Tam đoạn luận trong học thuyết logic của Arixtốt- một “công cụ” viết bản án tại Hàn Quốc và Pháp
Tam đoạn luận trong học thuyết l
ThS. Dương Thị Huế,
Phòng Nghiên cứu Khoa học Tòa án
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, chưa có văn bản chính thức nào đưa ra khái niệm về bản án. Khi nghiên cứu về hình thức, nội dung và giá trị pháp lý của bản án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng, ông Lê Văn Minh, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đưa ra khái niệm: “Bản án là văn bản tố tụng của Tòa án thể hiện các thông tin về nội dung vụ án, pháp luật áp dụng, kết luận và quyết định của Tòa án về các vấn đề cần giải quyết trong một vụ án cụ thể và phải được thi hành nghiêm chỉnh có hiệu lực theo quy định của pháp luật”.
Viết bản án là công việc thường xuyên của Thẩm phán, bản án đánh dấu sự kết thúc toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Chất lượng bản án phụ thuộc vào trình độ, trách nhiệm, bản lĩnh và kỹ năng nghiệp vụ của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Để có được cấu trúc bản án, cách viết bản án như hiện nay, nhiều thế hệ Thẩm phán các cấp Tòa án đã học hỏi kinh nghiệm, cải tiến, rút kinh nghiệm từ thực tiễn xét xử trong hơn 70 năm liên tục kể từ khi ngành Tòa án được thành lập. Mục tiêu hướng tới là: Bản án phải khách quan, toàn diện, chính xác; sự kiện của vụ án phải được thể hiện rõ ràng; nhận định và quyết định tại bản án phải có căn cứ và tính thuyết phục. Nhìn chung, chất lượng bản án của Tòa án hiện nay ngày càng có chất lượng, đảm bảo tính khách quan, công bằng đúng pháp luật. Tuy vậy vẫn còn không ít những bản án có sai sót về văn phong, sai chính tả, nhận định không sâu sắc, lập luận thiếu chặt chẽ.
Tòa án nhân dân tối cao đã có nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bản án như ban hành các văn bản hướng dẫn cách viết bản án, tổ chức các lớp tập huấn về viết bản án. Gần đây, Học viện Tòa án đã phối hợp với trường Thẩm phán quốc gia cộng hòa Pháp tổ chức hai hội thảo về bản án: “Hội thảo kỹ năng soạn thảo bản án dân sự” và “Hội thảo chất lượng bản án dân sự và hình sự”. Cùng với đó trong khuôn khổ dự án: “Tăng cường năng lực Trường Cán bộ Tòa” án do chính phủ Hàn Quốc (KOICA) tài trợ, Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam phối hợp với Tòa án tối cao Hàn Quốc tổ chức hội thảo: “Cấu trúc án lệ và nâng cao hiệu quả áp dụng án lệ trong thực tiễn”. Qua các hội thảo, nhận thấy bản án ở các quốc gia Pháp cũng như Hàn Quốc đều được viết theo cấu trúc như phương pháp tam đoạn luận của Arixtốt. Vậy Tam đoạn luận là gì? Tam đoạn luận được sử dụng như một công cụ hữu hiệu trong viết bản án ở Pháp cũng như Hàn Quốc cụ thể như thế nào?
2. Nhận thức chung về tam đoạn luận
Người sáng lập ra lôgíc học – “cha đẻ của lôgíc học” là triết gia lớn của Hy Lạp cổ đại, nhà học giả - bách khoa Arixtốt (384 – 322 TCN). Arixtốt viết nhiều công trình về lôgíc học mà sau này được gọi bằng tên chung là “Bộ công cụ”. Tiêu điểm trong tất cả các suy tư lôgíc của ông là suy luận và chứng minh diễn dịch, đặc biệt trong đó có tam đoạn luận. Trong hàng thế kỷ phép tam đoạn luận của Arixtốt nằm trong chương trình học của các luật sư và chính trị gia Phương Tây. Nó được dùng để phân biệt giữa lập luận đúng với lập luận sai. Nó đã được nghiên cứu với độ sâu sắc và cẩn thận đến mức xuyên qua bề dày của biết bao thế kỷ, ngày nay về cơ bản vẫn giữ nguyên ý nghĩa. Đặc biệt nó đã trở thành một công cụ hữu hiệu nghiên cứu ứng dụng trong việc viết bản án – tam đoạn luận tư pháp ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Có thể nhận thấy, tam đoạn luận là một phát minh lớn của Arixtốt, ông từng nói về tam đoạn luận: “Cần phải nói về tam đoạn luận trước khi nói về chứng minh, bởi tam đoạn luận là một cái gì đó chung hơn và chứng minh là một loại tam đoạn luận nào đó, nhưng không phải bất kỳ tam đoạn luận nào cũng là chứng minh”. Arixtốt định nghĩa như sau về tam đoạn luận: “...tam đoạn luận là ngôn ngữ mà trong đó, nếu một cái gì đó được giả định, thì tất yếu rút ra một cái gì đó khác hẳn với cái đã cho...”. Theo ông, tam đoạn luận sẽ cho ta kết luận đúng một cách tất yếu và hiển nhiên.
Định nghĩa chung của Arixtốt về tam đoạn luận là như vậy, hay nói một cách cụ thể hơn, tam đoạn luận là loại suy luận đi từ hai mệnh đề để tiến đến một kết luận tất yếu đã ngầm chứa trong hai mệnh đề đó. Tam đoạn luận gồm 3 bộ phận: tiền đề lớn, tiền đề nhỏ, và kết luận.
Ví dụ: Mọi luật sư đều hiểu biết pháp luật (Tiền đề lớn)
P M
Anh X không hiểu biết pháp luật (Tiền đề nhỏ)
S M
Anh X không phải luật sư (Kết luận)
S P
Về kết cấu logic, mỗi luận ba đoạn có hai phán đoán tiền đề, khẳng định những hiểu biết về đối tượng phản ánh và phán đoán kết luận được rút ra trên cơ sở các phán đoán tiền đề.
Trong tam đoạn luận có ba thuật ngữ:
Thuật ngữ lớn (kí hiệu: P) là vị từ trong phán đoán kết luận;
Thuật ngữ nhỏ (kí hiệu: S) là chủ từ trong phán đoán kết luận;
Thuật ngữ giữa (M) là thuật ngữ lặp lại ở hai phán đoán tiền đề và đóng vai trò trung gian để rút ra phán đoán kết luận.
Phán đoán tiền đề có thuật ngữ lớn (P) gọi là tiền đề lớn.
Phán đoán tiền đề có thuật ngữ nhỏ (S) gọi là tiền đề nhỏ.
Căn cứ vào vị trí của thuật ngữ giữa (M) ở các phán đoán tiền đề chia tam đoạn luận thành bốn loại hình:
Loại hình 1: Thuật ngữ giữa làm chủ từ ở phán đoán tiền đề lớn, vị từ ở phán đoán tiền đề nhỏ.
Ví dụ: Mọi thẩm phán đều hiểu biết pháp luật
M P
Anh A là thẩm phán
S M
Kết luận: Anh A hiểu biết pháp luật
S P
Loại hình 2: Thuật ngữ giữa làm vị từ ở cả hai phán đoán tiền đề.
Ví dụ: Mọi thẩm phán đều hiểu biết pháp luật
P M
Anh A không hiểu biết pháp luật
S M
Kết luận: Anh A không phải thẩm phán
S P
Loại hình 3: Thuật ngữ giữa làm chủ