủ động, tích cực tham gia nghiên cứu của đội ngũ cán bộ, giảng viên. Bên cạnh đó, mặc dù số lượng đề tài NCKH cấp Bộ và cấp Vụ chưa nhiều, song vẫn được duy trì tương đối ổn định, cho thấy năng lực nghiên cứu của đội ngũ giảng viên Học viện Tòa án từng bước được nâng cao và phạm vi hoạt động khoa học ngày càng được mở rộng. Đáng chú ý, số lượng bài viết công bố trong kỷ yếu hội thảo khoa học và các tạp chí khoa học tăng mạnh, đặc biệt trong giai đoạn 2023 - 2025, phản ánh sự phát triển ngày càng sâu rộng của phong trào NCKH trong đội ngũ giảng viên. Song song với đó, hoạt động biên soạn giáo trình, sách tham khảo cũng được đẩy mạnh, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời khẳng định mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa NCKH với hoạt động giảng dạy và bồi dưỡng tại Học viện Tòa án. Những kết quả đạt được đã tạo nền tảng quan trọng để từng bước nâng cao vị thế, uy tín của Học viện Tòa án với tư cách là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành của hệ thống Tòa án nhân dân (xem thêm Bảng 2).

            Năm

 

Loại hình

2019

2020

2021

2022

2023

2024

2025

Đề tài NCKH cấp Học viện

0

0

2

1

5

6

2

Đề tài NCKH cấp Bộ/Vụ

0

0

1

1

1

1

2

Bài viết đăng kỷ yếu hội thảo khoa học các cấp

1

1

3

8

52

24

30

Bài viết đăng tạp chí khoa học

2

3

4

7

20

48

40

Giáo trình/ Sách tham khảo

2

2

0

3

3

4

8

Hội thảo khoa học các cấp

6

5

4

6

2

6

5

Bảng 2. Thống kê các sản phẩm khoa học tiêu biểu của cán bộ, giảng viên

Học viện Toà án giai đoạn 2019 - 2025

(Nguồn: Phòng Khoa học, thông tin và thư viện tháng 5/2026)

Như vậy, so với giai đoạn 2015 - 2018, hoạt động NCKH của giảng viên Học viện Tòa án đã có bước phát triển rõ rệt cả về quy mô, số lượng và chất lượng. Những kết quả đạt được cho thấy sự quan tâm, đầu tư của Học viện đối với hoạt động NCKH, đồng thời phản ánh sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và năng lực nghiên cứu của đội ngũ giảng viên. Đây là nền tảng quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, khẳng định uy tín của Học viện và đáp ứng yêu cầu đổi mới, cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.

3. Một số vấn đề đặt ra nhằm nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Học viện Tòa án

Hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Học viện Tòa án có vai trò nền tảng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển năng lực tư duy pháp lý và năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên, đồng thời góp phần khẳng định vị thế, uy tín và năng lực học thuật của Học viện trong hệ thống các cơ sở đào tạo pháp luật. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học và yêu cầu ngày càng cao của cải cách tư pháp, NCKH không chỉ là hoạt động bổ trợ mà cần được xác định là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển của Học viện.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hoạt động NCKH của giảng viên tại Học viện Tòa án vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định, chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và yêu cầu đặt ra. Để hoạt NCKH thực sự phát triển theo hướng bền vững, có chiều sâu và gắn kết chặt chẽ với mục tiêu, định hướng phát triển của Học viện Tòa án, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động NCKH là yêu cầu mang tính khách quan và cấp thiết. Do đó, trong bối cảnh hiện nay, Học viện cần lưu tâm đến một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần chú trọng nâng cao năng lực NCKH cho đội ngũ giảng viên Học viện Tòa án theo hướng toàn diện và bền vững. Theo đó, Học viện cần thường xuyên tổ chức các khóa tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về phương pháp NCKH, kỹ năng công bố kết quả nghiên cứu, cũng như khả năng gắn kết NCKH với thực tiễn xét xử và hoạt động tư pháp. Việc cập nhật kịp thời thông tin về các hoạt động NCKH trong và ngoài nước cũng là cơ sở quan trọng giúp giảng viên mở rộng tầm nhìn học thuật và định hướng nghiên cứu phù hợp. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện để giảng viên tham gia thực hiện các đề tài NCKH các cấp, đặc biệt là tham gia cùng các nhà khoa học, giảng viên có kinh nghiệm nghiên cứu, qua đó hình thành cơ chế hỗ trợ, hướng dẫn và chuyển giao kinh nghiệm nghiên cứu trong toàn Học viện. Đồng thời, việc đẩy mạnh tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học, sinh hoạt chuyên môn tại các khoa, bộ môn cần được thực hiện thường xuyên, gắn với việc xây dựng môi trường học thuật lành mạnh và bầu không khí thi đua sôi nổi giữa các phòng, khoa và giảng viên trong hoạt động NCKH. Ngoài ra, Học viện Tòa án cần tăng cường các chương trình hợp tác nghiên cứu với các trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức khoa học trong và ngoài nước nhằm mở rộng không gian học thuật, tạo điều kiện cho giảng viên giao lưu, học hỏi và tiếp cận với các xu hướng NCKH hiện đại. Thông qua đó, không chỉ nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên mà còn góp phần mở rộng mạng lưới hợp tác học thuật, từng bước nâng cao uy tín và vị thế nghiên cứu của Học viện Tòa án.

Thứ hai, cần tiếp tục nâng cao nhận thức của giảng viên về vai trò và ý nghĩa của hoạt động NCKH. Theo đó, NCKH cần được xác định là một hoạt động quan trọng, có vị trí ngang tầm với hoạt động đào tạo, đồng thời là nhiệm vụ bắt buộc và thường xuyên của giảng viên. Trên cơ sở này, cần hướng tới việc hình thành động cơ NCKH mang tính tự giác, chủ động và bền vững, để giảng viên không chỉ thực hiện NCKH nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mà còn coi đây là nhu cầu tự thân, gắn liền với quá trình tự học, tự bồi dưỡng và phát triển năng lực nghề nghiệp lâu dài.

Thứ ba, cần tăng cường đầu tư, hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật và hệ thống tài liệu phục vụ hoạt động NCKH. Đồng thời trang bị và đẩy mạnh ứng dụng các phần mềm kiểm soát trùng lặp, chống sao chép trong NCKH. Việc bảo đảm đầy đủ các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật, nguồn học liệu và kết hợp với kiểm soát chặt chẽ tính trung thực học thuật, không chỉ góp phần nâng cao chất lượng các sản phẩm nghiên cứu mà còn thúc đẩy việc phát huy tư duy độc lập, sáng tạo và ý thức trách nhiệm khoa học của giảng viên Học viện Tòa án.

Thứ tư, đổi mới phương thức triển khai nghiên cứu theo hướng phát triển nhóm nghiên cứu và nghiên cứu chuyên sâu. Học viện cần từng bước xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, có định hướng rõ ràng, tập trung vào những lĩnh vực mũi nhọn, thế mạnh như pháp luật tố tụng, kỹ năng xét xử, án lệ, cải cách tư pháp và ứng dụng công nghệ trong hoạt động xét xử. Việc phát triển các nhóm nghiên cứu chuyên sâu không chỉ tạo điều kiện nâng cao chất lượng của các đề tài nghiên cứu, mà còn bảo đảm tính kế thừa, liên tục và bền vững của hoạt động NCKH tại Học viện Tòa án, qua đó tạo nền tảng cho việc hình thành các hướng nghiên cứu có giá trị học thuật và thực tiễn lâu dài.

III. Kết luận

Hoạt động NCKH của giảng viên tại Học viện Tòa án không chỉ giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng đào tạo mà còn là một cấu phần hữu cơ trong quá trình hình thành, củng cố và phát triển bền vững của Học viện. Trải qua các giai đoạn phát triển, Học viện Tòa án đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách quản lý NCKH, đồng thời tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng thông tin và các điều kiện bảo đảm phục vụ hoạt động nghiên cứu. Những thành quả đạt được không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp mà còn từng bước khẳng định vị thế và uy tín học thuật của Học viện Tòa án trong hệ thống các cơ sở đào tạo pháp luật.

Mặc dù vẫn còn tồn tại những khó khăn và thách thức nhất định, song với định hướng tiếp tục hoàn thiện đồng bộ cơ sở vật chất, phát triển hệ thống học liệu, mở rộng hợp tác nghiên cứu và không ngừng nâng cao năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên, Học viện Tòa án có đầy đủ điều kiện để thúc đẩy hoạt động NCKH phát triển theo hướng chuyên sâu, bền vững và hiệu quả. Trong thời gian tới, hoạt động NCKH của giảng viên sẽ ngày càng gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển của Học viện, góp phần xây dựng môi trường học thuật chuyên nghiệp, năng động và sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp và sự phát triển của xã hội trong giai đoạn mới.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục - đào tạo;

2. Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, được sửa đổi bổ sung năm 2022;

3. Luật Giáo dục đại học năm 2012, được sửa đổi bổ sung năm 2018;

4. Thông tư số 20/2020/TT-BGDĐT ngày 27/7/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định chế độ làm việc của giảng viên cơ sở giáo dục đại học công lập;

5. Thông tư số 45/2020/TT-BGDĐT ngày 11/11/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế xét tặng Giải thưởng khoa học và công nghệ dành cho giảng viên trẻ và sinh viên trong cơ sở giáo dục đại học;

6. Công văn số 847/VP ngày 23/12/1957 của Bộ Trưởng Bộ Tư pháp về việc xin phê duyệt dự toán xây dựng trường Tư pháp;

7. Công văn số 21/TG ngày 02/03/1960 của Bộ Tư pháp về chỉ tiêu đào tạo cán bộ Tư pháp trong năm 1960 và trong kế hoạch 5 năm 1961 - 1965;

8. Sắc lệnh số 18-LCT ngày 30/3/1961 quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức của các Toà án nhân dân địa phương; Quyết định số 56/TG ngày 26/12/1973 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao về tổ chức cụ thể của Trường Cán bộ tư pháp.



[1] Giảng viên Khoa Đại học, Học viện Tòa án.

[2] Công văn số 847/VP ngày 23/12/1957 của Bộ Trưởng Bộ Tư pháp về việc xin phê duyệt dự toán xây dựng trường Tư pháp.

[3] Công văn số 21/TG ngày 02/03/1960 của Bộ Tư pháp về chỉ tiêu đào tạo cán bộ Tư pháp trong năm 1960 và trong kế hoạch 5 năm 1961 – 1965.

[4] Xem thêm Sắc lệnh số 18-LCT ngày 30/3/1961 quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức của các Toà án nhân dân địa phương; Quyết định số 56/TG ngày 26/12/1973 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao về tổ chức cụ thể của Trường cán bộ tư pháp.


In Trang | Đóng cửa sổ