Một số sửa đổi bổ sung cơ bản của Bộ luật hình sự năm 2015 (Phần IV)

5

III/ Một số sửa đổi, bổ sung phần: Các tội phạm của Bộ luật hình sự năm 2015

1. Chương XIII: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia

Chương này gồm 14 điều, từ Điều 108 đến Điều 122. Về cơ bản, Chương này được kế thừa các quy định của BLHS năm 1999. Có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là: Phi hình sự hóa đối với tội “Hoạt động phỉ” (Điều 83 BLHS năm 1999). Trong quá trình xây dựng BLHS năm 2015, có một số ý kiến không đồng tình với việc bãi bỏ tội danh này vì tội hoạt động phỉ có dấu hiệu đặc trưng là “hoạt động vũ trang ở vùng rừng núi, vùng biển vùng hiểm yếu khác, giết người, cướp phá tài sản” và trong thực tế, trong tương lai vẫn xảy ra hành vi phạm tội này. Tuy nhiên, ý kiến này không được chấp nhận vì nếu có các hành vi hoạt động phỉ xảy ra, thì hành vi này được xét xử tùy theo các dấu hiệu của các tội phạm trong Chương này như tội bạo loạn, khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân…

Hai là: Sửa tên tội danh và quy định rõ ràng hơn đối với tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 88 BLHS năm 1999)

Điều 117 tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 05 đến 12 năm:

a) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có gây chiến tranh tâm lý.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Ba là: Bổ sung tội danh mới quy định tại Điều 120

Điều 120 Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân.

1. Người nào tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị tù từ 05 năm đến 15 năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

3.Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự, không phân biệt nam hay nữ, trừ người chuẩn bị phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Bốn là: Bổ sung thêm vào Điều 108 tội phản bội Tổ quốc cụm từ “tiềm lực quốc phòng, an ninh” và điều luật quy định là:

“1. Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiềm lực quốc phòng, an ninh, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”.

Năm là: Sửa tên tội danh tội chống phá trại giam thành tội Chống phá cơ sở giam giữ (Điều 119) vì có thể hành vi được thực hiện ở nhà tạm giam giữ, tạm giam và những nơi đang giam giữ người thực hiện hành vi phạm tội được gọi chung là cơ sở giam giữ.

Sáu là: Hành vi chuẩn bị phạm tội, mức hình phạt đối với các hành vi này được quy định trong từng tội phạm cụ thể của Chương này.

Bảy là: Tất cả các quy định bằng chữ được sửa đổi bằng số trong các điều luật của Chương này. Ví dụ 10 năm đến 20 năm tù thay cho mười năm tù đến hai mươi năm tù.

2. Chương XIV: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

Đây là một Chương lớn, bao gồm 34 điều luật, từ Điều 123 đến Điều 156. So với Chương này của BLHS năm 1999, thì tăng 04 điều. Ngoài việc sửa về kỹ thuật từ chữ sang số, quy định mức hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội của một số điều luật cụ thể, quy định của các tội phạm còn một số sửa đổi, bổ sung quan trọng sau đây:

Điều 123: Tội giết người

Trong quá trình xây dựng BLHS năm 2015, điều luật này đã được thiết kế lại cho phù hợp với hầu hết các thiết kế của các điều luật khác là khoản 1 là cấu thành cơ bản, các khoản tiếp theo là cấu thành tăng nặng. Tuy nhiên, do có nhiều ý kiến khác nhau, nhất là việc tôn trọng, bảo vệ quyền cao nhất của con người là quyền được sống nên BLHS năm 2015 vẫn giữ nguyên thiết kế của Điều 93 BLHS năm 1999.

Khoản 1 Điều 123 vẫn là cấu thành tăng nặng với 16 tình tiết định khung hình phạt từ điểm a đến điểm q. Các tình tiết tăng nặng ở khoản 1 của điều luật này không tăng, giảm, nhưng cần chú ý một số sửa đổi quan trọng trong các tình tiết định khung tăng nặng.

Một là: Giết nhiều người được quy định cụ thể là “Giết 02 người trở lên” (điểm a);

Hai là: Giết trẻ em được sửa là “Giết người dưới 16 tuổi” (điểm c)

Điều 124: Tội giết hoặc  vứt bỏ con mới đẻ

“1. Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà vứt bỏ con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

Tội danh này có một số sửa đổi, bổ sung sau:

Một là: Bổ sung hành vi vứt con mới đẻ ở khoản 2 của điều luật. Chỉ cấu thành tội vứt con mới đẻ nếu có hậu quả xảy ra làm cho đứa trẻ bị vứt bỏ chết.

Hai là: Đứa trẻ bị giết hoặc bị vứt bỏ phải do người mẹ đó đẻ ra, kể cả trường hợp đó là người mang thai hộ vì mục đích thương mại hay nhân đạo. Trường hợp người nhờ mang thai hộ mà giết con mới đẻ (không phải do mình đẻ ra), thì phạm tội giết người.

Ba là: Con mới đẻ được quy định cụ thể là trong 07 ngày tuổi (từ 01 ngày tới 07 ngày tuổi).

Bốn là: Mức hình phạt của tội giết con mới đẻ trong khoản 1 của điều luật này được quy định nặng hơn so với điều luật cũ (tăng từ 02 năm lên 03 năm).

Điều 126: Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

Tội phạm này có một số sửa đổi, bổ sung sau đây:

Một là: Bổ sung hành vi “Vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội”.

Hai là: Giữ nguyên mức hình phạt của khoản 1 và khoản 2 của điều luật cũ, mặc dù có nhiều ý kiến cho rằng đây là một tội ít nghiêm trọng và không cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, để ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi vượt quá này, đồng thời cũng thể hiện việc bảo vệ quyền sống của con người nên điều luật không sửa theo hướng giảm nhẹ hơn mức hình phạt.

Ba là: Giết nhiều người trong khoản 2 được thay bằng “phạm tội đối với 02 người trở lên”. Việc sửa từ “Giết” sang “phạm tội” nhằm giảm bớt sự nặng nề của quy định.

Điều 127: Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ

Tội phạm này có một số sửa đổi sau đây:

Một là: Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại khoản 2 Điều 97 BLHS năm 1999 được quy định rõ hơn, đó là:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai.

Hai là: Mức hình phạt của khoản 1 được nâng lên từ 05 năm đến 10 năm; mức hình phạt của khoản 2 cũng được nâng lên từ 08 đến 15 năm tù. Việc nâng mức hình phạt, coi tội phạm này là tội phạm rất nghiêm trọng ngay trong cấu thành cơ bản nhằm đề cao tính răn đe, phòng ngừa và giáo dục đối với người thi hành công vụ, đồng thời cũng là sự thể hiện việc bảo vệ quyền sống của con người mà Hiến pháp đã quy định.

Điều 128: Tội vô ý làm chết người

Ngoài việc sửa về kỹ thuật “nhiều người” thành “02 người”, sửa chữa thành số, thì điều luật này bổ sung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm ở khoản 1; nhưng lại nâng mức hình phạt tù khởi điểm của khoản này từ 06 tháng tù lên 01 năm tù; mức hình phạt của khoản 2 được giữ nguyên từ 03 năm đến 10 năm tù.

Điều 130: Tội bức tử

Cấu thành cơ bản của tội phạm này không có sửa đổi. Cấu thành tăng nặng ở khoản 2 của tội này được bổ sung tình tiết phạm tội đối với người dưới 16 tuổi và phụ nữ mà biết là có thai.

Mức hình phạt của khoản 1 và khoản 2 được giữ nguyên.

Điều 131: Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát

Điều luật này được sửa về kỹ thuật:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác tự tước đoạt tính mạng;

b) Tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho người khác tự tước đoạt tính mạng của họ

2. Phạm tội làm 02 người trở lên tự sát, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Ngoài việc bổ sung hình phạt cải tạo không giam giữ ở khoản 1, các mức hình phạt tù được giữ nguyên tại điều luật này.

Điều 133: Tội đe dọa giết người

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là: khoản 1 của điều luật nâng mức phạt cải tạo không giam giữ lên 03 năm và nâng mức khởi điểm của hình phạt tù lên 06 tháng.

Hai là: Khoản 2 của điều luật bổ sung thêm tình tiết tăng nặng định khung tại điểm b “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn”.

Ba là: Sửa từ nhiều người thành “đối với 02 người trở lên” và sửa từ trẻ em thành “người dưới 16 tuổi”.

Điều 134: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung sau đây:

Một là: Thay cụm từ “tỷ lệ thương tích” bằng “tỷ lệ tổn thương” cho phù hợp quy định của ngành y tế.

Hai là: Khoản 1 của điều luật sửa điểm a

“a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho 02 người trở lên”.

Ba là: Bổ sung thêm tình tiết ở điểm b

“b) Dùng axít sinfuric (H2S04) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây tương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”.

Bốn là: Bổ sung tình tiết phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc tại điểm k.

Năm là: Sửa điểm l “Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê”.

Sáu là: Tình tiết “có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm” được tách thành hai điểm là:

“m) Có tính chất con đồ”

“n) Tái phạm nguy hiểm”

Bảy là: Bổ sung điểm i “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn”

Tám là: Sửa có tính kỹ thuật tại điểm o “Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân”, thay cho hành vi cản trở.

Chín là: Các khung hình phạt tăng nặng được chia thành 05 khoản vừa bảo đảm việc xác định khung hình phạt đối với từng trường hợp chính xác hơn, vừa bảo đảm việc áp dụng mức hình phạt chính xác hơn khi biên độ của mức hình phạt được rút ngắn lại.

Mười là: Bổ sung, tình tiết tăng nặng ở điểm c khoản 6

“c) Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”.

Mười một là: Khoản 7 của điều luật quy định về xử lý đối với hành vi chuẩn bị phạm tội. Mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Điều 135: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung sau đây:

Một là: Bổ sung hình phạt tiền “từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”; bỏ hình phạt tù. Như vậy, người phạm tội ở khoản 1 Điều này thì chỉ được phép phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm và không được áp dụng hình phạt tù. Điều này cũng có nghĩa là không được phép bắt, giam giữ đối với họ.

Hai là: Khoản 2 của điều luật thu hẹp phạm vi xử lý trong quy định tại điểm a khi bổ sung thêm tỷ lệ tổn thương cơ thể của nhiều người.

“a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%”.

“b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người”.

Điều luật đã bỏ tình tiết “hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác”, cũng là một quy định nhằm thu hẹp phạm vi xử lý và bảo đảm tính minh bạch trong quy định của pháp luật.

Ba là: Mức hình phạt tại khoản 2 được sửa theo hướng giảm nhẹ hơn, cả ở mức tối thiểu và tối đa “thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm” (Luật cũ quy định phạt tù từ 01 năm đến 05 năm).

Điều 136: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.

Điều luật này là một tội ghép của hai tội “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn  hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” và tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội”. Hai tội danh này quy định trong một điều luật, có cùng chế tài hình phạt. Tuy nhiên, khi xét xử, Thẩm phán phải chú ý không tuyên toàn bộ quy định của điều luật mà phải tách riêng và tuyên đúng hành vi phạm tội, kể cả trong trường hợp họ phạm cả hai tội này.

Điều luật có một số sửa đổi ngoài sửa đổi nêu trên:

Một là: Bổ sung hình phạt tiền “từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng” trong khoản 1; giữ hình phạt cải tạo không giam giữ, nhưng nâng mức hình phạt lên 03 năm; bỏ hình phạt cảnh cáo; bỏ hình phạt tù. Do vậy, trong mọi trường hợp, Tòa án không được phép áp dụng hình phạt tù nếu xét xử người phạm tội ở khoản 1 điều luật này.

Hai là: Khoản 2 của điều luật này quy định theo hướng thu hẹp phạm vi xử lý hình sự:

“a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 61% trở lên.

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”.

Ba là: Bổ sung khoản 3

“3. Phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm”.

Điều 137: Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung sau đây:

Một là: Nâng mức hình phạt tối thiểu trong khoản 1 từ 03 tháng lên 06 tháng tù.

Hai là: Khoản 2 của điều luật được quy định cụ thể hơn:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

a) Đối với 02 người trở lên, mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ”.

Điều 138: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung quan trọng sau đây:

Một là: Bổ sung hình phạt tiền “từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng”

Trong khoản 1; nâng mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; bỏ hình phạt cảnh cáo; bỏ hình phạt tù trong khoản 1.

Hai là: Bổ sung khoản 2 của điều luật

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của người từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”.

Ba là: Bổ sung khoản 3 của điều luật

“3. Phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm”.

Bốn là: Bỏ hình phạt bổ sung quy định tại Điều 108 BLHS năm 1999.

Điều 139: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

Đây là một điều luật quy định tội ghép của hai tội “Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp” và “Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc hành chính”.

Khoản 1 của Điều 109 BLHS năm 1999 được thiết kế lại thành 03 khoản tại điều luật này.

Khoản 1 được bổ sung hình phạt tiền “từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”; hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

Khoản 2 quy định mức hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với một trong các trường hợp sau:

“a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của người khác từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”.

Khoản 3 quy định mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm đối với trường hợp “Phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên…”

Điều 140: Tội hành hạ người khác

- Cấu thành cơ bản của tội này được bổ sung hành vi làm nhục người lệ thuộc mình, nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này (Điều 185: Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình).

- Cấu thành tăng nặng của khoản 2 được sửa đổi, bổ sung:

a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.

(Người tàn tật được sửa thành người khác không có khả năng tự vệ)

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 11% trở lên

c) Đối với 02 người trở lên

Gây rối loạn tâm thần và hành vi là một quy định mới của ngành y tế, thực chất đây cũng là một dạng của tổn hại sức khỏe, nhưng ở góc độ tâm thần và hành vi bị rối loạn, được kết luận bằng giám định pháp y tâm thần.

Điều 141: Tội hiếp dâm

- Điều luật này có một sửa đổi quan trọng trong cấu thành cơ bản, đó là quy định “thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân”.

Trước đây, chúng ta quan niệm hành vi giao cấu chỉ bó hẹp trong phạm vi thực hiện quan hệ tình dục giữa hai người khác giới hoặc người nam giới phải thực hiện hành vi giao cấu theo phương pháp truyền thống. Quan niệm này không còn phù hợp với tình hình hiện nay khi mà hành vi quan hệ tình dục không chỉ thực hiện tại bộ phận sinh dục của phụ nữ mà còn có thể thực hiện ở các bộ phận khác của cơ thể như hậu môn, miệng. Mặt khác, quan hệ tình dục không chỉ giữa những người khác giới mà còn được thực hiện giữa những người đồng giới. Cấu thành của tội phạm này quy định cụ thể hơn:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

- Khoản 2 của điều luật bổ sung tình tiết tại điểm h “gây thương tích”; bổ sung tình tiết tại điểm i “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%”.

- Khoản 3 của điều luật bổ sung tình tiết “gây thương tích” tại điểm a và bổ sung tình tiết tại điểm c “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên”.

Mức hình phạt quy định trong các khoản của điều luật được giữ nguyên, mức hình phạt thấp nhất là 02 năm và cao nhất là tù chung thân.

Điều 142: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

- Tên của điều luật được sửa từ “Tội hiếp dâm trẻ em” thành “Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

- Tương tự như tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi cũng bổ sung quy định “thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác”. Điều luật được sửa về kỹ thuật ở khoản 1.

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái ý muốn của họ;

b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”.

- Khoản 2 của điều luật bổ sung thêm một số tình tiết tăng nặng:

+ Điểm d: Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%

+ Điểm e: Phạm tội 02 lần trở lên

+ Điểm g: Đối với 02 người trở lên

- Khoản 3 của điều luật bổ sung thêm tình tiết tăng nặng:

+ Điểm c: Phạm tội đối với người dưới 10 tuổi

+ Điểm đ: Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.

Hiếp dâm người dưới 16 tuổi là một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên hình phạt cao nhất là tử hình vẫn được giữ nguyên trong khoản 3 của điều luật này. Ngay trong cấu thành cơ bản, thì tội phạm này là tội rất nghiêm trọng, mức khởi điểm là 07 năm tù và cao nhất là 15 năm tù. Điều luật sửa đổi theo hướng xử lý nghiêm khắc hơn hành vi phạm tội này khi bổ sung thêm các tình tiết định khung tăng nặng vào khoản 2 và khoản 3 của điều luật và giữ nguyên mức hình phạt của các khung hình phạt này.

Điều 143: Tội cưỡng dâm

Về cơ bản, điều luật này vẫn kế thừa quy định của Điều 113 BLHS năm 1999, nhưng có một số sửa đổi, bổ sung sau:

Một là: Bổ sung quy định “thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác” trong cấu thành cơ bản của điều luật.

Hai là: Bổ sung thêm tình tiết tăng nặng tại khoản 2

“g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%”;

Ba là: Bổ sung thêm tình tiết tăng nặng tại khoản 3

“b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên”;

Bốn là: Bổ sung tình tiết “gây thương tích” tại điểm e khoản 2 và điểm a khoản 3.

Các mức hình phạt quy định tại các khung hình phạt được giữ nguyên.

Điều 144: Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Tên của điều luật được sửa từ “Tội cưỡng dâm trẻ em” thành “Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung sau đây:

Một là: Cấu thành cơ bản của điều luật quy định rõ ràng hơn so với quy định tại Điều 114 năm 1999.

“1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm”.

Hai là: Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 2

“d) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%”;

Ba là: Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 3

“d) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46%”;

Bốn là: Bổ sung tình tiết “gây thương tích” tại điểm c khoản 2 và điểm b khoản 3 của điều luật.

Điều 145: Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Tên tội danh này được sửa từ tội Giao cấu với trẻ em quy định tại Điều 115 BLHS năm 1999.

Một là: Khoản 1 quy định rõ “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

Chủ thể của tội phạm này là người đủ 18 tuổi trở lên và nạn nhân là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Hành vi giao cấu hoặc thực hiện quan hệ tình dục khác dù không trái ý muốn của người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đều phạm tội.

Hành vi giao cấu hoặc thực hiện quan hệ tình dục khác quy định trong điều luật này không thuộc trường hợp cấu thành tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi và cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Theo quy định của điều luật thì người dưới 18 tuổi và nạn nhân là người đủ 16 tuổi trở lên không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu không có dấu hiệu trái ý muốn.

Hai là: Bổ sung tình tiết “gây thương tích” tại điểm đ khoản 2 và điểm a khoản 3 của điều luật này.

Điều 146: Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Tên của tội danh này được sửa từ tội dâm ô đối với trẻ em quy định tại Điều 116 BLHS năm 1999.

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là: Cấu thành cơ bản của điều luật được quy định rõ ràng, cụ thể hơn “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Hai là: Khoản 2 của điều luật này bổ sung tình tiết tăng nặng ở điểm đ

“đ) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%”;

Ba là: Khoản 3 của điều luật này đã quy định cụ thể hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng bằng hai tình tiết định khung là:

“a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát”.

Điều 147: Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm

Đây là một tội danh mới được quy định trong BLHS năm 2015

“1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ) Có mục đích thương mại;

e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát”.

- Chủ thể của tội phạm này là người đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự, không phân biệt là nam hay nữ.

- Chú ý là mặt khách quan của tội phạm:

+ Hành vi lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức (thoát y, múa cột…)

+ Người chứng kiến (xem) trình diễn khiêu dâm của người dưới 16 tuổi cũng phạm tội này.

- Có mục đích thương mại là hành vi của người tổ chức việc trình diễn khiêu dâm người dưới 16 tuổi nhằm mục đích kiếm lợi nhuận (thu lợi bất chính).

Trong quá trình xây dựng điều luật này, vấn đề được đặt ra là có xử lý hình sự đối với hành vi của người đủ 18 tuổi trở lên lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi phải chứng kiến (xem) trình diễn khiêu dâm của người lớn không? Chúng tôi cho rằng cần phải xử lý hình sự đối với hành vi này vì tính nguy hiểm của hành vi này đối với người dưới 16 tuổi rất cao. Tuy nhiên, ý kiến này không được chấp nhận.

Điều 148: Tội lây truyền HIV cho người khác

- Điều luật này có sửa đổi trong cấu thành cơ bản

“1. Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà có ý lây truyền HIVcho người khác, trừ trường hợp nạn nhân đã biết về tình trạng nhiễm HIV của người bị HIV và tự nguyện quan hệ tình dục, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm”.

- Khoản 2 của điều luật này bổ sung thêm tình tiết định khung tại điểm c

“c) Đối với phụ nữ mà biết là có thai”.

- Tình tiết người chưa thành niên được sửa là “Đối với người dưới 18 tuổi” tội phạm này loại trừ trường hợp nạn nhân biết người mà mình quan hệ tình dục đã bị nhiễm HIV, nhưng vẫn tự nguyện quan hệ. Quy định này có thể không phù hợp đối với trường hợp nạn nhân là phụ nữ có thai tự nguyện quan hệ tình dục với người mà họ biết đã bị nhiễm HIV bởi điều luật đã không tính đến việc bảo vệ thai nhi. Nếu điều luật quy định là “trừ trường hợp phụ nữ có thai”, thì chặt chẽ và chính xác hơn.

Điều 149: Tội cố ý truyền HIV cho người khác

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là: Điều luật được thiết kế lại thành 04 khoản, trong đó khoản 1 là tội phạm nghiêm trọng; khoản 2 là tội phạm rất nghiêm trọng và khoản 3 là tội đặc biệt nghiêm trọng.

Hai là: Các tình tiết tăng nặng quy định ở khoản 2 của Điều 118 BLHS năm 1999 được giữ nguyên và chỉ bổ sung thêm tình tiết tại điểm e.

“e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%” và sửa tình tiết đối với nhiều người thành “đối với từ 02 người đến 05 người”.

Mức hình phạt của khoản 2 điều luật này là từ 07 năm đến 15 năm tù. Như vậy, so với khoản 2 của Điều 118 BLHS năm 1999, thì giảm nhẹ hơn và không phải là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Ba là: Khoản 3 của điều luật được bổ sung và đây là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, có mức hình phạt từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Có 04 tình tiết tăng nặng của khung hình phạt này là:

“a) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

b) Đối với 06 người trở lên;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Làm nạn nhân tự sát”.

Điều 150: Tội mua bán người

Trên tinh thần nội luật hóa Điều 3 của Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (bổ sung cho Công ước Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia), Điều 150 BLHS năm 2015 đã sửa đổi cơ bản Điều 119 BLHS năm 1999:

Một là: Cấu thành cơ bản của điều luật được quy định rõ hơn, cụ thể hơn trên tinh thần định nghĩa của Liên hợp quốc về buôn bán người và hướng dẫn của Thông tư Liên tịch số 01/2013 về mua bán người, mua bán trẻ em.

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

a). Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này”.

Hai là: Điều luật được thiết kế thành 4 khung: Cấu thành cơ bản, hai khung hình phạt tăng nặng và hình phạt bổ sung.

Ba là: Hình sự hóa theo hướng quy định mức hình phạt nặng hơn bổ sung thêm tình tiết định khung tăng nặng.

Khoản 1: Cấu thành cơ bản, mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (thay vì từ 02 năm đến 07 năm quy định tại khoản 1 Điều 119 BLHS năm 1999). Như vậy, người phạm tội này là phạm tội rất nghiêm trọng và người từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự đều là chủ thể của tội phạm này; hình phạt bổ sung là hình phạt tiền tăng “từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”.

Bốn là: Do điều luật được tách thành nhiều khung hình phạt nên các tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 của Điều 119 BLHS năm 1999 cũng được lựa chọn để quy định trong khoản 2 và khoản 3 của điều luật này, đồng thời cũng bổ sung một số tình tiết tăng nặng tại các khung tăng nặng.

- Khoản 2 của điều luật quy định mức hình phạt tù từ 08 năm đến 15 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:

“a) Có tổ chức;

b) Vì động cơ đê hèn;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

e) Đối với từ 02 đến 05 người;

g) Phạm tội 02 lần trở lên”.

So với khoản 2 Điều 119 BLHS năm 1999, thì khoản 2 Điều 150 BLHS năm 2015 đã bổ sung thêm điểm c và điểm d; sửa tình tiết “đối với nhiều người thành “đối với từ 02 người đến 05 người”

- Khoản 3 của điều luật quy định mức hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, nếu thuộc một trong các trường hợp:

“a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

đ) Đối với 06 người trở lên;

e) Tái phạm nguy hiểm”.

Một số vấn đề cần chú ý khi xét xử tội mua bán người theo quy định của Điều 150 BLHS năm 2015:

Một là: Các tình tiết trước đây được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như vì mục đích mại dâm, để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân nay là dấu hiệu của tội phạm ở cấu thành cơ bản nên không còn là tình tiết tăng nặng nữa.

Hai là: Hành vi phạm tội phải thỏa mãn các dấu hiệu của khoản 1, tức là phải có hành vi chuyển giao hoặc tiếp nhận để giao nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.

Trường hợp một người lừa gạt người khác đi nước ngoài và tự mình bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động (bóc lột sức lao động), lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác, thì không phạm tội này vì không thỏa mãn dấu hiệu quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 tức là không có dấu hiệu chuyển giao hay tiếp nhận. Tùy từng trường hợp cụ thể có thể người đó bị xử lý về tội tổ chức mại dâm, môi giới mại dâm, tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, tội cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của người khác làm họ chết là giết người…

Ba là: Tình tiết “để đưa ra nước ngoài” quy định tại khoản 2 Điều 119 BLHS năm 1999 là những trường hợp có ý thức, có mc đích đưa nạn nhân ra nước ngoài, bất kể là đã đưa hoặc chưa đưa nạn nhân ra khỏi lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tình tiết này đã được sủa là “Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Do đó, chỉ được coi là tình tiết tăng nặng nếu người phạm tội đã hoàn thành việc đưa nạn nhân ra khỏi lãnh thổ của nước Việt Nam. Người phạm tội mới có ý định, có ý thức, có mục đích đưa nạn nhân ra nước ngoài, thì không thuộc tình tiết tăng nặng này mà đó chỉ là dấu hiệu định tội.

Bốn là: Tình tiết “để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” quy định tại khoản 2 Điều 119 BLHS năm 1999 cũng đã được sửa thành “Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” và quy định ở khoản 3 của Điều 150 BLHS năm 2015, tức là đã thực hiện việc lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân chứ không phải là mới có ý định, ý thức hoặc mục đích nữa.

Trong quá trình xây dựng điều luật này, chúng tôi cũng có đề xuất việc quy định tình tiết “làm nạn nhân mất tích hoặc coi như đã chết, làm người thân thích của nạn nhân rối loạn tâm thần và hành vi hoặc tự sát”. Trong thực tiễn, có không ít trường hợp người mẹ, người cha bị mất con (do bị lừa gạt hoặc các thủ đoạn khác) mà trở nên điên loạn, bán hết tài sản để đi tìm con. Đó chính là các hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi phạm tội gây ra và đáng bị coi là những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Tuy nhiên, đề xuất này không được chấp nhận và chúng tôi cho rằng đó là điều đáng tiếc.

Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi

Đây là điều luật được tách ra từ Điều 120 BLHS năm 1999 và sửa lại tên của tội phạm từ “mua bán trẻ em” thành “Mua bán người dưới 16 tuổi”.

Việc tách 03 tội quy định ghép trong Điều 120 BLHS năm 1999 nhằm bảo đảm tính minh bạch, đồng thời bảo đảm chính sách hình sự đối với hành vi vi phạm tội căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đó.

Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là: Các dấu hiệu phạm tội quy định tại cấu thành cơ bản của điều luật rõ ràng, cụ thể hơn và cũng trên tinh thần định nghĩa về buôn bán người của Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn bán người và hướng dẫn tại Thông tư Liên tịch số 01/2013 về mua bán người, mua bán trẻ em của liên ngành tư pháp trung ương.

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 điều này”.

Hai là: Điều luật được thiết kế thành 04 khung: cấu thành cơ bản, hai khung tăng nặng và hình phạt bổ sung.

Ba là: Hình sự hóa theo hướng quy định hình phạt nặng hơn tại cấu thành cơ bản. Mức hình phạt từ 07 năm đến 12 năm (thay vì từ 03 năm đến 10 năm quy định tại khoản 1 Điều 120 BLHS năm 1999); tăng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (thay vì từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng quy định tại khoản 3 Điều 120 BLHS năm 1999).

Bốn là: Do điều luật được thiết kế thêm một số khung tăng nặng ở khoản 3 nên các tình tiết định khung tăng nặng cũng được lựa chọn từ quy định của khoản 2 Điều 120 BLHS năm 1999 và bổ sung một số tình tiết định khung mới cho phù hợp.

- Khoản 2 của điều luật quy định mức hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

“a. Lợi dụng chức vụ quyền hạn; 

b) Lợi dụng hoạt động cho nhận con nuôi để phạm tội;

c) Đối với từ 02 người đến 05 người;

d) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

e) Phạm tội 02 lần trở lên;

g) Vì động cơ đê hèn;

h) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

i) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể là 31% trở lên, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều này”.

- Khoản 3 của Điều luật quy định mức hình phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

“a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

e) Đối với 06 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm”.

Một số vấn đề cần lưu ý khi xét xử tội mua bán người dưới 16 tuổi:

Một là: Một số các tình tiết trước đây được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như: để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo; để sử dụng vào mục đích mại dâm, để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân nay được quy định là các dấu hiệu cấu thành tội phạm ở khoản 1 của điều luật này nên không được coi là tình tiết tăng nặng định khung nữa.

Hai là: Hành vi phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi không cần tính đến việc có hay không sử dụng các hành vi dùng bạo lực, đe dọa dùng bạo lực, ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế để bị tổn thương của người dưới 16 tuổi.

Ba là: Các vấn đề về thỏa mãn dấu hiệu quy định của khoản 1; tình tiết “đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; tình tiết “Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” và một số đề xuất khác, tương tự như chúng tôi đã trình bày trong Điều 150 “Tội mua bán người”.

Bốn là: Tội mua bán người dưới 16 tuổi là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Năm là: Quy định loại trừ tội phạm này đối với trường hợp vì mục đích nhân đạo tại điểm a khoản 1 Điều này là trường hợp một người biết người khác thực sự có nhu cầu nuôi con nuôi do họ không thể có con hoặc xuất phát từ tình yêu thương trẻ nhỏ, từ lòng nhân ái, đã giới thiệu người đó với cho con của chính họ sinh ra để đi làm con nuôi hoặc trường hợp người có nhu cầu nuôi con nuôi tự mình liên hệ với người muốn cho con của họ. Người nhận nuôi con nuôi giao cho người cho con của mình một khoản tiền hoặc lợi ích vật chất khác, người môi giới (giới thiệu) cũng được nhận một khoản tiền “thù lao” của người nhận nuôi con nuôi. Trường hợp này không phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi.

Sáu là: Tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại điểm k khoản 2 Điều 120 BLHS năm 1999 đã được cụ thể hóa tại các tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 3 Điều 151 BLHS năm 2015.

Bảy là: Các tình tiết định khung hình phạt mới tại khoản 2 là các điểm c, d, đ, e và ở khoản 3 là các điểm b, c, d (và đó cũng là các tình tiết thể hiện của hậu quả nghiêm trọng của tội phạm này).

Điều 152: Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi

Tội danh này được tách ra từ Điều 120 BLHS năm 1999 và được sửa từ tội đánh tráo trẻ em thành tội đánh tráo người dưới 01 tuổi.

Khi xây dựng điều luật này, có nhiều ý kiến khác nhau về độ tuổi của người bị đánh tráo. Nếu coi trẻ em là người dưới 16 tuổi thì hành vi đánh tráo khó có thể thực hiện được khi đứa trẻ đã lớn, đã có thể nhận được bố, mẹ, gia đình họ. Thực tiễn, hành vi đánh tráo trẻ em thường xảy ra trong thời gian đứa trẻ còn rất nhỏ, nhất là trong khoảng thời gian được gọi là trẻ sơ sinh (07 ngày tuổi). Tuy nhiên, nếu quy định tội đánh tráo trẻ sơ sinh thì cũng có thể bỏ lọt những trường hợp xảy ra khi đứa trẻ hơn 07 ngày tuổi bị đánh tráo. Điều luật thu hẹp phạm vi đối tượng bị đánh tráo trong 01 năm tuổi, tức là chỉ có tội này nếu đánh tráo người dưới 01  tuổi để phù hợp hơn với thực tiễn.

Điều luật này được thiết kế thành 4 khoản và có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là: Xác định đây là một tội hành vi nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với hành vi mua bán người dưới 16 tuổi nên khoản 1 và khoản 2 của điều luật là tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng. Mức hình phạt của khoản 1 từ 02 năm tù đến 05 năm tù; mức hình phạt của khoản 2 từ 03 năm tù đến 07 năm tù.

Hai là: Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 của điều luật này gồm:

“a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

c) Đối với người dưới 01 tuổi mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

d) Phạm tội 01 lần trở lên”.

Ba là: Khoản 3 của điều luật là tội phạm rất nghiêm trọng, mức hình phạt tù được quy định từ 07 năm đến 12 năm đối với người phạm tội có một trong các tình tiết:

“a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tái phạm nguy hiểm”.

Bốn là: Hình phạt bổ sung là hình phạt tiền được nâng mức khởi điểm từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Điều 153: Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi

Tội này cũng được tách ra từ Điều 120 BLHS năm 1999 và được sửa từ tội chiếm đoạt trẻ em thành tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi. Điều luật này được thiết kế thành 4 khung và có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là: Cấu thành cơ bản của tội này được quy định rõ ràng, cụ thể hơn:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm”.

Hai là: Khoản 2 quy định mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm là tội phạm rất nghiêm trọng. Người phạm tội bị xử phạt theo khung hình phạt này nếu thuộc một trong các trường hợp:

“a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

c) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

d) Đối với người từ 02 người đến 05 người;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên”.

Ba là: Khoản 3 của điều luật có mức hình phạt tù từ 10 năm đến 15 năm đối với một trong các trường hợp:

“a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Đối với 06 người trở lên;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết;

đ) Tái phạm nguy hiểm”.

Bốn là: Nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng lên 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Chú ý:

- Hành vi khách quan của tội phạm này “dùng thủ đoạn khác” quy định trong cấu thành cơ bản là các trường hợp bắt trộm, bắt cóc, lừa đảo, lợi dụng tình trạng khó khăn hoặc sự lệ thuộc của cha mẹ, người nuôi dưỡng người dưới 16 tuổi để tách họ khỏi sự quản lý, kiểm soát của cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng mà không được sự đồng ý của những người này.

- Các tình tiết quy định tại điểm b, c và d khoản 3 của điều luật này là sự cụ thể hóa hậu quả nghiêm trọng quy định tại điểm k khoản 2 Điều 120 BLHS năm 1999.

- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Điều 154: Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Đây là một tội phạm mới của BLHS năm 2015 và là một tội ghép của hai tội “Tội mua bán mô hoặc bộ phận cơ thể người” và “tội chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người”.

“1. Người nào mua bán, chiếm đoạt mua hoặc bộ phận cơ thể người khác, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vì mục đích thương mại;

c) Lợi dụng, chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

d) Đối với từ 02 người đến 05 người;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Đối với 06 người trở lên;

d) Gây chết người;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Hành vi mua bán là sự trao đổi mô hoặc bộ phận cơ thể của người khác để lấy tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác.

Hành vi chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác có thể được thực hiện bằng việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc sử dụng các thủ đoạn khác như lừa đảo, lợi dụng tình trạng khó khăn hoặc sự lệ thuộc của nạn nhân với người thực hiện hành vi phạm tội…

Chú ý:Tình tiết quy định tại điểm d khoản 3 “gây chết người” là trường hợp do lấy bộ phận cơ thể của người khác mà làm chết người. Đây là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt chứ không phải là tội giết người.

Điều 155: Tội làm nhục người khác

Tội danh này được thiết kế thành 4 khung và có một số sửa đổi, bổ sung sau đây:

Một là: Cấu thành cơ bản của tội phạm bổ sung hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng  đến 30.000.000 đồng; nâng mức hình phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm thành 03 năm; bỏ hình phạt tù và giữ nguyên hình phạt cảnh cáo. Với quy định mới này, thì người bị xét xử ở khoản 1 của điều luật này không bị áp dụng hình phạt tù. Tòa án không có quyền áp dụng hình phạt tù, cũng không được áp dụng biện pháp giam giữ.

Hai là: Khoản 2 của Điều này đã bổ sung thêm một số tình tiết tăng nặng là:

“e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần hoặc hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%”. Mức hình phạt của khoản 2 từ 03 tháng đến 02 năm.

Ba là: Bổ sung khoản 3 của Điều này, mức hình phạt tù từ 02 năm đến 05 năm, tức là điều luật này đã quy định nặng hơn ở mức tối đa của hình phạt tù (mức tối đa của Điều 121 BLHS năm 1999 là 03 năm). Các tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 3 Điều này gồm:

“a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát”.

Điều 156: Tội vu khống

Điều luật này được sửa về kỹ thuật lập pháp ở khoản 1 và thiết kế lại điều luật thành 4 khung và bổ sung một số tình tiết tăng nặng định khung hình phạt.

Khoản 1 được thiết kế theo hướng rõ ràng, minh bạch hơn, khoa học hơn:

“Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền”.

- So với khoản 1 Điều 121 BLHS năm 1999, thì khoản 1 Điều 156 BLHS năm 2015 đã bỏ hình phạt cảnh cáo, bổ sung hình phạt tiền, giảm mức hình phạt (quy định trước là phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm).

- Khoản 2 của Điều này vẫn quy định các tình tiết định khung tăng nặng là: có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; đối với 02 người trở lên; đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình; đối với người đang thi hành công vụ; vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, nhưng đã bổ sung các tình tiết sau:

“e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%”;

- Khoản 2 của điều luật này quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 03 năm là giữ nguyên mức hình phạt quy định tại khoản 2 của Điều 121 BLHS năm 1999.

- Khoản 3 điều luật này được bổ sung và mức hình phạt tù được quy định nặng hơn so với Điều 121 BLHS năm 1999.

“3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát”.

- Khoản 4 điều luật này bổ sung hình phạt tiền là hình phạt bổ sung

“4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

 

Nguyễn Quang Lộc - Thành viên Tổ chuyên gia xây dựng BLHS năm 2015

Du lieu tai khong thanh cong

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.62741133 - Fax :
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Chánh Văn phòng - TANDTC.

Giấy phép cung cấp thông tin trên internet số 184/GP-TTÐT của Bộ thông tin và Truyền thông.
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.

Bản quyền thuộc Trung tâm tin học Tòa án nhân dân tối cao