URL: http://hvta.toaan.gov.vn/portal/page/portal/hvta/27676686/27677461?pers_id=28346379&item_id=100493031&p_details=1
 
Chế tài pháp lý đối với hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử
05/05/2015-02:20:00 PM
 
 CHẾ TÀI PHÁP LÝ

CHẾ TÀI PHÁP LÝ

ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

 

                                               

1.     Đặt vấn đề

            Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được coi là một khía cạnh của vấn đề quyền con người[1]. Đây là một hệ quả của cuộc cách mạng tư sản gắn với nhu cầu giải phóng con người, tôn trọng giá trị tự nhiên của con người. Hiện nay, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ thông tin đang ngày càng phát triển thì vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng càng được quan tâm. Trong đó, bảo vệ người tiêu dùng trong Thương mại điện tử là một vấn đề nóng và được đề cập nhiều trong thời gian gần đây. Để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ngoài việc ghi nhận các quyền của người tiêu dùng cũng như trách nhiệm của tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh, pháp luật về hành chính, dân sự và hình sự còn quy định các chế tài xử phạt đối với các hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử nhằm bảo đảm quyền của người tiêu dùng được thực thi trong thực tế.

            2. Thực trạng và pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử

   Công nghệ thông tin là yếu tố tác động sâu sắc đến mọi mặt, mọi lĩnh vực và ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực thương mại. Khái niệm “Thương mại điện tử” đã chính thức xuất hiện trong hoạt động thương mại của các nước, trong các văn bản pháp luật quốc gia và quốc tế[2]. Đây là lĩnh vực có ảnh hưởng không nhỏ đến các công ty, các thương nhân và người tiêu dùng trên toàn thế giới. Tuy nhiên, hoạt động thương mại điện tử không chỉ mang tính chất kinh tế đơn thuần mà còn là đối tượng điều chỉnh của pháp luật. So với các nước trên thế giới, thương mại điện tử ở nước ta còn là lĩnh vực khá mới và pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này cũng chỉ mới xuất hiện trong những năm gần đây[3].

Hoạt động thương mại điện tử mang lại nhiều lợi ích cho người sử dụng mạng, người tiêu dùng có thể tiếp cận hàng hóa trên toàn cầu với nhiều sự lựa chọn, giảm được chi phí về thời gian và tài chính. Ở nước ta số người thực hiện các giao dịch điện tử đang ngày càng tăng với tổng giá trị giao dịch khoảng 300 -400 triệu USD/năm[4]. Ước tính giá trị giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam sẽ đạt khoảng 2-4% tổng mức tiêu dùng quốc nội. Mặc dù giao dịch thương mại điện tử ở nước ta có xu hướng tăng, song số lượng người thực sự tham gia giao dịch và mua bán hàng qua mạng so với số người sử dụng Internet mới chỉ chiếm khoảng 3-4%. Các giao dịch thương mại điện tử chưa được sử dụng phổ biến trong cộng đồng dân cư. Nguyên nhân do thương mại điện tử là một phương thức giao dịch được thiết lập từ xa, thông qua phương tiện truyền thông. Trong mối quan hệ này, người tiêu dùng luôn ở thế yếu so với nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Khi giao kết hợp đồng thương mại điện tử người bán và người mua không biết mặt nhau, vì môi trường điện tử là môi trường mở, giao kết đa chiều và kết nối qua nhiều trung gian nên không có cơ sở tin tưởng; tính năng các website thương mại điện tử còn hạn chế, bảo mật thông tin thấp[5]; người tiêu dùng chưa tạo được thói quen mua sắm qua mạng và vẫn lo lắng khi giao dịch sẽ bị lợi dụng bởi những hành vi thương mại không công bằng, các biện pháp thanh toán không bảo đảm, bị mất hoặc tiết lộ thông tin cá nhân khiến đời sống riêng tư của họ bị xâm phạm... Theo các chuyên gia của cục quản lý cạnh tranh thì nhận thức của người tiêu dùng Việt Nam về công nghệ thông tin cũng như về thương mại điện tử còn hạn chế nên quyền lợi của họ bị xâm hại khi tham gia giao dịch là không tránh khỏi. Thực tế, nhiều gian lận trong thương mại điện tử đã xảy ra, trong đó có việc người mua đã chuyển tiền cho người bán nhưng lại không nhận được hàng do bên bán lừa đảo; các vấn đề về bảo mật, an toàn thông tin cá nhân, hợp đồng mập mờ về giá cả, quảng cáo sai sự thật, chất lượng hàng hóa không đảm bảo, vi phạm quyền lợi người tiêu dùng…là những vấn đề đang tồn tại phổ biến trong giao dịch thương mại điện tử.

          Những bất cập trên, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa 12. Dự thảo 5 Luật Bảo vệ người tiêu dùng đã được đưa ra để thảo luận. Trong quá trình thảo luận vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các đại biểu Quốc hội. Có ý kiến cho rằng, Dự thảo Luật dường như chỉ quy định đối với các giao dịch truyền thống mà chưa tính đến các phương thức kinh doanh mới đang phát triển. Sau kỳ họp thứ 7, Ủy ban khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đã phối hợp với Ban soạn thảo và các cơ quan hữu quan tiến hành nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật theo ý kiến góp ý của đại biểu. Tuy nhiên, sau khi Luật bảo vệ người tiêu dùng được ban hành có thể nhận thấy, vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Mặt khác, hiện nay vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đang là vấn đề được cả xã hội quan tâm, đặc biệt là sau khi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/7/2011. Trên thực tế vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử còn tồn tại nhiều bất cập, chưa giải quyết hết nhu cầu của xã hội song thương mại điện tử sẽ trở thành xu thế tất yếu trong thời đại kinh tế tri thức.

          3. Các chế tài đối với các hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử

3.1. Chế tài hình sự

Khi ứng dụng thương mại điện tử bắt đầu được triển khai rộng rãi thì các hình thức phạm tội trong lĩnh vực này cũng xuất hiện đa dạng, từ lừa đảo trong các giao dịch trực tuyến, giả mạo thẻ ATM, phát tán virus, ăn cắp mật khẩu, đến phá hoại cơ sở dữ liệu của các website còn xuất hiện nhiều vụ tấn công vào các website gây dán đoạn hoạt động hoặc phá hủy toàn bộ cấu trúc dữ liệu, dẫn tới thiệt hại về vật chất và uy tín đối với cả doanh nghiệp và người tiêu dùng. Điển hình là vụ tấn công website www.vietco.com của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại, Dịch vụ và kỹ thuật SGC, website www.nhanhoa.com.vn của Công ty TNHH phần nềm Nhân Hòa và website www.chodientu.com của Công ty Cổ phần giải pháp phần mềm Hòa Bình[6]. Xét từ khía cạnh pháp lý, những hành vi tấn công này có thể xếp vào danh sách hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Điều 44 Luật Cạnh tranh được Quốc hội thông qua ngày 03/12/2004 quy định: “Cấm doanh nghiệp gây rối hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiêp đó” Điều 9 Luật Giao dịch điện tử cũng quy định, nghiêm cấm các hành vi “nhằm phá hoại hạ tầng công nghệ về giao dịch điện tử”.

            Tại điều 226a, 226b Bộ luật hình sự quy định tội truy cập bất hợp pháp vào mạng viễn thông, mạng máy tính, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác và tội sử dụng mạng viễn thông, mạng máy tính, mạng Internet hoặc thiết bị số để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Điều 226b, đưa ra khung hình phạt có tính răn đe khá cao đối với nhiều hành vi gian lận, lừa đảo trong lĩnh vực này như: Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cá nhân, tổ chức để làm giả thẻ tín dụng nhằm rút tiền hoặc thanh toán các dịch vụ; xâm nhập trái phép vào tài khoản của tổ chức, cá nhân để lấy trộm tiền; lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng hoặc thực hiện các hình thức lừa đảo khác nhằm chiếm đoạt tài sản của tổ chức, cá nhân. Mức phạt cao nhất cho hành vi này có thể lên đến tù chung thân, kết hợp với phạt tiền một trăm triệu đồng và các hình thức xử lý bổ sung khác. Bộ luật hình sự đưa ra các quy định này là một bước tiến trong việc hình thành khung chế tài cụ thể và có tác dụng răn đe đối với những hành vi gian lận, lừa đảo hoặc cạnh tranh không lành mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử của nước ta.

3.2. Chế tài hành chính

Chế tài hành chính là biện pháp do cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử chưa được ghi nhận trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính mà chủ yếu vẫn dựa trên cơ sở của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, theo đó chế tài hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm là hình thức xử phạt chính gồm cảnh cáo hoặc phạt tiền, đồng thời có áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả nếu văn bản có quy định. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp này bao gồm: Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm; tước quyền sử dụng hoặc giấy phép, chứng chỉ hành nghề; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi; buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho tính mạng, sức khỏe của con người…Với những quy định trên, biện pháp hành chính đã tạo cơ chế bảo vệ người tiêu dùng và ngăn chặn các hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, với thực trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực thương mại điện tử như hiện nay, mức xử phạt trong chế tài hành chính chưa tương xứng với hành vi và tính chất vi phạm của doanh nghiệp, dẫn đến các quy định này vô hình chung đã trở nên vô hiệu đối với các doanh nghiệp, một số doanh nghiệpc ố tình vi phạm vì lợi nhuận mà họ kiếm được từ hành vi này cao hơn nhiều so với mức xử phạt. Điều này không bảo đảm tính răn đe, giáo dục đối với đối tượng vi phạm chấp hành pháp luật và có thái độ tôn trọng người tiêu dùng. Với hành vi phát tán tin nhắn rác mức xử phạt cao nhất 40 triệu đồng là chưa tương xứng, trong khi đó pháp luật cũng không quy định rõ “mức bồi thường” nên người tiêu dùng vẫn phải gánh chịu nhiều thiệt thòi. Điều này đòi hỏi phải có các quy định nặng hơn về mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dung nói chung và có quy định cụ thể về mức xử phạt đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại điện tử nói riêng.

3.3. Chế tài dân sự

Theo quy định của pháp luật dân sự, người nào gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường tương xứng với mức thiệt hại do mình gây ra[7]. Việc quy định chế tài dân sự để bảo vệ người tiêu dùng trong Bộ luật dân sự là điều hợp lý, phù hợp với lẽ công bằng tự nhiên. Theo đó chế tài về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong pháp luật dân sự là cách thức mà cá nhân có quyền yêu cầu được bồi thường thiệt hại mà mình phải gánh chịu do hành vi gian dối, lừa đảo.. gây ra. Hình thức yêu cầu bồi thường được thực hiện thông qua phương thức hòa giải, thương lượng trực tiếp với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc gửi đơn khởi kiện đến Tòa án để buộc tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà mình phải gánh chịu.

Về nguyên tắc áp dụng chế tài dân sự, người tiêu dùng khi có yêu cầu phải nộp đơn đến Tòa án và phải cung cấp những chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đòi bồi thường của mình. Trên cơ sở các tài liệu chứng cứ, Tòa án chỉ có thể buộc bên bị kiện bồi thường thiệt hại khi thỏa mãn các điều kiện sau:

1) Phải có thiệt hại xảy ra (bao gồm cả thiệt hại về vật chất và tinh thần);

2) Phải có hành vi trái pháp luật;

3) Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật;

4) Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây ra thiệt hại[8], về trình tự thủ tục khởi kiện tại Tòa án tuân theo trình tự và thủ tục chung của pháp luật về tố tụng dân sự.

Trước thực trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử hiện nay, vấn đề người tiêu dùng có yêu cầu khởi kiện và được chấp nhận yêu cầu khởi kiện là rất khó khăn vì thực tế việc giao dịch trên mạng người tiêu dùng rất khó thu thập được chứng cứ để cung cấp cho Tòa án. Đồng thời chưa có một văn bản nào hướng dẫn việc giải quyết tranh chấp liên quan đến thương mại điện tử về thu thập chứng cứ và đánh giá chứng cứ đối với Tòa án. Việc giải quyết tranh chấp thương mại điện tử là vấn đề hết sức phức tạp, khi Tòa án hoặc tổ trọng tài giải quyết các tranh chấp đòi hỏi phải có đầy đủ các chứng cứ liên quan. Để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, hiện nay vấn đề giải quyết tranh chấp trong thương mại điện tử được quy định tại khoản 20 Thông tư 09/2008/TT - BCT, ngày 21 tháng 7 năm 2008 hướng dẫn nghị định thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử với nội dung: Các website thương mại điện tử phải có cơ chế hiệu quả để tiếp nhận khiếu nại của khách hàng liên quan đến hợp đồng được giao kết trên website và công bố rõ thời hạn trả lời đơn khiếu nại; việc giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và khách hàng trong quá trình thực hiện hợp đồng phải dựa trên các điều khoản của hợp đồng được công bố tại website vào thời điểm giao kết hợp đồng; thương nhân không được lợi dụng các ưu thế của mình trên môi trường điện tử để đơn phương giải quyết những vấn đề tranh chấp khi chưa có sự đồng ý của khách hàng. Tại Điều 52 Luật giao dịch điện tử cũng quy định: Nhà nước khuyến khích các bên có tranh chấp trong giao dịch điện tử giải quyết thông qua hòa giải; trong trường hợp các bên không hòa giải được thì thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết theo thủ tục chung. Để bảo đảm quyền lợi người tiêu dung được quyền khởi kiện khi có tranh chấp pht sinh, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng đưa ra các quy định mang tính chất tiến bộ. Trong đó quy định thương nhân và người tiêu dùng có thể thương lượng, hòa giải, giải quyết bằng phương thức trọng tài và giải quyết bằng tòa án. Đặc biệt Luật đã quy định áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết các tranh chấp về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong trường hợp vụ án dân sự đơn giản, cá nhân là người tiêu dùng khởi kiện; tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng khi bị khởi kiện, vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng[9]. Quy định này giúp cho những tranh chấp nhỏ, đơn giản được giải quyết nhanh chóng, thuận tiện.

Thực thi các cơ chế về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bao gồm nhiều cơ chế và cách thức khác nhau, từ việc xử lý hành chính các hành vi vi phạm, sử dụng quy trình tố tụng dân sự, cho đến cơ chế kiểm soát và tự điều chỉnh mà doanh nghiệp tự nguyện tham gia. Với đặc thù của môi trường mạng, việc áp dụng cơ chế kiểm soát và tự điều chỉnh là biện pháp hiệu quả và được sử dụng phổ biến ở các nước trên thế giới nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử. Bên cạnh các thiết chế khác nhau về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, việc xây dựng các cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả là một trong những yếu tố cốt lõi nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thực thi pháp luật về thương mại điện tử. Việc hình thành cơ chế giải quyết tranh chấp sẽ giúp người tiêu dùng tin tưởng mua sắm trực tuyến và thanh toán điện tử.. góp phần thúc đẩy thương mại điện tử phát triển. Tuy nhiên, một trong những vấn đề khó nhất trong thương mại điện tử liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là tính không bị giới hạn về không gian. Đặc tính này đã tạo nên tính cách mạng cho truyền thông và thương mại nhưng cũng dẫn đến khi giải quyết tranh chấp việc xác định nơi tiến hành giao dịch là một điều khó khăn.

Sự phát triển của những cơ chế giải quyết tranh chấp có thể giúp tránh được những thủ tục phức tạp hiện hành, để giải quyết những khiếu nại của người tiêu dùng một cách nhanh chóng, dễ dàng và hợp lý cần thiết lập những cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến hiệu quả nhằm tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng.

            4. Những điểm hạn chế của chế tài pháp lý đối với vấn bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử

   Quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử nói riêng chưa có những chế tài đặc thù, đủ sức răn đe để xử lý các hành vi vi phạm: Theo quy định của pháp luật hiện hành, các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung có thể phải chịu chế tài dân sự, hành chính và chế tài hình sự. Thực tiễn công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cho thấy các chế tài hiện hành không đủ sức răn đe, giáo dục đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm quyền lợi người tiêu dùng. Bên cạnh đó, mức xử phạt chưa tương xứng với lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được từ hành vi vi phạm, do đó nhiều doanh nghiệp chấp nhận bị phạt để vi phạm[10]. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc xử phạt vi phạm trong lĩnh vực này còn mang tính chất chiếu lệ, chưa đủ sức răn đe. Trong đó, Nghị định 57/2006/NĐ - CP, việc xử lý vi phạm pháp luật về thương mại điện tử được quy định tại Điều 17 với nội dung: Thương nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trong việc sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, đình chỉ hoạt động, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong việc sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Tại Thông tư số 09/2008/TT - BCT, việc xử lý vi phạm được quy định tại Điều 23 như sau: Thương nhân, người sử dụng website có trách nhiệm thực hiện các quy định về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử theo quy định tại thông tư này. Mọi tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về thương mại điện tử, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật.

            Trong Bộ luật hình sự, các hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng được quy định tại chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Chương XVI) và các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Chương XIX). Theo đó “Tội phạm xâm hại quyền lợi của người tiêu dùng là những hành vi sản xuất, buôn bán, phân phối hàng hóa, dịch vụ của thương nhân với động cơ vụ lợi và mục đích lợi nhuận xâm hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, lợi ích kinh tế của người tiêu dùng được quy định trong Bộ luật hình sự”. Tuy nhiên, hiện nay khái niệm về “hàng giả” trong Bộ luật hình sự chưa được làm rõ, chưa có sự phân biệt cụ thể giữa hàng hóa là hàng giả với hàng kém chất lượng. Vì vậy, cần phải có sự phân định rành mạch giữa hàng giả và hàng không bảo đảm chất lượng[11].

Như vậy, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử hiện hành của nước ta, chưa đưa ra được những biện pháp chế tài đặc thù, phù hợp. Đây là một rào cản làm cho việc “điện tử hóa” các giao dịch ở nước ta chậm phát triển. Vấn đề này cần phải được khắc phục để phát huy lợi thế của thương mại điện tử.

Bên cạnh đó, trong một số trường hợp pháp luật về thương mại điện tử của nước ta cũng chưa dự liệu tới một số trường hợp nên gây không ít khó khăn cho quá trình áp dụng chế tài và giải quyết tranh chấp khi có vụ việc xảy ra.

Trường hợp thứ nhất, giao dịch được ký kết với người trong độ tuổi thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

Một thực tế không chỉ ở nước ta mà hầu khắp các nước trên thế giới là hiện nay người sử dụng Internet trong độ tuổi vị thành niên chiếm số lượng rất lớn, chủ yếu tập trung ở các mạng xã hội, facebook hay phần mềm chat. Đặc biệt trong phạm vi các hoạt động đó họ trở thành đối tượng ưu tiên của các nhà quảng cáo; họ có thể được khuyến kích tham gia giao dịch và thực hiện thanh toán qua mạng. Vấn đề quy định về năng lực giao kết hợp đồng của người tham gia giao dịch cần phải được xác định và quy định rõ trong luật, cần tham khảo pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của một số nước Châu Âu như Bỉ[12] hoặc có thể áp dụng theo quy định tại Điều 130 và 133 của Bộ luật Dân sự về người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thực hiện. Trường hợp đối với người chưa thành niên thực hiện giao dịch có thể tính đến một số ngoại lệ như người chưa thành niên thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống hàng ngày.

Trường hợp thứ hai, giao dịch được thực hiện liên quan đến số hóa. Giao dịch thương mại điện tử do người tiêu dùng giao kết thông qua các trang web không chỉ dừng lại ở việc chuyển nhượng các tài sản hữu hình như quần áo, dày dép.. mà còn là các sản phẩm được “số hóa” như nhạc, phim.. Như vậy, Luật Thương mại điện tử hiện hành cần quy định rõ các sản phẩm “số hóa” này là hàng hóa hay dịch vụ. Bởi theo thông lệ chung thì các mặt hàng tiêu dùng là hàng hóa hữu hình[13]. Ngoài ra, cũng cần định nghĩa chính xác và chi tiết hơn nghĩa vụ cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ.

Trường hợp thứ ba, giao kết thương mại điện tử giữa những người tiêu dùng trên nền tảng thiết lập quan hệ. Hiện nay các quy định bảo vệ người tiêu dùng chỉ đề cập đến khi người tiêu dùng ký hợp đồng với các doanh nghiệp hoặc nhà cung ứng dịch vụ còn trong trường hợp người tiêu dùng ký hợp đồng với bên trung gian thì chưa được đề cập. Thực tế, nếu người tiêu dùng ký hợp đồng với một bên chuyên nghiệp cũng sẽ rơi vào thế yếu như trong trường hợp người tiêu dùng ký hợp đồng với các doanh nghiệp, nhà cung ứng dịch vụ.

Các hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng nói chung và vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử nói riêng có vô số các dạng thức khác nhau, khoa học càng hiện đại bên cạnh những mặt hữu ích mà nó mang lại thì cũng xuất hiện không ít những hiện tượng tiêu cực, ảnh hưởng đến quyền lợi của cộng đồng xã hội và quyền lợi người tiêu dùng mà việc liệt kê các hành vi đó là điều không thể. Việc mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường tuy phụ thuộc vào nhu cầu của người tiêu dùng nhưng được kiểm soát và cung cấp bởi các thương nhân mà các thương nhân thường là những người hiểu biết về hàng hóa, dịch vụ của mình hơn so với người tiêu dùng. Vì vậy, khi thiết lập hợp đồng, nhà cung cấp luôn chiếm ưu thế trong việc thuyết phục người tiêu dùng mua hàng hóa, dịch vụ theo những điều khoản mà mình đặt ra và do đó, các bất cập nói trên càng có nhiều cơ hội gia tăng.

Từ thực tế trên, các Bộ, Ban, Nghành, cần nghiên cứu đưa ra biện pháp và cách thức xử lý hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng phù hợp hơn. Đối với Tòa án Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có văn bản hướng dẫn và tập huấn cho thẩm phán và những người làm công tác thực tiễn về phương thức xử lý đối với các loại vụ việc này.

Mặc dù, Pháp luật về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở nước ta còn nhiều hạn chế, song việc phát triển và khai thác hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này là một xu thế tất yếu. Bởi lẽ trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, khi khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng, liên tục cập nhật công nghệ mới, khi dòng thông tin trôi qua không chờ một ai nếu không theo kịp và tận dụng được nó thì mỗi doanh nghiệp, cá nhân sẽ bị rơi vào tình trạng tụt hậu.

                                        Nguyễn Hà

                                                      Khoa Công chức, Trường Cán bộ Tòa án



[1] Trong luật pháp của mình EU thừa nhận việc công dân các nước thành viên được quyền kiện cả quốc gia của mình ra trước Tòa án Châu Âu, đặc biệt trong lĩnh vực nhân quyền.

[2] Mai Hồng Quỳ (2000), Một số vấn đề pháp lý của thương mại điện tử và việc áp dụng ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (02), tr.32.

[3] Trong thập niên 90 giao dịch điện tử còn là điều xa lạ đối với nước ta, chỉ đến đầu thập niên XXI, đặc biệt là trong những năm gần đây cùng với sự bùng nổ của Internet, giao dịch điện tử ở nước ta mới có những bước phát triển.

[4] Chỉ riêng ở công ty Cổ phần vật giá  Việt Nam (một trong 10 doanh nghiệp có website TMĐT hàng đầu hiện nay - vatgia.com) mới thành lập năm 2007, song mức tăng trưởng là 7%/tháng cả về lượng giao dịch và số thành viên tham gia. Tổng giá trị giao dịch mỗi tháng trên vatgia.com hiện nay đạt khoảng 12 triêu USD. (nguồn http:// www vatgia.com)

[5] Trong môi trường điện tử, thông tin cá nhân đã trở thành thứ hàng hóa có giá trị đối với các đối tượng làm ăn phi pháp nhằm khai thác sử dụng trái phép các thông tin này nhằm mưu lợi cá nhân.

[6] Nguồn: http://vinikipedia.org.

[7] Đoàn Văn Tường (2003), Nghiên cứu người tiêu dùng - Những vấn đề về việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr. 99.

[8] Xem: Khoản 1, Mục 1, Nghị quyết NQ 03/2006/NQ - HĐTP ngày 08/7/2006 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

[9] Điều 41 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

[10] Nguồn cục quản lý thị trường - Bộ công thương.

[11] Bộ luật hình sự hiện hành chưa phân biệt cụ thể khái niệm hàng giả và hàng kém chất lượng. Từ đó dẫn đến sự đồng nhất giữa hàng giả về nhãn mác, kiểu dáng, bao bì, vi phạm về đăng ký ( hàng giả về hình thức) với hàng hóa kém chất lượng, hàng hóa độc hại gây nguy hiểm cho sức khỏe người tiêu dùng. Bởi trong thực tế, hàng giả về hình thức không  phải bao giờ cũng là hàng km chất lượng hay độc hại. Ngược lại, hàng thật về hình thức không có nghĩa là hàng hóa kém chất lượng hay độc hại. Mặt khác, trên thị trường hiện nay có nhiều loại hàng hóa không nguồn gốc, không nhãn mác nhưng lại không làm giả một loại hàng nào. Vì vậy, vấn đề hàng giả, đôi khi là câu chuyện của hành vi cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm sở hữu trí tuệ liên quan đến việc xâm hại trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng và quyền lợi nhà sản xuất, chứ không phải là quyền lợi người tiêu dùng.

[12] Xem thêm: Herrve’ Jacquemin, Bảo vệ người tiêu dùng điện tử trong Luật pháp Châu Âu, Hội thảo Pháp ngữ khu vực “Những thách thức về mặt  pháp lý của sự phát triển Công nghệ thông tin và truyền thông: thực trạng và triển vọng” 18-19/11/2009.

[13] Điều 1,$ 2,a) của Chỉ thị 1999/44/CE của Nghị viện Châu Âu và Hội đồng Liên minh Châu Âu, ra ngày 25 táng 5 năm 1999 về một số nội dung liên quan đến việc bán và bảo đảm các mặt hàng tiêu dùng, đăng công báo, số L171 ngày 7 tháng 7 năm 1999. Khái niệm “bán” ở đây thường được hiểu là chuyển giao quyền sở hữu.


In Trang | Đóng cửa sổ