Thư viện tài liệu
Phần chung
 TẬP THỂ TÁC GIẢ

TẬP THỂ TÁC GIẢ

 

 

1. TS. Nguyễn Văn Thuân

- Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Cán bộ

Tòa án nhân dân tối cao

 

Bài 5

2. Ths. Lê Hồng Quang

- Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

 

Bài 3

3. Ths. Nguyễn Thanh Mận

- Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Tòa án

 

Bài 6

4. Ths. Thái Bá Diệp

Trưởng phòng, Vụ Tổ chức - Cán bộ

Tòa án nhân dân tối cao

 

Bài 2

5. Nguyễn Thế Trung

- Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban thường trực Ban Dân vận Trung ương

 

Bài 4

6. Ngô Cường

- Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế

Tòa án nhân dân tối cao

Bài 1

 

 

 

 



BÀI 1:

LỊCH SỬ NGÀNH TÒA ÁN VIỆT NAM VÀ

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

 

I. TOÀ ÁN NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1958

   1. Toà án trong những ngày đầu thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

1.1. Thiết lập Toà án Quân sự

Ngày 13-9-1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra Sắc lệnh thiết lập các Toà án quân sự. Theo Điều 1 của Sắc lệnh này thì sẽ thiết lập các Toà án quân sự gồm: ở Bắc bộ tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình; ở Trung bộ tại Vinh, Huế, Quảng Ngãi; ở Nam bộ tại Sài Gòn, Mỹ Tho. Uỷ ban nhân dân Trung bộ và Nam bộ, trong địa hạt hai bộ ấy, có thể đề đạt lên Chính phủ xin mở thêm Toà án quân sự ở những nơi trọng yếu khác. Về thẩm quyền xét xử, Toà án quân sự xử tất cả những người nào phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trừ trường hợp phạm nhân là binh sỹ thì thuộc về nhà binh tự xử lấy theo quân luật (Điều 2). Toà án quân sự xét xử tất cả các hành vi phạm tội được thực hiện trước hoặc sau ngày 19-8-1945. Ngoài ra, đối với những nơi ở xa các Toà án quân sự đã được thành lập theo Sắc lệnh này, thì trong những trường hợp đặc biệt, Chính phủ “có thể cho Uỷ ban nhân dân địa phương thành lập một Toà án quân sự có quyền xử trong một thời kỳ và theo đúng những nguyên tắc định trong Sắc lệnh này” (Điều 7).

1.2. Thiết lập Toà án đặc biệt

Ngày 23-11-1945, Chính phủ ra Sắc lệnh số 64 thiết lập một ban Thanh tra đặc biệt. Điều 1 Sắc lệnh quy định Ban Thanh tra đặc biệt có nhiệm vụ “đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ”. Điều 3 quy định: “Sẽ thiết lập ngay tại Hà Nội một Toà án đặc biệt để xử những nhân viên của các Uỷ ban nhân dân hay các cơ quan của Chính phủ do ban Thanh tra truy tố”. Toà án đặc biệt do Chủ tịch Chính phủ lâm thời làm Chánh án, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Hội thẩm (Điều 4). Toà án đặc biệt có toàn quyền định, có thể tuyên án tử hình. Những án tuyên lên sẽ thi hành trong 48 giờ (Điều 6). Ban Thanh tra và Toà án đặc biệt được lập ra chỉ có tính chất tạm thời (Điều 7).

2. Toà án trong giai đoạn từ năm 1946 đến trước công cuộc Cải cách tư pháp năm 1950

2.1. Thiết lập hệ thống Toà án thường

   2.1.1. Ngày 24-1-1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra Sắc lệnh số 13 về tổ chức các Toà án và các ngạch Thẩm phán. Đây là Sắc lệnh đầu tiên quy định một cách đầy đủ việc tổ chức giải quyết các tranh chấp, xử phạt các việc vi cảnh ở cơ sở cũng như tổ chức các Toà án và quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của các ngạch Thẩm phán; cụ thể như sau:

a. Theo quy định ở tiết thứ nhất thì Ban tư pháp xã được thành lập ở cơ sở cấp xã “ở mỗi xã, ban thường vụ của Uỷ ban hành chính cấp xã gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thư ký (theo Điều 75 Sắc lệnh số 63 ngày 22-11-1945 tổ chức chính quyền nhân dân) sẽ kiêm cả việc tư pháp. Cả ba uỷ viên trong Ban tư pháp ấy đều có quyền quyết nghị. Thư ký giữ công việc lục sự, lưu trữ công văn, làm các giấy tờ, biên bản... Mỗi tuần lễ Ban tư pháp phải họp ít nhất là một lần, họp công khai ở trụ sở của Uỷ ban” (Điều 2). Ban tư pháp xã có quyền: hoà giải tất cả các việc dân sự và thương sự; phạt các việc vi cảnh từ năm hào đến sáu đồng bạc (nếu người bị phạt không chịu nộp phạt, thì Ban tư pháp lập biên bản và đệ lên Toà án sơ cấp xét xử); thi hành những mệnh lệnh của các Thẩm phán cấp trên. Ban tư pháp xã không có quyền tịch thu tài sản của ai và cũng không có quyền bắt bớ, giam giữ ai, trừ khi có trát nã của một Thẩm phán hay khi thấy người phạm tội quả tang (Điều 3 và Điều 4).

   b. Theo quy định ở tiết thứ hai thì “ở mỗi quận (phủ, huyện, châu) có một Toà án sơ cấp, quản hạt là địa hạt quận. Nếu cần một Nghị định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể thay đổi quản hạt được”. Toà án sơ cấp gồm có: một Thẩm phán, một lục sự và một hay nhiều Thư ký giúp việc. Mỗi tuần lễ, ít ra phải có hai phiên toà công khai: một phiên hộ và một phiên hình. Tại phiên toà, Thẩm phán xét xử một mình, lục sự giữ bút ký, lập biên bản, án từ. Ngoài ra Sắc lệnh còn quy định “ở các thành phố và thị xã, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể đặt Toà án sơ cấp tổ chức theo các nguyên tắc nói trên” (Điều 11).

   c. Theo quy định ở tiết thứ ba thì “ở mỗi tỉnh và ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn - Chợ Lớn có một Toà án đệ nhị cấp. Quản hạt Toà án này theo giới hạn của địa hạt tỉnh hay thành phố. Nếu cần, một Nghị định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể thay đổi quản hạt được”. Đồng thời tuỳ theo sự quan trọng, các Toà án đệ nhị cấp sẽ chia ra làm bốn hạng do Nghị định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ấn định. Ngoài các thành phố kể trên, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể đặt thêm Toà án đệ nhị cấp ở các thành phố khác.

   Về tổ chức trong một Toà án, thì Toà án đệ nhị cấp gồm có một Chánh án, một biện lý, một dự thẩm, một chánh lục sự và những thư ký giúp việc. Tuỳ nơi nhiều việc hay ít việc, có thể tăng thêm số Thẩm phán và lục sự, hay để một Thẩm phán kiêm nhiều chức vụ.

   Về xét xử thì mỗi tuần lễ, ít ra cũng phải có hai phiên toà công khai: một phiên hộ và một phiên hình. Khi xét xử về dân sự, thương sự, Chánh án xử một mình. Khi xét xử các việc tiểu hình, phải có thêm hai viên phụ thẩm nhân dân góp ý kiến (Điều 17). Theo quy định tại Điều 20, thì các trường hợp không thể cùng làm phụ thẩm trong một Toà án bao gồm “các người thân thuộc hay thích thuộc với nhau cho đến bậc thứ ba, các người thân thuộc hay thích thuộc với các Thẩm phán hoặc với các người đương sự cho đến bậc thứ ba” và “không ai có thể làm phụ thẩm trong một việc mà mình là người đương sự hoặc đã điều tra, hoặc đã làm chứng hay làm giám định” (Điều 21). Sắc lệnh quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của phụ thẩm nhân dân rất cụ thể, họ “có bổn phận là lấy trí sáng suốt và lương tâm ngay thẳng ra xét mọi việc rồi phát biểu ý kiến một cách công bằng không vì nể, vì sợ một thế lực nào, vì lợi ích riêng hay tư thù mà bênh vực ai hay làm hại ai. Các phụ thẩm nhân dân phải giữ kín các điều bàn bạc trong lúc nghị án. Nếu tiết lộ bí mật ấy ra sẽ bị Toà thượng thẩm phạt từ sáu tháng đến hai năm tù”. Trước khi mở phiên toà các phụ thẩm nhân dân không được đọc hồ sơ, nhưng tại phiên toà họ có quyền yêu cầu ông Chánh án (Chủ toạ phiên toà) hỏi thêm các bị cáo và cho biết các tài liệu có trong hồ sơ. Ông Chánh án phải hỏi ý kiến các phụ thẩm về tội trạng của các bị cáo và về hình phạt rồi tự mình quyết định. Tuy nhiên, về các vấn đề thủ tục, tạm tha và các vấn đề khác liên quan đến hộ hay thương mại, ông Chánh án không phải hỏi ý kiến các phụ thẩm nhân dân.

   Đối với các việc đại hình, khi xét xử Toà đệ nhị cấp gồm có năm người cùng ngồi xử và đều có quyền quyết nghị, đó là: Chánh án Toà đệ nhị cấp ngồi ghế Chánh án (Chủ toạ phiên toà); hai Thẩm phán làm phụ thẩm chuyên môn được chọn trong các Thẩm phán của Toà án đệ nhị cấp hay của Toà án sơ cấp trong quản hạt, do ông Chánh nhất Toà thượng thẩm chỉ định mỗi năm một lần. Tuy nhiên, trong năm, ông Chánh nhất có thể quyết định việc thay đổi hai vị phụ thẩm chuyên môn; hai phụ thẩm nhân dân được chọn bằng cách rút thăm ở danh sách các phụ thẩm nhân dân do Uỷ ban hành chính tỉnh hay thành phố lập vào hồi đầu năm.

   Theo quy định tại Điều 34, thì Toà đại hình xử sơ thẩm, ông biện lý, bị can và nguyên đơn có quyền chống án lên Toà thượng thẩm.

   d. Theo quy định ở tiết thứ tư thì ở mỗi kỳ, có một Toà thượng thẩm; Toà thượng thẩm ở Bắc Kỳ đặt ở Hà Nội; Toà thượng thẩm Trung Kỳ đặt ở Thuận Hoá (Huế); Toà thượng thẩm Nam Kỳ đặt ở Sài Gòn. Mỗi Toà thượng thẩm gồm có một Chánh nhất, các Chánh án phòng, các hội thẩm, một chưởng lý, một hay nhiều phó chưởng lý, những tham lý, một chánh lục sự, các lục sự, những tham tá và thư ký. Về cách tổ chức các Toà thượng thẩm và số các Chánh án, hội thẩm, phó chưởng lý, tham lý và lục sự ở mỗi Toà do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ấn định. “Khi phúc lại các án tiểu hình và đại hình, ngoài ông Chánh án và hai hội thẩm, phải có thêm hai phụ thẩm nhân dân có quyền quyết nghị và chọn bằng cách rút thăm... (Điều 38). Danh sách các phụ thẩm nhân dân tại Toà thượng thẩm có từ 50 đến 100 người chọn trong nhân dân kỳ và sẽ do Uỷ ban hành chính kỳ lập vào hồi đầu năm sau khi hỏi ý kiến ông chưởng lý. Trong việc đại hình, nếu trước Toà thượng thẩm một bị cáo không có ai bênh vực, ông Chánh án sẽ cử một luật sư để bào chữa cho bị cáo.

   đ. Về tổ chức các ngạch Thẩm phán gồm có hai ngạch Thẩm phán: ngạch sơ cấp và ngạch đệ nhị cấp. Thẩm phán sơ cấp làm việc ở Toà sơ cấp, Thẩm phán đệ nhị cấp làm việc ở các Toà đệ nhị cấp và Toà thượng thẩm. Các Thẩm phán đệ nhị cấp chia ra làm hai chức vị: các Thẩm phán xử án do ông Chánh nhất Toà thượng thẩm đứng đầu và các Thẩm phán của công tố viện (Thẩm phán buộc tội) do ông chưởng lý đứng đầu. Khi xét xử, Thẩm phán quyết định theo pháp luật và lương tâm của mình. Không quyền lực nào được can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào công việc xử án.

   Trong Sắc lệnh này cũng quy định một cách rất cụ thể về tiêu chuẩn của Thẩm phán, cách tuyển chọn và đối tượng được tuyển chọn (bao gồm cả các quan lại cũ đã từng làm Thẩm phán, các lục sự Toà nam án đệ nhị cấp cũ), quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán, kỷ luật đối với Thẩm phán và y phục của Thẩm phán.

2.1.2. Tuy nhiên, do những khó khăn khách quan trong những ngày đầu mới giành chính quyền, việc xây dựng hệ thống Toà án theo Sắc lệnh 13 ngày 24-01-1946 chưa thực hiện được đầy đủ ở khắp các địa phương trong toàn quốc. Do đó, Chính phủ đã ra Sắc lệnh số 22-B ngày 18-12-1946 để quyền trợ cấp tư pháp cho Uỷ ban hành chính ở những nơi chưa đặt được Toà án biệt lập. Theo Sắc lệnh này, ở nơi nào chưa thiết lập được Toà án thì Uỷ ban hành chính sẽ kiêm việc tư pháp; Uỷ ban tỉnh có quyền hạn như Toà án đệ nhị cấp; Uỷ ban phủ, huyện, châu có quyền hạn như Toà án sơ cấp.

Ở tỉnh đương sự có quyền chống án lên Toà thượng thẩm (Điều 4) khi phúc thẩm, Toà thượng thẩm chỉ xét về nội dung vụ kiện, còn về hình thức, nếu có chỗ sai lầm mà không hại đến nội dung vụ án thì Toà thượng thẩm có thể tuỳ nghi công nhận hiệu lực của bản án bị kháng cáo như không có sự sai lầm ấy (Điều 5).

2.1.3. Tiếp theo Sắc lệnh số 13 ngày 24-01-1946, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 51 ngày 17-4-1946 ấn định thẩm quyền các Toà án và sự phân công giữa các thành viên trong Toà án. Chương thứ nhất của Sắc lệnh quy định cụ thể về thẩm quyền các Toà án.

2.1.4. Như vậy, từ sau ngày 13-9-1945 đến sau ngày 24-01-1946, ở nước ta đã có 3 loại Toà án: Toà án Quân sự, Toà án đặc biệt, Toà án thường. Nhằm giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án này, chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 43 ngày 3-4-1946 lập ở mỗi kỳ “một hội đồng phân định thẩm quyền giữa Toà án Quân sự, Toà án đặc biệt và Toà án thường”. Sắc lệnh này cũng đã quy định cách thức giải quyết việc tranh chấp thẩm quyền giữa Toà án Quân sự, Toà án đặc biệt và Toà án thường.

2.1.5. Ngày 9-11-1946, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta. Tại Chương VI bản Hiến pháp này quy định về “Cơ quan tư pháp”, theo đó Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gồm có: Toà án tối cao; các Toà án phúc thẩm; các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp (Điều 63). Các viên Thẩm phán đều do chính phủ bổ nhiệm (Điều 64). Về các nguyên tắc xét xử gồm có: “Trong khi xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình hoặc cùng quyết nghị với Thẩm phán nếu là việc đại hình (Điều 65); Quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng nói của mình trước Toà án (Điều 66); các phiên Toà án đều phải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt. Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn Luật sư (Điều 67); trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp (Điều 69)”.

Tuy nhiên, thực dân pháp trở lại xâm lược nước ta lần nữa, chiến tranh nổ ra, toàn quốc kháng chiến, nên hệ thống Toà án chưa tổ chức được theo Hiến pháp 1946.

Để đáp ứng công tác xét xử trong hoàn cảnh kháng chiến ngày 29-12-1946 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông lệnh số 12/NV-CT về tổ chức Tư pháp trong tình thế đặc biệt. Bản Thông lệnh này cùng với bản Thông lệnh số 6/NV-CT ngày 28-12-1946 về tổ chức chính quyền trong thời kỳ đặc biệt là những cơ sở pháp lý để tổ chức và hoạt động của hệ thống Toà án trong thời kỳ kháng chiến được linh hoạt. Toàn văn Thông lệnh số 12/NV-CT như sau:

“1) Ở mỗi khu, Bộ trưởng Tư pháp sẽ đặt một giám đốc tư pháp để trông coi việc tư pháp trong khu và giúp ý kiến cho Uỷ ban bảo vệ khu. Uỷ ban này mỗi khi ra quyết định gì có liên can đến tư pháp, bắt buộc phải hỏi ý kiến của giám đốc tư pháp. Giám đốc tư pháp đặt dưới quyền kiểm soát của Uỷ ban bảo vệ khu và trong trường hợp không liên lạc được với trung ương, thì giám đốc tư pháp đặt dưới quyền điều khiển của Uỷ ban bảo vệ khu.

2) Uỷ ban bảo vệ khu có uỷ nhiệm để thi hành quyền công tố sau khi hỏi ý kiến giám đốc tư pháp. Các biện lý và công cáo uỷ viên đặt dưới quyền điều khiển trực tiếp của Uỷ ban bảo vệ khu. Các Uỷ ban bảo vệ tỉnh, huyện (phủ hay châu) và xã không có quyền ra lệnh cho các Toà án. Ở trường hợp không liên lạc được với nhau, thì Uỷ ban bảo vệ khu có thể tạm uỷ quyền cho Uỷ ban bảo vệ tỉnh để ra lệnh cho biện lý và công cáo uỷ viên thuộc quản hạt Uỷ ban bảo vệ tỉnh sau khi nghe các ông này bày tỏ ý kiến. Khi liên lạc được thì Uỷ quyền ấy sẽ hết hiệu lực.

3) Ở mỗi khu sẽ đặt một hay nhiều Toà án Quân sự. Các bộ trưởng Tư pháp và Nội vụ có thể uỷ quyền cho Uỷ ban bảo vệ khu để lập các Toà án Quân sự.

4) Nếu có sự tương tranh giữa Toà án quân sự và Toà án thường thì Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ khu, Chánh án Toà án quân sự và giám đốc tư pháp hợp thành hội đồng phân định thẩm quyền. Chủ tịch Hội đồng là chủ tịch Uỷ ban bảo vệ khu.

5) Ở các Toà án thường, nếu tính thế bắt buộc, Chánh án sau khi thảo thuận với biện lý và Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ tỉnh, có thể xử một mình các việc hình mà không cần có phụ thẩm nhân dân hay chuyên môn.”

2.1.6. Căn cứ vào Thông lệnh tổ chức tư pháp trong tình thế đặc biệt, ngày 01-01-1947, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 5-ĐB tạm đình chỉ công việc xử án của các Toà thượng thẩm, điều thứ nhất Nghị định nêu: “Tạm đình chỉ công việc xử án các toà Thượng thẩm Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ cho đến khi có lệnh mới”.

Ngày 12-4-1947, Bộ Tư pháp ban hành Nghị định số 44-DB “thiết lập ở khu một Hội đồng phúc án”. Nghị định nêu rõ: “Nay thiết lập ở mỗi khu hay trong nhiều khu một Hội đồng phúc án (Điều 1)”; Hội đồng phúc án nói trên sẽ thay thế Toà Thượng thẩm kỳ để xét lại trong quản hạt, những việc thuộc thẩm quyền Toà Thượng thẩm (Điều 2); thành phần Hội đồng phúc án định như sau: Một Chánh Hội đồng; hai Hội thẩm do Bộ Tư pháp chỉ định trong các Thẩm phán; hai Hội thẩm do Bộ Tư pháp chỉ định trong các Thẩm phán và Giám đốc Tư pháp; một thư ký do Giám đốc Tư pháp khu chỉ định, sẽ giữ chức lục sự; về hình sự cũng như dân sự, sẽ xử không có công tố viên; Trong những việc đại hình và tiểu hình, cách chỉ định phụ thẩm nhân dân sẽ theo pháp luật hiện hành ở trước các Toà Thượng thẩm (Điều 3). Tiếp đó, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 61 DB ngày 9-5-1947 tổ chức các Hội đồng phúc án, quy định chi tiết thêm về quản hạt và nhiệm vụ của Hội đồng phúc án, thủ tục thi hành (thủ tục tố tụng - chú thích của Ban biên soạn) trước Hội đồng phúc án; các biệt lệ trong việc xét xử các vụ án hình sự, các vụ án dân sự.

Ngày 6-3-1948 Bộ Tư pháp ra Nghị định số 11-MT (sau đó là Nghị định số 20 MT ngày 24-5-1948 bãi bỏ Nghị định 11-MT) quy định lập Công tố viên tại Hội đồng phúc án.

2.1.7. Ngày 26-5-1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 185-SL ấn định thẩm quyền các Toà án sơ cấp và đệ nhị cấp theo hướng tăng thẩm quyền cho các Toà án này so với Sắc lệnh số 51 ngày 17-4-1946.

2.2. Thiết lập hệ thống Toà án binh

2.2.1. Ngày 23-8-1946 Chính phủ ra Sắc lệnh số 163 tổ chức Toà án binh lâm thời đặt ở Hà Nội:

“Điều thứ nhất. Trong khi chờ đợi Sắc lệnh tổ chức của Toà án binh chính thức được ban hành, nay lập một Toà án binh lâm thời trụ sở đặt ở Hà Nội”.

Điều thứ 2. Toà án binh lâm thời có thẩm quyền xét xử:

- Các quân nhân phạm pháp bất cứ về một tội gì, trừ những tội vi cảnh thuộc thẩm quyền các Toà án tư pháp và những “thường tội” định ở điều thứ 49 Sắc lệnh số 71 ngày 22 tháng 5 năm 1945 thuộc quyền nghị phạt của các cấp chỉ huy quân đội;

- Những nhân viên các ngành chuyên môn trong quân đội, những người làm việc trong quân đội như công nhân, chủ thầu, khi phạm pháp có liên can đến quân đội;

- Những người thuộc bất cứ hạng nào mà phạm pháp ở trong các đồn trại, quân y viện, nhà đề lao binh hoặc một cơ quan nào của quân đội, hoặc phạm pháp làm thiệt hại đến quân đội.

*Ngày 16-2-1947, Chính phủ ra Sắc lệnh số 19-SL Tổ chức các Toà án binh khu trên toàn cõi Việt Nam (trừ các Toà án binh tại mặt trận):

“Điều thứ 2. - Ở mỗi khu sẽ đặt một Toà án binh. Nhưng nếu xét cần, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có thể ký Nghị định lập thêm trong khu một hay nhiều Toà án binh ở những nơi quân đội đóng.

Điều thứ 3. - Mỗi Toà án binh gồm có:

- Một Chánh án và hai Hội thẩm ngồi xử;

- Một Uỷ viên Chính phủ ngồi buộc tội;

- Một lục sự chép các điều tranh luận, giữ án từ và giấy má.

Chánh án là khu trưởng hoặc một quân nhân từ cấp trung đoàn trưởng trở lên, do khu trưởng đề cử và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chuẩn y.

Hội thẩm thứ nhất là một Thẩm phán đệ nhị cấp ngạch tư pháp do Giám đốc tư pháp khu đề cử và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chuẩn y.

Hội thẩm thứ hai là một quân nhân thuộc cấp chỉ huy do khu trưởng đề cử và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chuẩn y.

Uỷ viên Chính phủ là chính trị viên khu hoặc một quân nhân thuộc cấp chính trị viên trung đoàn trở lên do chính trị viên khu đề cử và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chuẩn y.

Lục sự là một quân nhân do khu trưởng chỉ định.

Đối với mỗi chức vụ kể trên, sẽ cử một nhân viên chính thức và một nhân viên dự khuyết thay nhân viên chính thức khi mắc bận.

   *Ngày 25-4-1947 Chính phủ ra Sắc lệnh số 45 quy định tổ chức và hoạt động của Toà án binh tối cao.

   Điều 1: “Nay đặt một Toà án binh tối cao, quản hạt là toàn cõi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.

   *Ngày 5-7-1947 Chính phủ ra Sắc lệnh số 59 thành lập Toà án binh khu trung ương.

   Điều 1: “Nay đặt tại Bộ Quốc phòng một Toà án binh gọi là: Toà án binh khu trung ương”.

2.2.2. Để kịp thời trừng trị những tội phạm xảy ra tại những nơi đang có chiến sự, liên bộ Quốc phòng- Tư pháp đã ra Thông lệnh liên bộ số 11-NV-CT ngày 28-12-1946, số 32-TL-ĐB ngày 16-2-1947 và số 60- TT ngày 23-5-1947 về thiết lập Toà án binh tại mặt trận.

2.2.3. Như vậy, trước ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), trên toàn lãnh thổ Việt Nam, chỉ có một Toà án binh lâm thời đặt tại Hà Nội được tổ chức theo Sắc lệnh 163 ngày 23-8-1946. Nhưng sau đó chính phủ đã ban hành 3 sắc lệnh (Sắc lệnh 163 tự hết hiệu lực) và thông lệnh tổ chức các Toà án binh mới:

- Sắc lệnh số 19- SL ngày 14-2-1947 tổ chức các Toà án binh khu trên toàn cõi Việt Nam;

- Sắc lệnh số 45- SL ngày 25-4-1947 Tổ chức Toà án binh tối cao;

- Sắc lệnh số 59- SL ngày 5-7-1947 tổ chức Toà án binh khu Trung ương.

- Thông lệnh liên bộ Quốc phòng - Tư pháp số 60-TL ngày 28-5-1947 tổ chức Toà án binh tại mặt trận.

Thông tư số 64-TT ngày 06-8-1947 về phân biệt Tòa án binh và Tòa án thường nêu rõ:

a) Toà án Quân sự có quyền xử tất cả mọi người phạm tội có tính cách chính trị, chỉ trừ khi người phạm tội là binh sĩ thì để thuộc quyền Toà án binh xử.

b) Toà án binh thì có quyền xét xử tất cả quân nhân phạm pháp dù họ phạm vào các tội có tính cách nhà binh hay các tội định trong hình luật chung.

Nên để ý trong sắc lệnh nói rõ là quân nhân nghĩa là những người tuyển theo quy tắc quân đội Quốc gia. Còn các đội cảnh vệ, công an.v.v... thuộc hành chính thì vẫn thuộc quyền Tòa án tư pháp hoặc Tòa án quân sự tùy từng trường hợp.

2.3. Hoàn thiện hệ thống Toà án Quân sự

Ngày 14-02-1946, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 21 về tổ chức các Toà án Quân sự, Sắc lệnh này bãi bỏ các Sắc lệnh về Toà án Quân sự: Sắc lệnh ngày 13-9-1945, ngày 26-9-1945, ngày 29-9-1945, ngày 28-12-1945, ngày 15-01-1946. Để hướng dẫn thi hành Sắc lệnh số 21 nêu trên, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 82 ngày 25-02-1946. Ngày 8-02-1948, bộ Tư pháp ra Thông tư số 28/HC định thẩm quyền của Toà án Quân sự. Tiếp đó, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 170-SL ngày 14-4-1948 tổ chức lại các Toà án Quân sự.

2.4. Giải thể Toà án đặc biệt

Ngày 18-12-1949, Chính phủ ra Sắc lệnh số 138-B/SL thành lập Ban Thanh tra Chính phủ. Điều 1 Sắc lệnh quy định: “Nay bãi bỏ Sắc lệnh số 64 ngày 23-11-1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt”. Như vậy, Sắc lệnh này đã giải thể Toà án đặc biệt được thành lập theo Sắc lệnh 64 ngày 23-11-1945.

3. Toà án trong giai đoạn cải cách tư pháp 1950 đến 1958

Như vậy, sau gần 5 năm kể từ ngày giành được chính quyền, chúng ta đã bãi bỏ bộ máy tư pháp của chế độ chính quyền, thực dân, phong kiến, thiết lập những Toà án mới, trong đó có Toà án Quân sự và Toà án binh. Tuy nhiên, các Toà án thường còn mang nặng những ảnh hưởng của nền tư pháp cũ. Thực hiện một cách máy móc “Toà án tư pháp sẽ độc lập với các Cơ quan hành chính” (Điều 42 Sắc lệnh số 13 ngày 24-01-1946). “Vậy các Toà án trong thời kỳ kháng chiến vn độc lập với Uỷ ban hành chính. Uỷ ban này không có quyền kiểm soát, điều khiển các Toà án. Các Thẩm phán không phải báo cáo với Uỷ ban hành chính” (Thông tư số 693 ngày 25-9-1947 của Bộ Tư pháp).

Mặc dầu Sắc lệnh số 47 ngày 10-10-1945 cho giữ tạm thời các luật lệ cũ đã chỉ rõ ràng “những điều khoản trong luật lệ cũ được tạm giữ lại do Sắc lệnh này chỉ thi hành khi nào không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hoà”. Và Thông tư số 34-NV-TP/CT ngày 7-01-1947 của liên Bộ Nội vụ - Tư pháp cũng đã chỉ rõ: “Các Thẩm phán phải làm việc với tinh thần chiến đấu, nêu cao gương hy sinh và xung phong cho dân chúng theo, nên hết sức gần dân, săn sóc đến dân, đi đến dân chứ không đợi dân đi đến mình”.

Nhưng nhiều Thẩm phán trong các Toà án thường lúc đó đã không chú ý vận dụng các chính sách của Chính phủ vào công tác xét xử và đã hiểu “độc lập” là “biệt lập”, tức là Toà án không chịu sự lãnh đạo của Đảng, không cần phải phối hợp với Uỷ ban hành chính, cơ quan công an và đoàn thể nhân dân trong việc bảo vệ chế độ. Tình hình này đã là một trở ngại cho việc phát huy sức mạnh của Nhà nước, cho nên Đảng ta đã lần lượt tiến hành một cuộc đấu tranh về tư tưởng và sau đó là cải cách bộ máy của Toà án.

*Trước hết là Sắc lệnh số 85 ngày 22-5-1950.

+ Về tổ chức: - Bộ máy tư pháp được dân chủ hoá các Toà án sơ cấp, đệ nhị cấp nay gọi là Toà án nhân dân huyện, Toà án nhân dân tỉnh. Hội đồng phúc án nay là Toà Phúc thẩm, phụ thẩm nhân dân nay gọi là hội thẩm nhân dân.

- Thành phần nhân dân được đa số trong việc xét xử: Để xét xử việc hình và hộ, Toà án nhân dân huyện và tỉnh gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Toà Phúc thẩm gồm hai Thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân. Hội thẩm nhân dân có quyền xem hồ sơ và biểu quyết.

- Thành lập hội đồng hòa giải tại mỗi huyện nhằm mục đích giao cho nhân dân trực tiếp phụ trách việc hòa giải tất cả các việc hộ kể cả việc ly dị mà từ trước tới nay chỉ có Chánh án Toà án tỉnh mới có thẩm quyền. Biên bản hoà giải thành có chấp hành lực; đây là một điểm tiến bộ so với thể lệ cũ. Khi các đương sự đã thoả thuận trước hội đồng hòa giải thì việc hoà giải được đem thi hành ngay.

- Áo chùng đen của Thẩm phán và luật sư nay bỏ đi.

+ Về thẩm quyền:

- Tăng thẩm quyền cho ban tư pháp xã về việc phạt vi cảnh để làm cho một số việc ít quan trọng về mặt trị an sẽ được giải quyết mau chóng ngay tại xã.

- Giao cho các Toà án nhân dân huyện quyền ấn định các phương pháp bảo thủ, dù việc xử kiện không thuộc thẩm quyền Toà án nhân dân huyện để tránh cho đương sự khỏi phải tốn phí đi lên Toà án tỉnh và những việc cấp bách có thể được giải quyết mau chóng hơn.

+ Về tố tụng: Thủ tục tố tụng được hợp lý và giản dị hơn.

Cùng trong năm 1950, ngày 5-6 Chủ tịch Chính phủ ra Sắc lệnh số 103-SL quy định “Uỷ ban kháng chiến hành chính các cấp có nhiệm vụ lãnh đạo và điều khiển các ngành chuyên môn cấp tương đương trong đó có ngành Tư pháp bao gồm cả Công tố và Toà án” (Điều 1).

Với yêu cầu là dân chủ hoá và tăng cường các Toà án, Sắc lệnh số 158-SL ngày 17-11-1950 đã quy định đưa cán bộ công nông có thành tích và có kinh nghiệm vào làm Thẩm phán mà không đòi hỏi phải có bằng cấp về luật học. Sắc luật này đã tạo điều kiện cho việc nhanh chóng tăng cường cho các Toà án nhân dân một đội ngũ cán bộ có quan điểm lập trường cách mạng trong công tác, làm nòng cốt để xây dựng các Toà án trở thành những Toà án thực sự của nhân dân.

Trên cơ sở các Toà án được tăng cường cán bộ cách mạng, Sắc lệnh số 156-SL ngày 22-11-1950 đã quy định việc thành lập Toà án nhân dân liên khu và giao cho các Toà án đó quyền xử cả những tội phản cách mạng. Từ đó, các Toà án Quân sự đã được nhập vào hệ thống Toà án thường và các cán bộ của Toà án Quân sự lại được tăng cường cho Toà án nhân dân liên khu.

   *Để “tranh chấp chính quyền với địch trong vùng bị chiếm, thi hành luật pháp chính quyền nhân dân trong vùng bị chiếm để bảo vệ nhân dân và trừng trị nguỵ quyền”, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 157-SL ngày 17-11-1950 tổ chức Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm đóng, mà theo đó trong những vùng tạm bị địch chiếm đóng có thể thiết lập một Toà án gọi là Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm. Quản hạt Toà án này có thể là một tỉnh, một số huyện trong một tỉnh, hay một số xã trong một huyện hay trong nhiều huyện (Điều 1). Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm có thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, Toà án nhân dân tỉnh và Toà án quân sự. Các bản án đều được thi hành ngay. Về việc binh và hộ, Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm thuộc quyền điều khiển của Toà án nhân dân tỉnh. Nếu quản hạt của Toà án nhân dân vùng bị tạm chiếm là một tỉnh thì trực thuộc quyền điều khiển của Toà án nhân dân liên khu hoặc Toà phúc thẩm. Về việc xét xử các việc thuộc thẩm quyền Toà án quân sự, Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm thuộc quyền điều khiển của Toà án quân sự liên khu và Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu. Nếu có Toà án nhân dân liên khu thì thuộc quyền điều khiển của Toà án này.

*Thực hiện nhiệm vụ phản phong của cách mạng dân tộc dân chủ, Sắc lệnh số 149 ngày 12-4-1953 đã quy định về chính sách ruộng đất để tiến hành việc phát động quân chủng cải cách ruộng đất. Để bảo đảm việc thi hành chính sách ruộng đất, giữ gìn trật tự xã hội, củng cố chính quyền nhân dân, đẩy kháng chiến đến thắng lợi. Sắc lệnh số 150 ngày 12-4-1953 đã thành lập các Toà án nhân dân đặc biệt ở những vùng phát động quần chúng để cải cách ruộng đất. Nhiệm vụ của các Toà án nhân dân đặc biệt là: Trừng trị những kẻ phản cách mạng, cường hào gian ác, những kẻ chống lại hoặc phá hoại chính sách cải cách ruộng đất; xét xử những vụ tranh chấp về tài sản, ruộng đất có liên quan đến các vụ án trên; xét xử những vụ tranh cãi về phân định thành phần giai cấp.

Các Toà án nhân dân đặc biệt không xử những vụ hình và hộ thuộc Toà án nhân dân thường.

Những vụ án phản cách mạng phức tạp và phải xét xử lâu dài thì do Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu quyết định chuyển sang Toà án nhân dân thường xét xử.

Các Thẩm phán của các Toà án nhân dân đặc biệt chủ yếu là trung, bần, cố nông trong đó có cán bộ chính trị làm chủ chốt. Một nửa số Thẩm phán do Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh lựa chọn, một nửa nữa do Nông hội huyện cử ra. Khi làm xong nhiệm vụ thì các Toà án nhân dân đặc biệt giải tán.

II. TOÀ ÁN NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1959 ĐẾN NĂM 1980

   1. Tại Hội nghị lần thứ 14 (tháng 11 năm 1958) Ban chấp hành Trung ương Đảng đã chủ trương tăng cường Nhà nước dân chủ nhân dân và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền các cấp từ trung ương đến cơ sở. Trong tình hình chung đó bộ máy nhà nước nói chung, Toà án nhân dân nói riêng được tăng cường và cải cách thêm một bước mới. Tại khoá họp lần thứ tám, tháng 4-1958 Quốc hội quyết định thành lập Toà án nhân dân tối cao và Viện công tố nhân dân trung ương, tách hệ thống Toà án nhân dân và Viện công tố khỏi Bộ Tư pháp.

Cũng tại kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua Luật Tổ chức Chính quyền địa phương. Theo luật này, đơn vị hành chính cấp khu ở đồng bằng và trung du được bãi bỏ. Do đó, ngày 14-8-1959 chính phủ đã ra Nghị định số 300- TTg tổ chức lại các Toà án nhân dân phúc thẩm, sáp nhập 6 Toà án nhân dân phúc thẩm thành 3 Toà án nhân dân phúc thẩm: Hà Nội, Hải Phòng, Vinh.

Quản hạt của TAND phúc thẩm Hà Nội gồm thành phố Hà Nội và các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Hoà Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai.

Quản hạt của TAND phúc thẩm Hải Phòng gồm thành phố Hải Phòng, khu Hồng Quảng và các tỉnh Hải Ninh, Kiến An.

Quản hạt của TAND phúc thẩm Vinh gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh.

Thông tư số 92- TC của liên Ngành Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao ngày 11-11-1959 giải thích và quy định cụ thể về nhiệm vụ và quyền hạn của các Toà án nhân dân phúc thẩm Hà Nội, Hải Phòng và Vinh, nêu rõ:

“Sau khi bỏ các khu hành chính ở đồng bằng và trung du, hướng tổ chức của các Toà án là: dần dần xây dựng TAND huyện thành TAND sơ thẩm, xây dựng TAND tỉnh thành TAND phúc thẩm để đi tới bỏ các TAND phúc thẩm khu. Trong khi chưa xây dựng được các TAND huyện thành TAND sơ thẩm, TAND tỉnh chưa trở thành TAND phúc thẩm thì vẫn cần phải giữ lại cấp TAND phúc thẩm hiện nay. Tuy nhiên để làm cho tổ chức của các TAND phúc thẩm được gọi là hợp lý, Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị định dồn 6 TAND phúc thẩm cũ ở đồng bằng và trung du thành 3 TAND phúc thẩm... TAND phúc thẩm chuyên trách công việc xét án không phụ trách công việc lãnh đạo về chương trình kế hoạch, quản lý cán bộ, hướng dẫn về đường lối.

... Trong việc xử án, thì chủ yếu là công việc xử phúc thẩm.

Nhiệm vụ chỉ đạo công tác xét xử của các TAND tỉnh và thành phố nay tập trung vào TAND tối cao...

...

a) TAND phúc thẩm chỉ đạo công việc xét xử của các TAND cấp dưới thông qua án lệ của mình…”

Ngày 20-10-1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 381-TTg quy định nhiệm vụ và quyền hạn của TAND tối cao, cụ thể như sau:

“Điều 1. - Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất.

Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Toà án nhân dân địa phương và Toà án Quân sự các cấp.

Nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Toà án nhân dân tối cao là:

1. Xử sơ thẩm, chung thẩm những vụ án mà pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao và những vụ án mà đặc biệt Viện Công tố trung ương hoặc Toà án nhân dân tối cao thấy phải do Toà án nhân dân tối cao xét xử.

2. Xử phúc thẩm chung thẩm những vụ án do Toà án cấp dưới xử sơ thẩm trong các trường hợp có kháng nghị của Cơ quan công tố hoặc của đương sự.

3. Xử lại hoặc chỉ thị cho Toà án cấp dưới xử lại những vụ án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có sai lầm.

4. Duyệt lại các án tử hình.

Ngoài ra Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ:

1. Nghiên cứu đường lối chính sách xét xử.

2. Nghiên cứu các đạo luật về hình sự và dân sự, hướng dẫn các Toà án áp dụng pháp luật, đường lối chính sách, thi hành các thủ tục hình sự và dân sự, vạch chương trình công tác, kiểm tra công tác xét xử, tổng kết kinh nghiệm công tác xét xử của Toà án các cấp.

3. Quản lý cán bộ và biên chế Ngành Toà án theo chế độ phân cấp quản lý cán bộ và biên chế.

   Căn cứ vào các quy định của Hiến pháp năm 1959 về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, ngày 14-7-1960, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá II, kỳ họp thứ nhất đã thông qua Luật tổ chức Toà án nhân dân.

   Theo Điều 2 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 thì “các Toà án nhân dân gồm có: Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự” và “Các Toà án nhân dân địa phương gồm có: Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, Toà án nhân dân ở các khu vực tự trị”. “Ở các khu vực tự trị, tổ chức các Toà án nhân dân địa phương sẽ do Hội đồng nhân dân khu vực tự trị quy định, căn cứ vào Điều 95 của Hiến pháp và những nguyên tắc tổ chức Toà án nhân dân trong luật này” (Điều 2). Điều đáng lưu ý là trong Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 chỉ quy định có tính chất nguyên tắc về thẩm quyền của các Toà án nhân dân các cấp, mà không quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân mỗi cấp. Trong đạo luật này cũng chỉ quy định có tính chất nguyên tắc về chế độ bầu cử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân mà cũng không quy định về tiêu chuẩn của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân.

“Để kiện toàn Toà án nhân dân các cấp, tăng cường tính chất nhân dân của tổ chức Toà án nhân dân và bảo đảm cho việc xét xử được chính xác và đúng pháp luật” ngày 23-3-1961 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức của các Toà án nhân dân địa phương. Theo quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh thì “Toà án nhân dân tối cao gồm có Chánh án, một hoặc nhiều Phó Chánh án, các Thẩm phán và Thẩm phán dự khuyết. Toà án nhân dân tối cao có những tổ chức sau đây: Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; các Toà chuyên trách của Toà án nhân dân tối cao: các Toà hình sự, Toà dân sự và Toà quân sự; Toà phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng toàn thể Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao”. Trong Pháp lệnh này cũng đã quy định một cách cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi tổ chức tương ứng. Mặc dù trong cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tối cao Pháp lệnh không quy định cụ thể bộ máy giúp việc, nhưng theo quy định tại Điều 6 của Pháp lệnh và thực tiễn tổ chức của Toà án nhân dân tối cao trong thời gian này cho thấy còn có bộ máy giúp việc như Văn phòng, các Vụ tổ chức, tổng hợp, nghiên cứu pháp luật v.v... Điều đáng lưu ý là theo Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 và Pháp lệnh ngày 23-3-1961 nói trên thì Chánh án Toà án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra và bãi miễn. Nhiệm kỳ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao là năm năm. Còn Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm phán dự khuyết và Uỷ viên Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao do Uỷ ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và bãi miễn theo đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

   Một đặc thù theo quy định của Pháp lệnh ngày 23-3-1961 nói trên, thì “Hội đồng toàn thể Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ duyệt lại các bản án tử hình của Toà án nhân dân các cấp, căn cứ vào Điều 9 của Luật tổ chức Toà án nhân dân (năm 1960)” (Điều 5).

   Đối với Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, thì theo Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960, Pháp lệnh ngày 23-3-1961 nói trên gồm có Chánh án, một hoặc nhiều Phó Chánh án và các Thẩm phán. Trong cơ cấu tổ chức không chia thành các Toà chuyên trách như Toà án nhân dân tối cao mà chỉ có Uỷ ban Thẩm phán. “Chánh án, Phó Chánh án và các Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn. Nhiệm kỳ của Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương là bốn năm. Uỷ viên Uỷ ban Thẩm phán của các Toà án nhân dân nói trên do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn” (Điều 27 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960).

   Ngoài chức năng, nhiệm vụ xét xử “Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ xây dựng tổ chức tư pháp ở địa phương, huấn luyện thư ký cho Toà án địa phương, huấn luyện cán bộ tư pháp cho thị trấn và xã, và tổ chức việc tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân” (Điều 9 Pháp lệnh ngày 23-3-1961).

   Theo Luật và Pháp lệnh nói trên thì “Toà án nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương đương gồm có Chánh án và Thẩm phán, nếu cần thiết thì có Phó Chánh án”. Toà án này có thẩm quyền: “a) Hoà giải những việc tranh chấp về dân sự; b) Phân xử những việc hình nhỏ không phải mở phiên toà; c) Sơ thẩm những vụ án dân sự; sơ thẩm những vụ án hình sự có thể phạt từ hai năm tù trở xuống”. Ngoài ra, còn có nhiệm vụ xây dựng tổ chức tư pháp và hướng dẫn công tác hoà giải ở các thị trấn và xã, tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân.

Về quản lý các TAND địa phương, Điều 23 Luật Tổ chức TAND quy định: “... Bộ máy làm việc và biên chế của các TAND địa phương các cấp do TANDTC hướng dẫn thực hiện theo quy định chung về bộ máy làm việc và biên chế của Cơ quan Nhà nước” và Điều 14 Pháp lệnh ngày 23-3-1961 quy định: “Tổ chức cụ thể của bộ máy làm việc và biên chế cụ thể của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Chánh án Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện theo những quy định chung về bộ máy làm việc và biên chế của các cơ quan nhà nước. Tổng biên chế của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Chánh án Toà án nhân dân tối cao định và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn”.

   Căn cứ vào Điều 95 Hiến pháp năm 1959 và Điều 2 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960, ngày 9-4-1963 Hội đồng nhân dân khu tự trị Tây Bắc đã ban hành Điều lệ “quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân các cấp trong khu tự trị Tây Bắc”. Điều lệ này đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn tại Quyết định số 185-TVQH ngày 9-7-1963. Theo Điều 1 của bản Điều lệ này thì “các Toà án nhân dân trong khu tự trị Tây Bắc gồm có: Toà án nhân dân khu; các Toà án nhân dân tỉnh; các Toà án nhân dân thị xã và huyện”. Tại khu tự trị Việt Bắc, Hội đồng nhân dân khu tự trị Việt Bắc cũng đã ban hành Điều lệ “quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân các cấp trong khu tự trị Việt Bắc”. Điều lệ này đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn tại Quyết định số 157-NQ-TVQH ngày 2-3-1963. Theo Điều 1 của bản Điều lệ này thì “các Toà án nhân dân trong khu tự trị Việt Bắc gồm có: Toà án nhân dân khu; các Toà án nhân dân tỉnh; các Toà án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã và huyện”.

- Ngày 27-12-1975 Quốc hội khoá V kỳ họp thứ hai đã ra Nghị quyết “về việc cải tiến các đơn vị hành chính”, bỏ cấp khu tự trị trong hệ thống các đơn vị hành chính. Do đó, TAND khu tự trị Việt Bắc và TAND khu tự trị Tây Bắc được giải thể.

Căn cứ vào Hiến pháp mới được Quốc hội thông qua ngày 31-12-1959 và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960, ngày 21-2-1961 Bộ Tổng tham mưu ra Quyết định số 165 quy định tạm thời tổ chức biên chế của ngành Toà án quân sự như sau: “Hệ thống Toà án quân sự bao gồm: Toà án quân sự trung ương và các Toà án quân sự ở cấp quân khu, quân binh chủng, sư đoàn trực thuộc Bộ và tương đương. Về quân số Toà án quân sự trung ương có 15 người, Toà án quân sự quân khu, quân binh chủng và tương đương có từ 7 đến 9 người, Toà án quân sự sư đoàn trực thuộc Bộ và tương đương có 6 người”.

Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất nhưng chưa thống nhất về mặt Nhà nước, ngày 15-5-1976 Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ban hành sắc luật số 01/SL-76 quy định về Tổ chức TAND và Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân. Tiếp đó, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra quyết định số 29-QĐ-76 ngày 27-5-1976 thành lập Toà án nhân dân đặc biệt để xét xử các tên tư bản mại bản phạm tội lũng đoạn, đầu cơ tích trữ, phá rối thị trường. Và sau đó, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ra Quyết định số 181-NQ/QHK 6 ngày 23-01-1978 giao cho Toà án nhân dân đặc biệt xét xử những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng về trật tự xã hội xảy ra tại thành phố Hồ Chí Minh như: Giết người, cướp của tống tiền, bắt cóc, đốt nhà, tổ chức lưu manh trộm cắp, hiếp dâm. (Toà án nhân dân đặc biệt đã được giải thể theo Nghị quyết số 720- NQ-HĐND 7 ngày 01-4-1986 của Hội đồng Nhà nước).

Sau cuộc tổng tuyển cử tháng 4 năm 1976, nước ta thống nhất về mặt Nhà nước và lấy tên là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong khi chưa có Hiến pháp mới, Quốc hội quyết định Hiến pháp 1959 được áp dụng cho cả nước và giao cho Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm hướng dẫn việc thi hành và xây dựng pháp luật thống nhất trong cả nước. Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 đã được áp dụng trong cả nước và các Toà án nhân dân ở miền Nam được thành lập nhanh chóng bằng một số lớn cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc trở về, cán bộ miền Bắc được chi viện và với cán bộ địa phương đã trực tiếp chiến đấu ở miền Nam.

Khái quát việc tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân trong giai đoạn này, chúng ta có thể có mấy nhận xét sau đây:

- Toà án nhân dân ở Việt Nam đã được tổ chức thành một hệ thống từ trung ương đến huyện, thị xã phù hợp với điều kiện và đặc thù của chế độ chính trị, kinh tế, xã hội của nước ta trong giai đoạn này.

- Các Toà án Binh trước chịu sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng thì nay được gọi là Toà án Quân sự và các Toà án Quân sự cũng như các Toà án nhân dân địa phương đều chịu sự hướng dẫn thống nhất của Toà án nhân dân tối cao về áp dụng pháp luật, đường lối xét xử và cũng đều do Toà án nhân dân tối cao giám đốc công tác xét xử.

- Trong tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân bảo đảm tối đa sự tham gia của nhân dân; cụ thể được thể hiện chế độ bầu cử các chức vụ Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán các Toà án nhân dân các cấp và thực hiện nguyên tắc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia và chiếm đa số trong thành phần Hội đồng xét xử.

- Tổ chức Toà án nhân dân theo nguyên tắc kết hợp thẩm quyền xét xử với đơn vị hành chính lãnh thổ.

- Toà án nhân dân thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Điều đó có nghĩa là Nhà nước ta chú trọng bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Việc quản lý các Toà án nhân dân địa phương do Toà án nhân dân tối cao đảm nhiệm, nhưng thực chất có thể nói trong giai đoạn này các Toà án nhân dân địa phương song trùng trực thuộc. Toà án nhân dân tối cao chủ yếu quản lý về công tác sắp xếp bộ máy làm việc, số lượng biên chế, trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn tổng biên chế của các Toà án nhân dân địa phương, quản lý về công tác xét xử. Uỷ ban nhân dân địa phương quản lý và cấp kinh phí hoạt động cũng như sắp xếp nhân sự; cụ thể Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu.

 

 

III. TOÀ ÁN NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1980 ĐẾN NĂM 1992

1. Mùa xuân năm 1975, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trọn vẹn trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau ba mươi năm chiến đấu gian khổ miền Nam, thành đồng Tổ quốc, được hoàn toàn giải phóng. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta tiến hành tổng tuyển cử tự do trong cả nước, thực hiện thống nhất đất nước về mặt Nhà nước. Tháng 7-1976, nước ta lấy tên là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày 18-12-1980 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VI, kỳ họp thứ 7, đã thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam thống nhất.

Các quy định của Hiến pháp năm 1980 về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân được cụ thể hoá bằng Luật tổ chức Toà án nhân dân, được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 3-7-1981 và được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Toà án nhân dân, được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 22-12-1988. Theo Điều 2 của đạo luật này thì “các Toà án nhân dân gồm có: Toà án nhân dân tối cao; các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương; các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; các Toà án quân sự” và “Trong tình hình đặc biệt hoặc trong trường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt, Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt”. Đối với “ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân, theo quy định của pháp luật”.

Về nhiệm kỳ của Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán Toà án nhân dân các cấp khác với Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 là quy định thời hạn nhất định, thì Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1981 quy định theo nhiệm kỳ của cơ quan bầu ra mình.

Trong hệ thống Toà án nhân dân, thì Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hướng dẫn các Toà án nhân dân địa phương và các Toà án quân sự áp dụng thống nhất pháp luật và đường lối xét xử, giám đốc việc xét xử của các Toà án đó và tổng kết kinh nghiệm xét xử. Toà án nhân dân tối cao có Chánh án, các Phó Chánh án, các Thẩm phán và các Hội thẩm nhân dân.

Về tổ chức, Toà án nhân dân tối cao gồm có: Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Toà hình sự; Toà dân sự; Toà án quân sự cấp cao và các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; khi xét thấy cần thiết, Hội đồng Nhà nước có thể thành lập các Toà chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao; bộ máy giúp việc của Toà án nhân dân tối cao.

Đối với Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương có Chánh án, các Phó Chánh án, các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Về tổ chức gồm có: Uỷ ban Thẩm phán, Toà hình sự, Toà dân sự; bộ máy giúp việc.

   Đối với các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gồm có Chánh án, một hoặc hai Phó Chánh án, các Thẩm phán và các Hội thẩm nhân dân. Ở Toà án cấp này không có Uỷ ban Thẩm phán và cũng không có tổ chức thành các Toà chuyên trách.

Về tổ chức Toà án quân sự, căn cứ vào quy định tại Điều 2 của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1981: “Tổ chức của các Toà án quân sự do Hội đồng Nhà nước quy định” và căn cứ vào nhiệm vụ và tổ chức của Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày 21-12-1985, Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự và được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự, được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 29-3-1990. Theo Điều 2 của Pháp lệnh năm 1985 thì: “Các Toà án quân sự gồm có: Toà án quân sự cấp cao; các Toà án quân sự quân khu và cấp tương đương, các Toà án quân sự khu vực”.

Toà án quân sự cấp cao là một Toà án thuộc Toà án nhân dân tối cao, gồm có Chánh án, các Phó Chánh án, các Thẩm phán và Hội thẩm quân nhân. Toà án quân sự quân khu và cấp tương đương có: Chánh án, các Phó Chánh án, các Thẩm phán và Hội thẩm quân nhân; các Toà án quân sự quân khu và cấp tương đương có Uỷ ban Thẩm phán và vì chỉ xét xử các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của mình nên trong các Toà án quân sự quân khu và cấp tương đương không thành lập các Toà chuyên trách. Toà án quân sự khu vực có Chánh án, các Phó Chánh án, các Thẩm phán và Hội thẩm quân nhân. Về tổ chức Toà án quân sự khu vực không có Uỷ ban Thẩm phán và không thành lập các Toà chuyên trách.

Năm 1981 Bộ Tư pháp được thành lập lại và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1981 đã giao “việc quản lý các Toà án nhân dân địa phương về mặt tổ chức do Bộ trưởng Bộ Tư pháp đảm nhiệm. Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Chánh án Toà án nhân dân tối cao trong việc thực hiện nhiệm vụ đó” (Điều 16). Về quản lý các Toà án quân sự, thì Pháp lệnh năm 1985 đã giao “Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chánh án Toà án nhân dân tối cao trong việc quản lý về mặt tổ chức các Toà án quân sự quân khu và cấp tương đương và các Toà án quân sự khu vực”.

 

IV. TOÀ ÁN NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1992 ĐẾN THÁNG 10-2002

Đường lối đổi mới mọi mặt về đời sống xã hội do Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng đã tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, xây dựng Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới đất nước. Nhìn chung nhiều quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân được kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1980, tuy nhiên một số quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và của Toà án nhân dân nói riêng đã thể hiện rõ nét đổi mới các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan này.

Thứ nhất là, Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định “trong tình hình đặc biệt” và cũng chỉ có “Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt”.

   Thứ hai là, Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “chế độ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của Thẩm phán thay thế cho chế độ bầu cử Thẩm phán được quy định trong Hiến pháp năm 1980”.

Thứ ba là, nếu trong Hiến pháp năm 1980 quy định nhiệm kỳ của Hội thẩm Toà án nhân dân tối cao là hai năm rưỡi; nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương là hai năm, thì Hiến pháp năm 1992 chỉ khẳng định nguyên tắc là thực hiện chế độ bầu cử đối với Hội thẩm nhân dân các Toà án các cấp, còn nhiệm kỳ do luật định.

Thứ tư là, Hiến pháp năm 1992 bổ sung một quy định mới rất quan trọng làm cơ sở cho việc thành lập các Toà án khác khi xét thấy cần thiết, ngoài các Toà án đã có ở nước ta trước năm 1992.

   Để cụ thể hoá những quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, ngày 6-10-1992 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ nhất đã thông qua Luật tổ chức Toà án nhân dân và được sửa đổi, bổ sung theo các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân, được Quốc hội thông qua ngày 28-12-1993 và ngày 28-10-1995. Đồng thời ngày 19-4-1993 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự và ngày 14-5-1993 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân. Có thể nói rằng việc ban hành các đạo luật và các Pháp lệnh cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân là một bước tiến dài trong công cuộc cải cách tư pháp. Theo các văn bản pháp luật này thì tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân đã được kiện toàn và đổi mới một bước.

 

V. TOÀ ÁN NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN TỪ THÁNG 10-2002

Nhằm cụ thể hoá các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Bộ máy nhà nước cũng như những yêu cầu cụ thể về dổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có Toà án nhân dân đã được đề ra trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng, đặc biệt là trong Văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, ngày 02-4-2002, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá X đã thông qua Luật tổ chức Toà án nhân dân mới thay thế Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 06-10-1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 28-12-1993 và ngày 28-10-1995.

So với các quy định trước đây, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 có một số điểm mới cơ bản sau đây:

Bỏ quy định về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở tại khoản 2 Điều 2 và quy định về chế độ cử Hội thẩm ở Toà án nhân dân tối cao tại Điều 3 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1992.

Bổ sung một điều luật mới (Điều 11) quy định về chế độ hai cấp xét xử. Theo quy định này bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp xét xử phúc thẩm.

   Sửa đổi, bổ sung quy định về cơ chế quản lý các Toà án nhân dân địa phương và các Toà án quân sự về tổ chức.

Theo quy định tại Điều 16 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1992 và Điều 16 Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự thì việc quản lý các Toà án nhân dân địa phương và các Toà án quân sự về tổ chức do Bộ trưởng Bộ Tư pháp đảm nhiệm có sự phối hợp chặt chẽ với Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Nay theo quy định tại Điều 17 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 thì Toà án nhân dân tối cao quản lý các Toà án nhân dân địa phương và các Toà án quân sự về tổ chức có sự phối hợp chặt chẽ với Hội đồng nhân dân địa phương và Bộ Quốc phòng. Đây là một bước cải cách tư pháp lớn đối với ngành Toà án nhân dân. Quy định này là sự cụ thể hoá, là việc thực hiện những chủ trương về cải cách, tổ chức và đổi mới hoạt động các cơ quan tư pháp đã được khẳng định trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”.

Bỏ quy định về Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại Điều 22 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1992, tức là bỏ một cơ quan có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm ở Toà án nhân dân tối cao.

Sửa đổi, bổ sung quy định về thành phần, nguyên tắc hoạt động, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại các điều 21 và 22 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002.

Bổ sung một số nhiệm vụ và quyền hạn mới của Chánh án Toà án nhân dân tối cao. Do đổi mới cơ chế quản lý các Toà án nhân dân địa phương và các Toà án quân sự về tổ chức, đồng thời quán triệt Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị “gắn việc theo dõi, hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn với việc nhận xét, bố trí, sử dụng cán bộ; phân cấp bổ nhiệm theo hướng Chủ tịch nước chỉ bổ nhiệm Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao”; do đó, trong Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 có bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Toà án nhân dân tối cao về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự quân khu và tương đương, các Toà án quân sự khu vực cũng như về quy định bộ máy giúp việc của các Toà án này (các điểm 6, 7, 11 và 12 Điều 25).

Bỏ thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao quy định tại Điều 26 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1992 nhằm bảo đảm thống nhất với quy định trong các đạo luật khác về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là cấp phó giúp cấp trưởng làm nhiệm vụ. Mặt khác việc bỏ quy định này là nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của Chánh án Toà án nhân dân tối cao trong việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Để triển khai thi hành Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002, ngày 04 tháng 11 năm 2002, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng đã thông qua Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự thay thế Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự ngày 19 tháng 4 năm 1993, trong đó quy định cụ thể cơ cấu tổ chức của Toà án quân sự các cấp, đồng thời sửa đổi, bổ sung một số quy định trước đây để phù hợp với các quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002.

 

VI. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TỔ CHỨC TÒA ÁN Ở NƯỚC TA

Để tiến hành cải cách tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu mới của đất nước, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”. Thông qua việc triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết, đã tạo ra được một số chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương về tính cấp thiết và yêu cầu khách quan của việc đẩy mạnh cải cách tư pháp.

Thực tiễn đất nước ta đặt ra những nhu cầu cải cách tư pháp sâu rộng, do vậy, ngày 02-6-2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị là sự kế thừa phát triển lên một tầm cao mới Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác tư pháp.

Nghị quyết số 49-NQ/TW nêu rõ “Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp. Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức hoạt động của Tòa án nhân dân.

Tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính gồm: Tòa án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Tòa án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Tòa thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Việc thành lập Tòa chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp Tòa án, từng khu vực. Đổi mới tổ chức Tòa án nhân dân tối cao theo hướng tinh gọn với đội ngũ Thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong ngành.

Nghiên cứu, xác định hợp lý phạm vi thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự theo hướng chủ yếu xét xử những vụ án về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, những vụ án liên quan đến bí mật quân sự...

Đổi mới tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”.

Như vậy, theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, có hai vấn đề quan trọng về tổ chức và hoạt động mà ngành Tòa án nhân dân cần thực hiện: Thứ nhất là đổi mới hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân; Thứ hai là nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa và phát triển án lệ.

1. Về đổi mới hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân

Theo kết luận số 79-KL/TW ngày 28-7-2010 của Bộ Chính trị thì hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân gồm 4 cấp. Cụ thể như sau:

- Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực xét xử hầu hết các vụ, việc thuộc thẩm quyền của Tòa án (như Tòa án nhân dân cấp huyện hiện nay) và từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử các khiếu kiện hành chính. Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực thành lập ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện trong cùng một đơn vị hành chính cấp tỉnh.

- Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực có kháng cáo, kháng nghị và xét xử sơ thẩm một số vụ án không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực thuộc địa hạt của tỉnh; không thực hiện nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm. Mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh có một Tòa án nhân dân cấp tỉnh như hiện nay, nhưng không có Ủy ban thẩm phán.

- Tòa án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có kháng cáo, kháng nghị và giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật nhưng lại kháng nghị. Trước mắt, thành lập 3 tòa án nhân dân cấp cao tại ba khu vực: Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh.

- Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật; được tổ chức tinh gọn, với số lượng thẩm phán từ 13-17 người, là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm xét xử và có uy tín cao trong xã hội.

*Chúng ta có thể tự so sánh mô hình tổ chức trong tương lai với mô hình tổ chức của hệ thống Tòa án một số nước trong phụ lục kèm theo.

2. Về việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa[1]

Phần này chỉ nêu những ý kiến của các thẩm phán Hoa Kỳ và Pháp để chúng ta cùng suy nghĩ. Ở nước ta (một nước theo thủ tục tố tụng xét hỏi) cần làm gì để nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa.

2.1. Sự khác nhau cơ bản trong thủ tục tranh tụng và thủ tục xét hỏi

2.1.1. Những nguyên tắc chung

Đối với thủ tục tranh tụng:

Thủ tục tranh tụng được hiểu là bên cơ quan công tố và bên luật sư của bị cáo phải có trách nhiệm cung cấp cho thẩm phán các bằng chứng để bảo vệ cho quan điểm của họ. Thẩm phán giữ vai trò là người trung lập và là vị chủ tọa vô tư, người có chức năng hòa giải,  giải quyết các xung đột chắc chắn sẽ xảy ra giữa các bên đối lập nhau. Thẩm phán quyết định việc áp dụng luật để tìm ra sự thật của vụ án. Thủ tục tranh tụng là trường phái tố tụng ở các nước thuộc hệ thống thông luật.

Hệ thống thông luật coi án lệ là một nguồn luật tạo ra những tiền lệ cho việc giải quyết các vụ việc tương tự trong tương lai để góp phần phát triển luật và bảo đảm tính kiên định và thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Thủ tục xét hỏi:

Trong thủ tục điều tra xét hỏi thẩm phán có trách nhiệm không chỉ xác định những sự kiện có liên quan mà còn nhận xét và đưa ra quyết định về những sự kiện ấy. Thủ tục điều tra xét hỏi coi trọng việc xác định sự thật khách quan của vụ việc thông qua trình tự điều tra trước khi vụ án chuyển sang tòa án và coi thủ tục này rất quan trọng. Điều này trái ngược với thủ tục tranh tụng truyền thống mà ở đó luôn xảy ra sự tranh luận hay bàn cãi về các tình tiết vụ án. Thủ tục xét hỏi được xây dựng như một hình thức thẩm tra chính thức, mục đích trước tiên của thủ tục này là nhằm đảm bảo cho những cá nhân vô tội không bị đưa ra trước phiên tòa. Thủ tục xét hỏi là trường phái tố tụng ở các nước thuộc hệ thống luật dân sự.

Hệ thống luật dân sự coi luật thành văn là nguồn pháp luật quan trọng nếu không nói là duy nhất. Vì hệ thống luật dân sự bao gồm các văn bản luật sẵn có. Tòa án không giải thích luật và áp dụng pháp luật khi phán quyết từng vụ án cụ thể và phán quyết đó không được coi là tiền lệ cho vụ án khác. Mỗi một quyết định phải mang tính độc lập dựa trên cơ sở áp dụng một cách logic các quy tắc của bộ luật cho một chuỗi các sự kiện thực tế, điều này có nghĩa là các vụ án giống nhau không nhất thiết phải đưa đến những kết quả giải quyết giống nhau, tuy nhiên mỗi phán quyết phải chứng tỏ được tính đúng đắn và hợp lý của nó.

2.1.2. Phiên tòa

Theo mô hình tranh tụng:

Trong phiên tòa áp dụng mô hình tranh tụng, mỗi bên được phép đưa ra nhân chứng riêng của mình và quyền được thẩm vấn nhân chứng mà bên kia đưa ra trước tòa. Thẩm phán là người quan sát việc trình bày của các bên, đảm bảo cho phiên tòa được diễn ra trong sự công bằng, tôn trọng các bằng chứng được đưa ra cũng như các quy tắc về tố tụng.

   Theo mô hình thủ tục xét hỏi:

   Thẩm phán là người đề xuất triệu tập và thẩm vấn nhân chứng trước phiên tòa và trong phiên tòa. Công tố viên và luật sư bào chữa cho bị cáo sẽ trợ giúp cho thẩm phán trong việc gắn kết các sự kiện, đưa ra những câu hỏi bổ sung, đưa ra những kiến nghị về việc bổ sung chứng cứ.

   2.2. Nước Pháp kết hợp tố tụng tranh tụng với tố tụng xét hỏi như thế nào?

   Nước Pháp hiện vẫn áp dụng tố tụng xét hỏi nhưng đã đưa vào đó một số nội dung của tố tụng tranh tụng. Một đạo luật ra ngày 15-6-2000 mang tên “Luật về suy đoán vô tội và tăng quyền của nạn nhân” đã cho phép các bên có nhiều quyền hơn trong quá trình tố tụng. Khi đạo luật này được thông qua và công bố, một số ý kiến đã đánh giá đây là đạo luật “bán tranh tụng”. Vậy, nước Pháp đã đưa vào hệ thống tố tụng xét hỏi những nội dung gì của tố tụng tranh tụng?

   Kể từ nay, luật sư có quyền tham gia ngay từ giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, tức là ngay khi bắt tạm giam bị can. Bị can khi bị bắt tạm giam có quyền giữ im lặng.

Trong giai đoạn điều tra, các bên có quyền yêu cầu thẩm phán điều tra thực hiện một số các hoạt động điều tra mà họ thấy cần thiết. Thẩm phán điều tra không còn quyền cho tạm giam bị can, tức là không còn chức năng tài phán này như trước bởi vì đây là một điểm bị chỉ trích nhiều. Một loại thẩm phán mới đã được lập nên để đảm nhận chức năng tài phán này, đó là thẩm phán phụ trách việc tạm giam và thả tự do bị can.

Nội dung thứ ba là trong khi diễn ra phiên xét xử, Viện công tố hoặc các luật sư có quyền trực tiếp đặt câu hỏi cho các bên đương sự mà không cần xin phép chủ tọa.

Thứ tư, các bên có quyền đề nghị một số lượng nhân chứng không hạn chế.

Cuối cùng, trật tự phát biểu tại phiên tòa đã được thay đổi. Hiện nay, Viện công tố được quyền phát biểu trước luật sư bào chữa và sau luật sư của bên nguyên.

Tất cả các nội dung trên đã cho phép tăng cường vai trò của các bên. Song song đó, nguyên tắc tranh tụng cũng được đảm bảo tốt hơn. Việc đưa một số nội dung của tố tụng tranh tụng vào tố tụng xét hỏi đã cho phép vượt lên trên những khác biệt của chúng và kết hợp chúng lại với nhau.


PHỤ LỤC

CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỆ THỐNG TOÀ ÁN

MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Phụ lục này trình bày một cách khái quát về các mô hình toà án của 07 nước: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, Bungaria, Hungary Indonesia.

I. CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỆ THỐNG TÒA ÁN HÀN QUỐC

Hệ thống Toà án Hàn Quốc gồm có: Tòa án tối cao, Tòa thượng thẩm, Tòa án bằng phát minh sáng chế, Tòa án gia đình, Tòa án hành chính và Tòa án quận. Bên cạnh đó còn có Toà án Hiến pháp được thành lập theo Hiến pháp Hàn Quốc, tồn tại như một chế định độc lập.

Trong cơ cấu tổ chức của hệ thống Toà án Hàn Quốc có Bộ quản lý toà án quốc gia, thuộc Toà án tối cao. Bộ có nhiệm vụ quản lý các công việc hành chính và tổ chức của cả hệ thống Tòa án. Chánh án Toà án tối cao có quyền bổ nhiệm bộ trưởng và thứ trưởng Bộ quản lý Tòa án quốc gia. Bộ trưởng không cần thiết phải là Thẩm phán nhưng Thứ trưởng bắt buộc phải là Thẩm phán Toà án tối cao.

1. Toà án tối cao

Toà án tối cao là toà án cấp cao nhất, có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án hoặc phán quyết của Tòa thượng thẩm, Tòa án bằng phát minh sáng chế, và phán quyết của Hội đồng phúc thẩm của Tòa án quận hoặc Tòa án gia đình liên quan đến các vụ án dân sự, hình sự, hành chính, bằng sáng chế và gia đình.

 Tòa án tối cao Hàn Quốc cũng có thẩm quyền xem xét lại phán quyết của Tòa án an toàn hàng hải Hàn Quốc. Bên cạnh đó, Tòa tối cao có thẩm quyền phán xét duy nhất đối với tính hợp lệ của cuộc bầu cử tổng thống hoặc quốc hội. Ngoài ra, Tòa án tối cao có quyền xem xét cuối cùng về tính hợp hiến hoặc hợp pháp của các lệnh, quy định, quy tắc và hành vi do các cơ quan hành chính thực hiện.

2. Tòa Thượng thẩm

Toà thượng thẩm có Chánh án và các Thẩm phán. Tòa thượng thẩm có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án hoặc phán quyết do một hội đồng gồm ba thẩm phán của Tòa án quận, Tòa án gia đình hoặc của Tòa án hành chính. Tòa thượng thẩm cũng xét xử phúc thẩm đối với các bản án số tiền tranh chấp vượt quá 80 triệu đồng won (xấp xỉ 80.000 USD) của Tòa án quận hoặc Tòa án chi nhánh. Thẩm quyền của Tòa thượng thẩm được thực thi bởi một hội đồng ba thẩm phán. Trong mỗi tòa thượng thẩm có một văn phòng hành chính để quản lý nội bộ và giám sát các viên chức tòa án.

3. Toà án quận

Tòa án quận tại Hàn Quốc có một Chánh án và một số Thẩm phán. Có tất cả 18 Tòa án quận trong cả nước. Tại mỗi tòa án quận có một văn phòng hành chính xử lý các vụ hành chính. Tòa chi nhánh, chi nhánh Tòa án gia đình, Tòa án đô thị có thể được thành lập dưới Tòa án quận. Tòa án quận hoặc Tòa chi nhánh giữ quyền xét xử sơ thẩm đối với các vụ dân sự và hình sự. Thông thường, một thẩm phán duy nhất sẽ chủ trì phiên tòa. Tuy nhiên, trong các vụ án quan trọng thì hội đồng xét xử sẽ gồm ba thẩm phán. Cụ thể là các vụ sau:

+ Các vụ án dân sự liên quan đến số tiền tranh chấp trên 100 triệu đồng won (xấp xỉ 90.000 USD). Tuy nhiên, liên quan đến các vụ án đòi thanh toán chi phiếu, hóa đơn hay yêu cầu thanh toán các khoản nợ thì những vụ án này cũng chỉ do một thẩm phán duy nhất chủ trì, bất kể giá trị số tiền tranh chấp là bao nhiêu.

+ Các vụ án hình sự - các vụ án mà khung hình phạt là tử hình, tù chung thân, hoặc tù giam tối thiểu một năm. Ngoại lệ cho các trường hợp trên là các vụ làm giả chi phiếu, bạo hành, trộm cắp thường xuyên, v.v. sẽ do một thẩm phán xét xử, cho dù các vụ đó có khung hình phạt thuộc loại nêu trên.

4. Toà án bằng phát minh sáng chế

Toà án bằng phát minh sáng chế mới được thành lập từ ngày 1 tháng 3 năm 1998 và có thẩm quyền ngang với Tòa thượng thẩm. Tòa án này hoạt động theo hệ thống xét xử hai cấp. Tòa án bằng phát minh sáng chế có những giám định viên kỹ thuật hỗ trợ thẩm phán trong những vụ việc đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao trong các vụ án về bằng phát minh sáng chế, kiểu dáng hữu ích, thiết kế hoặc nhãn hiệu hàng hóa có bất hợp pháp và có phải thu hồi hay không.  Nếu đương sự không thỏa mãn với bản án của Tòa án bằng phát minh sáng chế có thể kháng cáo lên Tòa án tối cao.

5. Tòa án gia đình

   Tòa án gia đình có thẩm quyền xét xử đối với các vụ bạo hành trong gia đình. Từ năm 1988 với đạo luật đặc biệt liên quan đến hình phạt các tội phạm bạo hành gia đình vừa mới có hiệu lực. Toà án gia đình có thẩm quyền giải quyết các vụ việc sau:

+ Các vụ án thiếu niên phạm pháp (thiếu niên từ 12 đến 19 tuổi);

+ Các vụ án bạo hành trong gia đình ;

6. Tòa án hành chính

Tòa án hành chính giải quyết các vụ án về thuế, tài sản trưng mua và các vụ án hành chính khác. Bên thua kiện trong vụ án hành chính có thể kháng cáo bản án của tòa lên Tòa thượng thẩm và sau đó kháng cáo lên Tòa án tối cao.

7. Tòa án hiến pháp

Tòa án hiến pháp có thẩm quyền đối với các vấn đề thuộc hiến pháp như tính hợp hiến của đạo luật, việc buộc tội, giải tán một đảng chính trị, đơn khởi kiện có nội dung liên quan đến hiến pháp nộp trực tiếp cho Tòa án hiến pháp và các xung đột tư pháp liên quan đến các cơ quan Nhà nước và/hoặc chính quyền địa phương.

II. CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỆ THỐNG TÒA ÁN NHẬT BẢN

Hệ thống Toà án ở Nhật Bản gồm có: Tòa án tối cao, Toà thượng thẩm, Tòa án quận, Tòa án gia đình và Tòa án giản lược.

1. Toà án tối cao

Tòa án tối cao là cơ quan xét xử cao nhất, có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án của tòa thượng thẩm. Tòa án tối cao gồm Chánh án và 14 thẩm phán. Tòa án tối cao thực hiện việc xét xử thông qua Đại pháp đình (Đại hội đồng xét xử) hoặc 1 trong 3 Tiểu pháp đình (Hội đồng xét xử), mỗi Tiểu pháp đình gồm 5 thẩm phán. Mỗi vụ việc sau khi thụ lý sẽ được giao cho 1 Tiểu pháp đình. Chỉ trong trường hợp Tiểu pháp đình thấy cần thiết phải xử lý nội dung liên quan đến giải thích Hiến pháp hoặc sửa đổi án lệ trước đó của Tòa án tối cao thì vụ việc mới được đưa ra xét xử qua cơ chế Đại pháp đình. Hầu hết các vụ án đều được xét xử ở cấp Tiểu pháp đình.

2. Toà thượng thẩm

Tòa thượng thẩm là các tòa phúc thẩm cấp trung, chủ yếu có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án của các Tòa án quận hoặc Toà án gia đình. Tuy nhiên, các vụ hình sự do Toà án giản lược xử sơ thẩm sẽ được phúc thẩm thẳng lên Tòa thượng thẩm. Tòa thượng thẩm cũng có thẩm quyết tài phán ban đầu đối với một số vụ việc hành chính liên quan đến bầu cử, bạo loạn v.v... Tuy nhiên, chỉ riêng Tòa thượng thẩm Tokyo có thẩm quyền duy nhất xét xử sơ thẩm đối với các vụ việc yêu cầu hủy bỏ quyết định của các cơ quan tài phán hành chính chẳng hạn như Ủy ban Thương mại công bằng. Nhật Bản có 8 Tòa thượng thẩm tại 8 thành phố lớn và 6 phân tòa của các tòa này ở các nơi khác. Tháng 4/2005, Tòa thượng thẩm Sở hữu trí tuệ được thành lập lần đầu tiên với tư cách là một phân tòa của Tòa thượng thẩm Tokyo, có thẩm quyền xét xử các vụ việc liên quan đến sở hữu trí tuệ.

3. Toà án quận   

Tòa án quận là các tòa án thẩm quyền chung, xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ án dân sự, hình sự và hành chính. Đối với các vụ án dân sự, tòa án quận cũng có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án sơ thẩm của tòa án giản lược. Tòa án quận được đặt tại 50 địa điểm với 203 chi nhánh trên toàn quốc Nhật Bản. Tại tòa án quận, phần lớn các vụ án đều do một thẩm phán xét xử. Khi xét thấy một vụ án cần phải xét xử bằng một hội đồng gồm ba thẩm phán thì vụ án đó sẽ được xét xử bởi hội đồng thẩm phán. Ngoài ra, theo quy định tại Luật Tổ chức tòa án thì một số vụ hình sự cụ thể và khi xét xử phúc thẩm bản án của tòa giản lược thì đương nhiên hội đồng gồm ba thẩm phán sẽ tiến hành xét xử.

4. Toà án gia đình

Tòa án gia đình là tòa án chuyên trách, xét xử sơ thẩm các vụ về gia đình và vị thành niên phạm tội. Tòa án gia đình và các chi nhánh được đặt tại cùng địa điểm với tòa án quận và các chi nhánh của tòa án quận. Ngoài ra, Nhật Bản còn có 77 văn phòng địa phương của tòa án gia đình, nơi vụ việc sẽ được một thẩm phán duy nhất xét xử.

5. Toà án giản lược

   Tòa án giản lược là tòa án có thẩm quyền hạn chế, xét xử sơ thẩm các vụ dân sự có giá trị tài sản tranh chấp không vượt quá 1.400.000 yên và các vụ hình sự nhỏ theo quy định của pháp luật. Có 438 tòa án giản lược trên toàn nước Nhật. Tại tòa án giản lược, tất cả các vụ việc đều do một thẩm phán xét xử.

   III. HỆ THỐNG TÒA ÁN TRUNG QUỐC

Hệ thống tòa án ở Trung Quốc được chia thành 4 cấp tương ứng với các cấp chính quyền của Trung Quốc: Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân cấp cao, các Tòa án nhân dân cấp trung, các Tòa án nhân dân cấp cơ sở và một số tòa chuyên trách.

1. Toà án nhân dân tối cao

Tòa án nhân dân tối cao là tòa án cấp cao nhất chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc Hội.

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao:

- Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các kháng cáo từ các vụ án hình sự và dân sự của Tòa án nhân dân cấp cao và các tòa chuyên trách, các vụ án có khung hình phạt tử hình.

- Trong một số trường hợp theo luật định, Tòa án nhân dân tối cao cũng có thẩm quyền xét xử theo trình tự sơ thẩm như các vụ án hình sự quan trọng có ảnh hưởng tới cả nước.

- Tòa án nhân dân tối cao giám sát các vụ án do Tòa án nhân dân các cấp và các tòa chuyên trách xét xử. Các tòa án cấp cao xét xử kháng cáo từ các tòa án cấp dưới.

- Tòa án nhân dân tối cao có thể mở phiên tòa xét xử lại các vụ án ngay tại cấp mình hoặc yêu cầu xét xử lại bản án của Tòa án nhân dân cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật.

- Phê chuẩn bản cáo trạng trong những trường hợp không được quy định cụ thể trong Luật hình sự.

- Giải thích việc áp dụng luật.

2. Toà án nhân dân cấp cao

Các tòa án nhân dân cấp cao được thành lập tại cấp tỉnh, khu vực tự trị hoặc thành phố trực thuộc Trung ương (Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải và Trùng Khánh), Tòa án nhân dân cấp cao vừa có thẩm quyền xét xử theo trình tự phúc thẩm các kháng cáo và kháng nghị đối với các bản án và quyết định của tòa án nhân dân cấp dưới và các vụ án có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân. Tòa án cấp cao cũng xét xử phúc thẩm các bản án của tòa án hàng hải tại địa phương có tòa án hàng hải.  Điều 21 Luật Tố tụng hình sự Trung Quốc quy định Tòa án cấp cao có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với các vụ án hình sự liên quan đến toàn tỉnh, khu vực tự trị hoặc thành phố trực thuộc trung ương.

3. Tòa án nhân dân cấp trung

Các tòa án nhân dân cấp trung được thành lập tại các quận thuộc tỉnh hoặc khu tự trị, các thành phố trực thuộc trung ương và tại các thành phố thuộc tỉnh, khu tự trị hoặc tại các quận tự trị.

Tòa án nhân dân cấp trung có thẩm quyền xét xử theo trình tự sơ thẩm. Các tòa án này cũng có thẩm quyền xét xử đối với một số vụ án nhất định về sở hữu trí tuệ, về thuế xuất, nhập khẩu, các vụ án hành chính.

Điều 20 Luật Tố tụng hình sự quy định tòa án nhân cấp trung có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia, các vụ án hình sự thông thường mà hình phạt được áp dụng có thể lên đến tù chung thân hoặc tử hình và các vụ án hình sự có người phạm tội là người nước ngoài.

4. Toà án cấp cơ sở

Tòa án nhân dân cấp cơ sở được thành lập tại các thị xã hoặc thành phố, thị xã tự trị và quận thuộc thành phố. Tòa án nhân dân cấp cơ sở có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các tranh chấp dân sự và các tội tiểu hình không đòi hỏi phải mở phiên tòa xét xử chính thức. Tòa án nhân dân cấp cơ sở cũng hướng dẫn về nghiệp vụ các ủy ban trọng tài và hòa giải địa phương. Tòa án nhân dân cấp cơ sở cũng có thể thành lập hội đồng xét xử nhân dân. Hội đồng này không phải là tòa án nhưng có thể phân xử các vấn đề dân sự, hướng dẫn hoạt động của các ủy ban hòa giải và xử lý đơn thư.

5. Các tòa chuyên trách

Các tòa chuyên trách bao gồm các Tòa án quân sự, Tòa án đường sắt và Tòa án hàng hải. Các tòa án này được thành lập theo các luật riêng biệt.

Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử đối với các vụ việc hình sự liên quan đến quân sự. Tòa án quân sự được thành lập trong quân đội, trong các khu quân sự cấp tỉnh, lực lượng hải quân và không quân, xét xử chủ yếu các hành vi phạm tội do quân nhân thực hiện.

Tòa án hàng hải xét xử theo trình tự sơ thẩm các vụ án liên quan đến hàng hải hoặc hàng hóa vận chuyển đường biển, bao gồm các khiếu nại về trách nhiệm và bồi thường thiệt hại hàng hải, ô nhiễm đường biển, vụ kiện thương mại, vụ kiện liên quan hoạt động của cảng biển, gian lận hàng hải, xây dựng và khai thác trên biển và các vụ kiện liên quan đến tàu biển cũng như các khiếu nại khác.

Tòa án đường sắt (cấp cơ sở và cấp trung) xét xử các vụ án hình sự do cơ quan công an đường sắt điều tra và kiểm sát viên đường sắt truy tố cũng như các vụ kiện kinh tế và thương mại liên quan đến hàng hóa, hợp đồng hợp tác, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và các tranh chấp kinh tế khác.

IV. CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỆ THỐNG TÒA ÁN NGA

Nga là một nhà nước liên bang bao gồm 83 chủ thể liên bang. Các chủ thể này có quyền bình đẳng liên bang với ý nghĩa bình đẳng về đại diện (hai đại biểu của mỗi chủ thể) trong Hội đồng Liên bang (Thượng viện của Nga). Tuy nhiên, các chủ thể này khác nhau nhiều về mức độ tự trị. Các khu tự trị vừa là một chủ thể liên bang với các quyền của mình, đồng thời vừa được coi là đơn vị hành chính của chủ thể liên bang khác.

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 quy định Hệ thống tòa án Nga gồm có: Tòa án hiến pháp liên bang Nga; các tòa án thẩm quyền chung liên bang đứng đầu là Tòa án tối cao liên bang Nga; và các tòa án thương mại liên bang đứng đầu là Tòa án thương mại tối cao Liên bang Nga.

1. Tòa án hiến pháp Liên bang Nga

   Tòa án hiến pháp có 19 thẩm phán do Thượng viện của Quốc hội liên bang Nga (Hội đồng liên bang) bổ nhiệm theo đề nghị của Tổng thống liên bang Nga. Chánh án, Phó Chánh án, thẩm phán - thư ký Tòa án hiến pháp được các thẩm phán Tòa án hiến pháp bầu ra trong số 19 thẩm phán nói trên tại một cuộc họp kín toàn thể được triệu tập chậm nhất là hai tháng kể từ ngày có chức vụ tương ứng bị khuyết. Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền sau:

- Thứ nhất là bảo đảm các văn bản pháp luật sau đây phù hợp với Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993: (a) các luật liên bang, các văn bản quy phạm của Tổng thống liên bang Nga, của Hội đồng liên bang, Duma quốc gia và của Chính phủ liên bang Nga; (b) hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành liên quan đến các vấn đề thuộc thẩm quyền của các cơ quan quyền lực nhà nước cũng như thuộc thẩm quyền chung của liên bang Nga và các cơ quan quyền lực nhà nước của các chủ thể thuộc Liên bang Nga ; (c) các điều ước giữa các cơ quan quyền lực nhà nước của Liên bang Nga và các cơ quan quyền lực nhà nước của các chủ thể thuộc Liên bang Nga, và điều ước giữa các cơ quan quyền lực nhà nước của các chủ thể thuộc Liên bang Nga; và (d) các điều ước quốc tế của Liên bang Nga chưa có hiệu lực pháp luật;

- Thứ hai là các tranh chấp về thẩm quyền giữa: (a) các cơ quan quyền lực nhà nước liên bang; (b) các cơ quan quyền lực nhà nước của Liên bang Nga và các cơ quan quyền lực nhà nước của các chủ thể thuộc Liên bang Nga; (c) các cơ quan nhà nước cao nhất của các chủ thể thuộc Liên bang Nga;

- Thứ ba là các khiếu nại về việc xâm phạm các quyền và tự do hiến định của công dân và kiến nghị của các tòa án yêu cầu thẩm tra tính hợp hiến của đạo luật đang được áp dụng hoặc cần được áp dụng trong một vụ án cụ thể; giải thích Hiến pháp; trong trường hợp có yêu cầu khởi tố Tổng thống Liên bang Nga thì cho ý kiến về việc thủ tục đệ đơn kiến nghị khởi tố Tổng thống đã được tuân thủ đầy đủ chưa; và thực thi các quyền hạn khác mà Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993, Hiệp định Liên bang Nga, các luật hiến pháp liên bang và các điều ước phân định ranh giới quyền hạn giữa các chủ thể thuộc Liên bang Nga trao cho Tòa án hiến pháp.

2. Các Tòa án thẩm quyền chung

Đứng đầu các tòa án thẩm quyền chung là Tòa án tối cao Liên bang Nga - cơ quan xét xử cao nhất đối với các vụ án về dân sự, hình sự, hành chính và các vụ án khác theo quy định của pháp luật. Đây là cấp xét xử trên trực tiếp của tòa án tối cao của các nước cộng hòa thuộc bang, tòa án vùng lãnh thổ hoặc khu vực, tòa án của các thành phố trực thuộc bang (Matxcơva và St. Petersburg), tòa án khu tự trị và các khu vực quốc gia tự trị và các tòa án quân sự được chỉ định. Cấp thấp nhất của hệ thống này là tòa án cấp quận huyện - là  cấp tòa án xét xử sơ thẩm. Tòa án tối cao  bang Nga có 111 thẩm phán do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Liên bang Nga. Tổng thống đưa ra đề nghị bổ nhiệm dựa trên khuyến nghị của Chánh án Tòa án tối cao và ý kiến của Hội đồng chuyên môn.

Các tòa án thẩm quyền chung dưới Tòa án tối cao Liên bang Nga được bố trí tương ứng với cơ cấu hành chính lãnh thổ của Liên bang Nga. Tất cả các tòa án này có quyền hạn ngang nhau và để cho tiện được gọi chung là “các tòa án vùng lãnh thổ (hoặc khu vực) và các tòa án ngang cấp”. Tất cả các tòa án này đều có thẩm quyền xét xử sơ thẩm và có thẩm quyền phúc thẩm đối với các tòa án cấp dưới mình. Vì vậy, ở cấp phúc thẩm, các tòa án này thực thi quyền hạn xét xử thông qua trình tự phá án và giám đốc thẩm. Hợp lại, các tòa án này tạo thành cấp trung gian giữa Tòa án tối cao và các tòa án chính của Liên bang Nga, đó là tòa án cấp quận, huyện. Mỗi tòa án thẩm quyền chung đều có đoàn chủ tịch và được chia thành các tòa chuyên trách về dân sự và hình sự. Mỗi tòa chuyên trách do một phó chánh án đứng đầu.

Cơ cấu của Tòa án tối cao gồm có Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao, Đoàn chủ tịch Tòa án tối cao, Tòa phá án, Tòa dân sự, Tòa hình sự, Tòa quân sự và nhiều bộ phận trực thuộc khác tất cả hợp thành Cơ quan Tòa án tối cao.

Tòa án tối cao có bốn tòa trực thuộc: Tòa dân sự, Tòa hình sự, Tòa quân sự - cả ba tòa này đều được biết đến như các tòa chuyên trách, và Tòa phá án. Ba tòa chuyên trách gồm có các thẩm phán Tòa án tối cao được Hội đồng thẩm phán phê chuẩn việc bố trí nhiệm vụ tại các tòa. Mỗi tòa chuyên trách có thẩm quyền xét xử theo thủ tục sơ thẩm, và xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm khi vụ án có tình tiết mới.

Tòa phá án gồm có 13 thẩm phán được Hội đồng liên bang phê chuẩn việc bổ nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Nga dựa trên khuyến nghị của Chánh án Tòa án tối cao và ý kiến ủng hộ của Ban thẩm tra cấp cao tư cách thẩm phán Liên bang Nga. Tòa phá án được có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các quyết định về dân sự và hình sự của các tòa chuyên trách khi có kháng cáo, kháng nghị.

Các chánh tòa chuyên trách và tòa phá án báo cáo trước Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao về hoạt động của tòa mình, tổ chức việc bồi dưỡng nâng cao trình độ cho các thẩm phán thuộc tòa mình và thực hiện giám sát đối việc xem xét, giải quyết các kháng cáo, kiến nghị và kháng nghị.

3. Các Tòa án thương mại         

Theo Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 (Điều 127), các Tòa án thương mại là một nhánh của hệ thống tư pháp Liên bang, Hệ thống các Tòa án thương mại bao gồm Tòa án thương mại tối cao Liên bang Nga, các Tòa án thương mại Liên bang của các địa hạt tư pháp và các Tòa án thương mại của các chủ thể thuộc Liên bang Nga...

Tòa án thương mại tối cao có Hội đồng thẩm phán, Đoàn chủ tịch và hai tòa chuyên trách. Một tòa chuyên trách giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự và các quan hệ pháp luật khác, Toà chuyên trách còn lại giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật hành chính.

Hội đồng thẩm phán bao gồm Chánh án, các Phó chánh án và toàn bộ thẩm phán của Tòa án thương mại tối cao. Hội đồng thẩm phán chịu trách nhiệm chủ yếu về vấn đề tổ chức, sáng kiến lập pháp, nêu kiến nghị trước Tòa án hiến pháp, lựa chọn thành viên của các tòa chuyên trách, phê chuẩn Quy chế tòa án thương mại, trụ sở của các tòa án thương mại liên bang và các vấn đề tương tự.

Đoàn chủ tịch Tòa án thương mại tối cao gồm có Chánh án, các Phó chánh án, các chánh tòa chuyên trách và các thẩm phán do Hội đồng thẩm phán bầu. Đoàn chủ tịch xem xét các vụ việc thông qua việc thực hiện quyền giám sát khi có kháng nghị đối với các quyết định tố tụng của các tòa án thương mại đã có hiệu lực pháp luật. Các tòa chuyên trách xét xử các vụ việc theo trình tự sơ thẩm, nghiên cứu và tổng hợp thực tiễn xét xử, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và phân tích số liệu thống kê tư pháp và các chức năng khác. Trong mỗi tòa có các ban thẩm phán để xét xử các vụ việc.

Hội đồng Chánh án tòa án thương mại bao gồm Chánh án của tất cả các tòa án thương mại ở Liên bang Nga đóng vai trò là cơ quan tư vấn chuyên tư vấn về các vấn đề tổ chức, nhân sự và tài chính.

Mười tòa án thương mại liên bang của các địa hạt tư pháp không có hội đồng thẩm phán nhưng có đoàn chủ tịch và các tòa chuyên trách như ở Tòa án thương mại tối cao. Các tòa án này chỉ hoạt động với tư cách cấp giám đốc thẩm. Các tòa án thương mại còn lại được tổ chức về mặt nội bộ theo mô hình tương tự như tòa án thương mại liên bang

4 . Các tòa án quân sự

Tòa án quân sự hoạt động trên cơ sở Luật hiến pháp Liên bang về tòa án quân sự ngày 23 tháng 6 năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung). Toà án quân sự có thẩm quyền giải quyết chuyên biệt đối với các vụ việc liên quan đến quân nhân.

V. HỆ THỐNG TÒA ÁN BUNGARIA

Hệ thống tòa án gồm có Tòa phá án tối cao, Tòa hành chính tối cao, các Tòa phúc thẩm, Tòa án cấp quận huyện, Tòa án quân sự và Tòa án khu vực. Các tòa đặc biệt có thể được thành lập theo quy định của các sắc lệnh đặc biệt. Tuy nhiên, những tòa án đặc biệt này không thuộc cơ cu tổ chức của hệ thống tòa án.

1. Tòa phá án tối cao

Tòa phá án tối cao có thẩm quyền tối cao trong hoạt động giám sát tư pháp đ đảm bảo việc tòa án áp dụng pháp luật chính xác và thống nhất. Tòa phá án tối cao là Tòa án có thẩm quyền cao nhất đối với các vụ việc hình sự, dân sự và thương mại. Trong Tòa phá án tối cao có các hội đồng dân sự, hình sự và thương mại do các Phó Chánh án đứng đầu.

Hội đồng xét xử của Tòa phá án tối cao bao gồm ba thẩm phán, trừ các trường hợp có quy định khác của pháp luật.

Ngoài Chánh án và các Thẩm phán Tòa phá án tối cao, Viện trưởng Viện Công hoặc các Viện phó, Chánh án và các Thẩm phán Tòa phúc thẩm, Chủ tịch hoặc các thành viên của Liên đoàn luật sư và Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng tham gia vào các phiên họp của Hội đồng toàn thể Tòa phá án tối cao.

2. Tòa hành chính tối cao

Tòa hành chính tối cao được thành lập vào ngày 1 tháng 12 năm 1996. Bungariacó tất cả 29 Tòa hành chính trên toàn lãnh thổ Tòa hành chính tối cao thực hiện quyền giám sát tư pháp tối cao đối với việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hành chính. Tòa án hành chính tối cao có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của các quyết định và đạo luật do Hội đồng Bộ trưởng, các Bộ trưởng ban hành cũng như các đạo luật khác theo quy định của pháp luật.

3. Tòa Hiến pháp

Tòa Hiến pháp không thuộc tổ chức của hệ thống tòa án, có thẩm quyền giải thích các quy định của Hiến pháp. Một chức năng khác của Tòa Hiến pháp là kiểm soát và đảm bảo tính hợp hiến của các văn bản pháp luật và các đạo luật do Quốc hội và Tổng thống thông qua cũng như việc tuân thủ các luật này với các điều ước quốc tế mà Chính phủ đã ký kết. Tòa án Hiến pháp gồm có 12 thành viên, những thành viên này 1/3 là do Quốc Hội bầu, 1/3 là Tổng thống bổ nhiệm và 1/3 là do Hội đồng thẩm phán Toà phá án tối cao và Toà hành chính tối cao bầu. Những Thẩm phán này làm việc với nhiệm kỳ 9 năm.

VI. HỆ THỐNG TÒA ÁN HUNGARY

Hệ thống Tòa án của Hungary bao gồm bốn cấp. Theo quy định của Hiến pháp, Hệ thống Tòa án nước Cộng hòa Hungary gồm có Tòa án tối cao (Toà công lý), Tòa phúc thẩm khu vực, Tòa án Thủ đô Budapest và Tòa án cấp hạt, cuối cùng là cấp Tòa án địa phương và Tòa lao động.

1. Toà Công lý

Tòa án Công lý là tòa án có thẩm quyền cao nhất tại Hungary, có các chức năng chính dưới đây:

- Xem xét lại các bản án đã có hiệu lực, xem xét các đơn kháng nghị bản án đã có hiệu lực theo cơ chế đặc biệt. Hội đồng xét xử của Tòa án Công lý khi xem xét lại các bản án đã có hiệu lực bao gồm 3 Thẩm phán; đối với các vụ án phức tạp, hội đồng có thể bao gồm 5 Thẩm phán.

- Xét xử phúc thẩm các bản án bị kháng cáo của Tòa án hạt và Tòa phúc thẩm khu vực trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật. Trong các vụ hình sự, Tòa án Công lý xét xử các quyết định phúc thẩm của Tòa phúc thẩm khu vực.

- Đảm bảo việc áp dụng pháp luật một cách thống nhất, phù hợp với hiến pháp và hướng dẫn chuyên môn cho tòa án cấp dưới.

2. Tòa án cấp hạt và Tòa án thủ đô Budapest (dưới đây gọi chung là Tòa án cấp hạt)

Theo tổ chức hành chính của Hungary, có tất cả 20 Tòa án cấp hạt (19 Tòa án cấp hạt và Tòa án thủ đô Budapest) có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án quan trọng. Tòa án cấp hạt còn có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các phán quyết của Tòa án địa phương.

Hội đồng xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp hạt có thể là hội đồng một Thẩm phán, hội đồng một Thẩm phán và hai trợ lý Thẩm phán, hội đồng hai Thẩm phán và ba trợ lý Thẩm phán hoặc hội đồng ba Thẩm phán phụ thuộc vào nội dung và tính chất phức tạp của vụ án.  Khi xét xử phúc thẩm các phán quyết của Tòa án địa phương, hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán.

3. Toà phúc thẩm khu vực

Hungary có 5 Tòa phúc thẩm khu vực được đặt tại Budapest, Debrecen, Gyor, Pécs và Szeged. Tòa phúc thẩm khu vực có thẩm quyền xét xử phúc thẩm án của Tòa án địa phương và Tòa án cấp hạt. Hội đồng xét xử phúc thẩm của Tòa phúc thẩm khu vực gồm 3 Thẩm phán, sẽ xem xét lại các tình tiết vụ án và đưa ra phán quyết mới.

4. Tòa án cấp địa phương và Tòa lao động

Hungary có tất cả 111 Tòa án địa phương (cấp quận, huyện), trong đó 105 Tòa đặt tại các các tỉnh lớn và 6 Tòa đặt tại thủ đô Budapest. Tòa án địa phương có thẩm quyền xét xử sơ thẩm án dân sự, thương mại và hình sự. Hội đồng xét xử của Tòa án địa phương chỉ gồm một Thẩm phán, trừ những trường hợp đặc biệt, hội đồng xét xử gồm một Thẩm phán và hai trợ lý. Trợ lý Thẩm phán có quyền và nghĩa vụ giống như Thẩm phán khi xét xử nhưng chỉ có Thẩm phán mới có đủ tư cách xét xử trong hội đồng xét xử một Thẩm phán hoặc làm chủ tọa hội đồng xét xử.

Các tranh chấp về lao động do Tòa án lao động giải quyết. Tòa án lao động có thẩm quyền tương đương Tòa án địa phương, giải quyết sơ thẩm các tranh chấp liên quan đến quan hệ lao động và các quan hệ pháp lý có bản chất là quan hệ lao động. Tòa án lao động được đặt tại thủ đô và các hạt. Có tất cả 20 Tòa án lao động trên toàn lãnh thổ Hungary.

VII. HỆ THỐNG TÒA ÁN INDONESIA

   Bộ máy tư pháp Indonesia gồm: tòa án tối cao, các tòa án thẩm quyền chung, các tòa án quân sự, các tòa án tôn giáo và các tòa án hành chính.

   Tại hầu hết các tòa án này, có hai cấp kháng cáo. Cấp thứ nhất là kháng cáo lên tòa thượng thẩm. Cấp kháng cáo thứ hai, còn gọi là phá án, là kháng cáo lên Tòa án Tối cao. Tuy nhiên, như trình bày dưới đây, quyết định của một số tòa thuộc tòa án thẩm quyền chung được kháng cáo trực tiếp lên Tòa án Tối cao.

Tòa án Hiến pháp nằm ngoài hệ thống tổ chức này. Đây vừa là tòa án sơ thẩm vừa là tòa án chung thẩm trong các vấn đề thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa.

1. Tòa án tối cao

Toà án tối cao là toà án có thẩm quyền cao nhất của Indonesia. Tòa án Tối cao có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của các văn bản dưới luật - chẳng hạn như quy định của chính phủ, quyết định của tổng thống và sắc lệnh của bộ trưởng - để quyết định xem các văn bản đó có phù hợp với pháp luật hay không.     Tòa án cũng có quyền xem xét hiệu lực chính thức của các văn bản dưới luật, nghĩa là Tòa án có thể xem xét lại các thủ tục được áp dụng để ban hành luật. Tuy nhiên, Tòa án tối cao không thể xem xét tính hợp hiến của các đạo luật - đây là nhiệm vụ riêng của Tòa án Hiến pháp.

Tòa án tối cao cũng có thể thực thi các quyền khác được luật quy định. Chẳng hạn, Tòa án tối cao có thể đưa ra ý kiến pháp lý của mình cho Tổng thống về các yêu cầu xin ân xá và tái hòa nhập cộng đồng và giám sát các tòa án cấp thấp hơn, các tư vấn viên pháp luật và công chứng viên. Tòa án cũng có thể giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giữa các tòa án cấp dưới.

Tòa án tối cao có 51 thẩm phán, trong đó có 1 Chánh án, 1 Phó Chánh án, và 6 Thẩm phán. Tòa được chia thành 8 phòng chuyên môn.

2. Tòa án Hiến pháp

Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền giải quyết chung thẩm để quyết định xem một văn bản luật có trái với Hiến pháp hay không, hay tranh chấp thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước theo quy định của Hiến pháp, việc giải tán các đảng phái chính trị và giải quyết các tranh chấp liên quan đến kết quả bầu cử thông thường.

Tòa án hiến pháp cũng có quyền đưa ra quyết định trong trường hợp Hội đồng Lập pháp Indonesia  nghi ngờ Tổng thống hoặc Phó Tổng thống vi phạm pháp luật qua hành động phản quốc, tham nhũng hoặc nhận hối lộ, phạm tội nghiêm trọng hoặc có hành vi sai trái khác, và/hoặc không đáp ứng các yêu cầu Hiến pháp để nắm giữ chức vụ.

3. Tòa án thẩm quyền chung

Toà án Thẩm quyền chung gồm: các toà thượng thẩm cấp tỉnh và toà án quận.

Toà án quận có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với các vụ án hình sự, dân sự, thương mại cũng như đối với bất kỳ vụ việc gì không thuộc thẩm quyền xét xử của các tòa án khác.

Toà thượng thẩm cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết phúc thẩm các kháng cáo đối với các bản án của toà án quận, giải quyết những tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các tòa án quận trong lãnh thổ tài phán của tòa. Tòa án quận và tòa thượng thẩm có thể cung cấp thông tin và tư vấn về các vấn đề pháp lý cho các cơ quan chính quyền trên địa bàn của mình, nếu như được yêu cầu. Theo luật, cả hai cấp tòa này đều có thể được giao nhiệm vụ và thẩm quyền bổ sung tại từng thời điểm.

Toà án thẩm quyền chung phân chia ra thành một số phân toà chuyên môn như: tòa án chống tham nhũng, tòa án thương mại, tòa án nhân quyền, tòa án quan hệ công nghiệp và tòa án thuế vụ.

4. Tòa án Chống Tham nhũng có tên là Topikor. Đây là một phân toà của Toà án quận Jakarta, là toà án chuyên biệt có thẩm quyền duy nhất xét xử  các vụ án về tham nhũng đã được Uỷ ban chống tham nhũng  của Indonesia điều tra và khởi tố. 

5. Tòa án Thương mại  có thẩm quyền xét xử chủ yếu các vụ phá sản và sở hữu trí tuệ.

6. Tòa án Nhân quyền được thành lập theo Luật số 26 năm 2000 về Tòa án Nhân quyền. Luật quy định về việc thành lập các tòa án nhân quyền trong phạm vi tòa án quận ở các trung tâm địa phương hoặc khu vực để xét xử các vụ án bị cho là phạm tội diệt chủng hoặc những tội ác chống lại loài người, bao gồm cả những vi phạm xảy ra ngoài lãnh thổ Indonesia do công dân Indonesia thực hiện.

Thẩm quyền của Tòa án bị giới hạn nghiêm ngặt. Tòa án có thể xét xử các vụ án về tội diệt chủng” và tội ác chống loài người”.

Hội đồng xét xử của Tòa án Nhân quyền gồm năm thẩm phán trong đó chủ tọa phải là ba thẩm phán lâm thời. Đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của Toà án nhân quyền lên tòa thượng thẩm.

7. Tòa án quan hệ lao động được thành lập theo Luật số 13 năm 2003 về Sử dụng lao động và Luật số 2 năm 2004 về Giải quyết Tranh chấp trong Quan hệ Lao động. Hội đồng xét xử của tòa án này gồm có các thẩm phán thường và thẩm phán lâm thời. Toà án này có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến lao động. Tuy nhiên. Tòa án Quan hệ Lao động là một tòa án đặc biệt vì Tòa án Tối cao sẽ trực tiếp giải quyết những kháng cáo của tòa án này. Tòa án này cũng giải quyết tranh chấp lao động theo phương thức khác như hòa giải, trọng tài hoặc trung gian hòa giải.

8. Tòa án Đánh bắt cá được thành lập theo Luật số 31 năm 2004 về việc Đánh bắt cá. Thẩm quyền chính của tòa là xét xử những vi phạm liên quan đến việc đánh bắt cá.

9. Tòa án Thuế được thành lập theo Luật số 14 năm 2002, có thẩm quyền xử lý các tranh chấp về thuế giữa người nộp thuế và các các cơ quan thuế nhà nước. Phán quyết của Tòa án Thuế không thể kháng cáo trực tiếp lên Tòa án Tối cao.

10. Tòa án Quân sự

Hệ thống tòa án quân sự gồm bốn cấp: Tòa án quân sự thông thường, Tòa án quân sự cấp cao; Tòa án quân sự tối cao và tòa án chiến tranh

Quyền tài phán của mỗi tòa án này sẽ theo cấp bậc của sĩ quan quân đội bị xét xử và loại tranh chấp. Tòa án quân sự thông thường có thẩm quyền xét xử  sơ thẩm các vụ án hình sự, nhưng chỉ xét xử những vụ liên quan đến các sĩ quan từ cấp đại úy trở xuống.

Tòa án quân sự cấp cao xét xử các vấn đề hành chính trong quân đội và có quyền tài phán đối với các sĩ quan mang hàm thiếu tá trở lên. Cả tòa án quân sự cấp cao lẫn tòa án quân sự tối cao đều có thẩm quyền xử phúc thẩm kháng cáo bản án của tòa án quân sự thông thường. Tòa án quân sự tối cao cũng xét xử phúc thẩm các bản án của tòa án quân sự cấp cao trong các vụ án hành chính quân sự.

Theo truyền thống trước đây, tòa án quân sự xét xử mà không phụ thuộc vào bản chất vụ việc. Tòa sẽ thụ lý khi người được cho là phạm tội là một sĩ quan quân đội, bất kể là trong khi thi hành phận sự hay không thi hành phận sự.

11. Tòa án Tôn giáo

Toà án tôn giáo gồm có tòa án tôn giáo cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm. Tòa án Tôn giáo chỉ có thẩm quyền xét xử người Hồi giáo và các lĩnh vực được quy định trong Luật đạo Hồi, chẳng hạn như kết hôn, thừa kế, trách nhiệm và các vấn đề tài chính của đạo Hồi. Luật điều chỉnh Tòa án Tôn giáo là Luật số 7 năm 1989 (đã được sửa đổi).

12. Tòa án Hành chính

Tòa án Hành chính có thẩm quyền xét xử sơ thẩm và phúc thẩm tranh chấp giữa công dân Indonesia và chính phủ về những vấn đề được cho là vi phạm pháp luật hoặc lạm dụng chức quyền của viên chức và cơ quan nhà nước. Tuy nhiên Tòa án Hành chính chỉ có thẩm quyền sau khi các biện pháp giải quyết tranh chấp hành chính khác đã được áp dụng hết.


BÀI 2:

VỊ TRÍ, VAI TRÒ, TIÊU CHUẨN, NHIỆM VỤ,

 QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN

 

I. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN

1. Tòa án trong bộ máy nhà nước

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền tư pháp là một trong ba bộ phận hợp thành quyền lực nhà nước, được biểu hiện là hoạt động xét xử của các Tòa án và hoạt động của cơ quan nhà nước, các tổ chức khác trực tiếp liên quan đến hoạt động của Tòa án như điều tra, truy tố, bổ trợ tư pháp, nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hệ thống cơ quan tư pháp của Việt Nam bao gồm: Tòa án, Viện Kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và các cơ quan tư pháp bổ trợ (luật sư, công chứng, giám định tư pháp…). Trong đó Tòa án nhân dân là nơi biểu hiện tập trung quyền lực tư pháp, sử dụng công khai các kết quả của hoạt động điều tra, truy tố, giám định tư pháp thông qua các thủ tục tố tụng do luật định để đưa ra phán quyết cuối cùng về vụ việc thể hiện quyền lực nhà nước. Hoạt động xét xử của Tòa án là sự thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống cơ quan tư pháp nói riêng và của toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước nói chung.

Tòa án có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” đã khẳng định: “Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó xác định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm”.

Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là các cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tòa án nhân dân có vai trò quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Tòa án nhân dân là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm.

2. Hệ thống Tòa án

Theo quy định tại Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 thì ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các Tòa án sau đây:

   1. Tòa án nhân dân tối cao;

   2. Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

   3. Các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

   4. Các Tòa án quân sự;

   5. Các Tòa án khác do luật định.

   Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt.

3. Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong hệ thống cơ quan tư pháp

Theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án năm 2002 thì các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp có Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án. Do vậy, Thẩm phán là chức danh pháp lý không thể thiếu được trong tổ chức và hoạt động của Tòa án, Thẩm phán là người có vị trí chủ đạo. Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án chủ yếu do Thẩm phán thực hiện.

Trong hoạt động tố tụng của Tòa án, Thẩm phán giữ vị trí chủ đạo; chức năng, nhiệm vụ của Tòa án chủ yếu do Thẩm phán thực hiện. Với tư cách là người được giao thực hiện chức năng xét xử và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, Thẩm phán có vị trí quan trọng và vai trò không thể thay thế trong việc thực hiện một trong những quyền lực nhà nước - quyền tư pháp. Hơn nữa, Thẩm phán còn có vị trí, vai trò đặc biệt nếu xét từ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, trách nhiệm của họ trong cơ cấu tổ chức cán bộ của Tòa án, trong hoạt động tố tụng khi so sánh với những người tiến hành tố tụng khác và trong cơ chế bổ nhiệm, giao nhiệm vụ nếu so sánh với các chức danh công chức khác trong các cơ quan nhà nước.

Từ các quy định của pháp luật tố tụng cho thấy, trong hoạt động tố tụng mà các cơ quan tham gia như Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án và hoạt động của các cơ quan bổ trợ tư pháp như cơ quan giám định, công chứng, luật sư,… thì Tòa án và Thẩm phán luôn chiếm giữ vị trí trung tâm và có vai trò quyết định cuối cùng đối với việc xét xử và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Trong số các chức danh cán bộ, công chức nhà nước thì Thẩm phán được xem là chức danh công chức đặc biệt, bởi lẽ các vấn đề về nghĩa vụ và quyền hạn, về những việc họ không được làm và các vấn đề về tổ chức cán bộ như quản lý, sử dụng, chế độ chính sách đối với Thẩm phán không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức mà còn phải tuân theo các quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân về điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục tuyển chọn và bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, điều động, biệt phái Thẩm phán. Đặc biệt là việc tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán, điều này khẳng định một trong những thành tựu đã đạt được trong cải cách tư pháp đó là thay thế cơ chế Hội đồng nhân dân bầu Thẩm phán bằng chế định bổ nhiệm Thẩm phán, điều này có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện một cách thống nhất tiêu chuẩn hóa Thẩm phán trên phạm vi toàn quốc, tạo sự chuyển biến mang tính tích cực cả về số lượng và chất lượng đội ngũ Thẩm phán, đồng thời là sự công nhận và thể hiện quan điểm của Nhà nước và nhân dân về vị trí, vai trò quan trọng của Thẩm phán trong việc thực hiện quyền lực nhà nước.

Thẩm phán là công chức được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật với chức năng thực hiện nhiệm vụ xét xử các loại vụ án và giải quyết các việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án, Thẩm phán Tòa án có vị trí trung tâm trong cơ cấu cán bộ của cơ quan Tòa án và trong số những người tiến hành tố tụng; có vai trò quyết định không thể thay thế đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước – quyền tư pháp nói chung và hoạt động tố tụng tư pháp nói riêng.

Từ những vị trí, vai trò cơ bản nêu trên của Thẩm phán, có thể thấy rằng địa vị pháp lý của Thẩm phán đã được ghi nhận và khẳng định một cách rõ ràng trong hệ thống pháp luật của nước ta. Tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò trung tâm của Tòa án và Thẩm phán cùng với việc đề ra các yêu cầu về xây dựng, củng cố đội ngũ Thẩm phán để đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho trong tình hình hội nhập  quốc tế của đất nước hiện nay.

4. Thẩm phán là công chức nhà nước

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2010 thì Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện… trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước… Do vậy, Thẩm phán trước hết phải là công chức Nhà nước.

Thẩm phán ngoài việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân; Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân thì Thẩm phán còn phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong Luật Cán bộ, công chức quy định:

4.1. Nghĩa vụ của công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân; trong thi hành công vụ; là người đứng đầu (quy định từ Điều 8 đến Điều 10 Luật Cán bộ, công chức) cụ thể như sau:

- Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia.

- Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân.

-  Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân.

-  Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

- Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

- Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.

- Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

- Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao.

- Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

- Ngoài việc thực hiện các quy định trên, công chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị còn phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

+ Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

+ Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của công chức;

+ Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;

+ Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân;

+ Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức;

+ Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

4.2. Quyền của công chức (quy định từ Điều 11 đến Điều 14 Luật Cán bộ, công chức)

- Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ; Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật; Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ (Điều 11).

 - Được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Công chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật. Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật (Điều 12).

- Công chức được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động. Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì ngoài tiền lương còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ (Điều 13).

- Công chức được bảo đảm quyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật (Điều 14).

5. Các ngạch Thẩm phán

Theo quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 thì:

- Thẩm phán Tòa án nhân dân ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có:

+ Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

+ Thẩm phán trung cấp;

+ Thẩm phán sơ cấp;

+ Thẩm phán Tòa án quân sự bao gồm Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương đồng thời là Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp.

-  Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương có Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Tòa án nhân dân cấp tỉnh), Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện), Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực có Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán sơ cấp.

- Số lượng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Số lượng Thẩm phán của các Tòa án quân sự do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

6. Tiêu chuẩn của Thẩm phán

Theo quy định tại Điều 1 Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT/TANDTC-BQP-BNV ngày 20 tháng 10 năm 2011 Hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân thì một số tiêu chuẩn cụ thể của Thẩm phán được hiểu như sau:

6.1. Về tiêu chuẩn chung để được bổ nhiệm làm Thẩm phán

- Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa phải là:

+ Chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; không có bất kỳ hành vi nào gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

+ Không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của cơ quan, tổ chức.

+ Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.

+ Kiên quyết đấu tranh với những người, những hành vi gây phương hại đến Đảng, đến Tổ quốc và nhân dân, bảo vệ công lý; có tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình.

+ Không thuộc trường hợp quy định tại Điều 2 Chương I của Quy định số 57-QĐ/TW ngày 03-5-2007 của Bộ Chính trị “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng”.

+ Không làm những việc quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân.

+ Chưa bao giờ bị kết án (kể cả trường hợp đã được xóa án tích).

- “Có trình độ cử nhân luật” là phải có bằng tốt nghiệp đại học về chuyên ngành luật do các trường đại học trong nước có chức năng đào tạo về chuyên ngành luật theo quy định của pháp luật; nếu văn bằng cử nhân luật do cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp thì văn bằng đó phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận.

- “Đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử” là phải có chứng chỉ về đào tạo nghiệp vụ xét xử do cơ sở trong nước có chức năng đào tạo về nghiệp vụ xét xử theo quy định của pháp luật; nếu chứng chỉ do cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp thì chứng chỉ đó phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận.

- “Thời gian làm công tác pháp luật” là thời gian công tác liên tục kể từ khi được xếp vào một ngạch công chức theo quy định của pháp luật, bao gồm: Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, Chấp hành viên, Chuyên viên hoặc Nghiên cứu viên pháp lý, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Công chứng viên, Thanh tra viên, cán bộ bảo vệ an ninh trong Quân đội, cán bộ pháp chế, giảng viên về chuyên ngành luật; thời gian được bầu hoặc cử làm Hội thẩm, thời gian làm luật sư cũng được coi là “thời gian làm công tác pháp luật”.

- “Có năng lực làm công tác xét xử” là phải nắm bắt và áp dụng được các quy định của pháp luật trong công tác xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án; hoàn thành công việc được giao có chất lượng, hiệu quả và bảo đảm thời gian quy định theo đánh giá, nhận xét của cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức hoặc có những bài viết, công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật có giá trị được công bố hoặc được áp dụng vào thực tiễn.

- “Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao” là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, ngoài thể lực cần thiết, còn bao gồm yếu tố ngoại hình đó là không có dị tật, dị hình ảnh hưởng trực tiếp đến tư thế, tác phong hoặc việc thực hiện nhiệm vụ của người Thẩm phán.

- Đối với người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang bị xem xét xử lý kỷ luật, nhưng chưa có quyết định giải quyết cuối cùng của người hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thì chưa có đủ điều kiện để có thể được đề nghị tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán.

6.2. Tiêu chuẩn tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán sơ cấp

Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân, có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán sơ cấp thuộc Tòa án nhân dân; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán sơ cấp thuộc Tòa án quân sự.

Khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của pháp luật, có năng lực làm công tác xét xử, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán”.

6.3. Tiêu chuẩn tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp

- Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân và đã là Thẩm phán sơ cấp ít nhất là năm năm, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp thuộc Tòa án nhân dân; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp thuộc Tòa án quân sự.

- Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Tòa án nhân dân, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân và đã có thời gian làm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp thuộc Tòa án nhân dân; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp thuộc Tòa án quân sự.

6.4. Tiêu chuẩn tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

- Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân và đã là Thẩm phán trung cấp ít nhất là năm năm, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương.

- Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Tòa án nhân dân, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân và đã có thời gian làm công tác pháp luật từ mười lăm năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương.”

6.5. Trường hợp đặc biệt

Trong trường hợp cần thiết, người công tác trong ngành Tòa án nhân dân hoặc người do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều động đến công tác tại ngành Tòa án nhân dân tuy chưa có đủ thời gian làm Thẩm phán sơ cấp hoặc Thẩm phán trung cấp hoặc chưa có đủ thời gian làm công tác pháp luật, nhưng có đủ các tiêu chuẩn khác (theo quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân), thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán sơ cấp hoặc Thẩm phán trung cấp thuộc Tòa án nhân dân hoặc Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán sơ cấp hoặc Thẩm phán trung cấp thuộc Tòa án quân sự hoặc Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương.

7. Chế độ của Thẩm phán

Thẩm phán có thang bậc lương riêng, được hưởng phụ cấp trách nhiệm và các phụ cấp khác do pháp luật quy định; Thẩm phán khi đi làm nhiệm vụ được miễn phí cầu, phà, đường theo quy định của pháp luật; Thẩm phán được cấp trang phục, Giấy chứng minh Thẩm phán để làm nhiệm vụ (Điều 17, 18 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân).

- Theo Nghị quyết số 730/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 30/9/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn bảng lương chức vụ, bảng phụ cấp chức vụ đối với cán bộ lãnh đạo Nhà nước; bảng lương chuyên môn nghiệp vụ ngành Tòa án, ngành Kiểm sát thì:

+ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao lương có 2 bậc: bậc 1= 10,40; bậc 2=11,00;

+ Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và tương đương lương có 6 bậc: bậc 1= 6,20; …; bậc 6 = 8,00 và sau đó sẽ hưởng lương vượt khung;

+ Thẩm phán trung cấp và tương đương lương có 8 bậc: bậc 1 = 4,40; …; bậc 8 =6,78 và sau đó sẽ hưởng lương vượt khung;

+ Thẩm phán sơ cấp và tương đương lương có 9 bậc: bậc 1 = 2,34; …; bậc 9 = 4,98 và sau đó sẽ hưởng lương vượt khung.

Thẩm phán ngoài việc được hưởng lương như nói ở trên còn được hưởng phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp công vụ và một số phụ cấp khác theo quy định của pháp luật.

- Phụ cấp trách nhiệm: Theo Quyết định số 171/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ phụ cấp trách nhiệm đối với thẩm phán, Thư ký Tòa án và Thẩm tra viên ngành Tòa án cụ thể như sau:

+ Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao được hưởng phụ cấp trách nhiệm bằng 20% mức lương hiện hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

+ Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được hưởng phụ cấp trách nhiệm bằng 25% mức lương hiện hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

+ Thẩm phán Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh được hưởng phụ cấp trách nhiệm bằng 30% mức lương hiện hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

- Phụ cấp thâm niên nghề: Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 04/2009/TTLT-BNV-BTC ngày 24/12/2009 về Hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên nghề đối với cán bộ công chức đã được xếp lương theo các ngạch hoặc chức danh chuyên ngành toà án, kiểm sát, kiểm toán, thanh tra, thi hành án dân sự và kiểm lâm.

Đối với ngành Tòa án Thông tư quy định:

Chánh án và Phó Chánh án Tòa án nhân dân các cấp; Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp; Thư ký Tòa án và Thẩm tra viên ngành Tòa án (Thẩm tra viên cao cấp, Thẩm tra viên chính và Thẩm tra viên); có thời gian làm việc đủ 5 năm (60 tháng) thì được hưởng phụ cấp thâm niên nghề bằng 5% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có); từ năm thứ sáu trở đi mỗi năm (đủ 12 tháng) được tính thêm 1%.

- Phụ cấp công vụ: Căn cứ Nghị định số 34/2012/NĐ-CP ngày 15/4/2012 thì Thẩm phán và công chức khác của ngành Tòa án được hưởng phụ cấp công vụ bằng 25% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

8. Điều động, biệt phái Thẩm phán

Thẩm phán trong quá trình công tác có thể được điều động, biệt phái có thời hạn từ Tòa án nhân dân tỉnh này đến làm nhiệm vụ tại Tòa án nhân dân tỉnh khác hoặc từ Tòa án nhân dân huyện này đến làm nhiệm vụ tại Tòa án nhân dân huyện khác trong cùng một tỉnh (Điều 19 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân).

- Để bảo đảm cho các Tòa án nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định:

+ Điều động Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp từ Tòa án nhân dân này đến làm nhiệm vụ tại Tòa án nhân dân khác không cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

+ Biệt phái Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp từ Tòa án nhân dân này đến làm nhiệm vụ có thời hạn tại Tòa án nhân dân khác không cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

- Để bảo đảm cho các Tòa án nhân dân địa phương thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định:

+ Điều động Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp từ Tòa án nhân dân này đến làm nhiệm vụ tại Tòa án nhân dân khác trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

+ Biệt phái Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp từ Tòa án nhân dân này đến làm nhiệm vụ có thời hạn tại Tòa án nhân dân khác trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

- Để bảo đảm cho các Tòa án quân sự thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định:

+ Điều động Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp từ Tòa án quân sự này đến làm nhiệm vụ tại Tòa án quân sự khác sau khi thống nhất với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

+ Biệt phái Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp từ Tòa án quân sự này đến làm nhiệm vụ có thời hạn tại Tòa án quân sự khác.

9. Miễn nhiệm, cách chức chức danh Thẩm phán

Thẩm phán được miễn nhiệm, cách chức chức danh Thẩm phán theo quy định tại Điều 29 và Điều 30 (Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân):

- Thẩm phán đương nhiên được miễn nhiệm chức danh Thẩm phán khi nghỉ hưu.

- Thẩm phán có thể được miễn nhiệm chức danh Thẩm phán do sức khoẻ, do hoàn cảnh gia đình hoặc vì lý do khác mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

- Thẩm phán đương nhiên bị mất chức danh Thẩm phán khi bị kết tội bằng bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

- Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, Thẩm phán có thể bị cách chức chức danh Thẩm phán khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Vi phạm trong công tác xét xử, giải quyết những việc thuộc thẩm quyền của Toà án;

+ Vi phạm quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân;

+ Bị kỷ luật bằng hình thức cách chức chức vụ quản lý đang đảm nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;

+ Vi phạm về phẩm chất đạo đức;

+ Có hành vi vi phạm pháp luật khác.

II. NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán

Thẩm phán có nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại các điều từ Điều 11 đến Điều 14 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân cụ thể như sau:

- Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án theo sự phân công của Chánh án Toà án nơi mình công tác hoặc Toà án nơi mình được biệt phái đến làm nhiệm vụ có thời hạn.

- Thẩm phán có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thi hành những quyết định có liên quan đến việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác theo quy định của pháp luật.

- Thẩm phán phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật.

- Thẩm phán có trách nhiệm học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Toà án.

- Ngoài nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán như đã nói trên thì pháp luật tố tụng còn quy định nhiệm vụ cụ thể của Thẩm phán như sau:

Theo quy định tại (Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 36 Luật Tố tụng hành chính) thì nhiệm vụ chính của Thẩm phán khi được phân công xét xử, giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, hành chính… có những nhiệm vụ và quyền hạn:

+ Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên toà hoặc tiến hành lập hồ sơ vụ án;

+ Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật;

+ Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

+  Quyết định đưa vụ án ra xét xử;

+ Quyết định triệu tập những người tham gia tố tụng;

+ Tham gia xét xử các vụ án;

+ Tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử;

+ Bên cạnh các nhiệm vụ, quyền hạn như đã nói trên, trong các vụ án cụ thể Thẩm phán còn có các nhiệm vụ, quyền hạn riêng:   

Ví dụ: Trong vụ án hình sự:

Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có quyền cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa.

2. Tính độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử

2.1. Nguyên tắc Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 5 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân)

 Nguyên tắc này khẳng định trong hoạt động xét xử, Thẩm phán không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khi đưa ra các nhận định đánh giá và phán quyết của mình về vụ án. Mọi cá nhân, tổ chức không được can thiệp vào các hoạt động xét xử của Tòa án. Nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đã nâng cao trách nhiệm của các Thẩm phán, buộc họ nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, chủ động nghiên cứu mọi tình tiết của vụ án, không bị lệ thuộc vào những lý do của những người tham gia tố tụng hay những kết luận của Viện Kiểm sát đưa ra. Tính độc lập của Thẩm phán chính là sự gắn kết tuyệt đối các Thẩm phán với luật pháp. Tính độc lập của Thẩm phán bảo vệ quyền lực tư pháp trước sự can thiệp từ phía lập pháp và hành pháp.

2.2. Mối quan hệ của Thẩm phán trong nguyên tắc độc lập xét xử

Ở nước ta việc xét xử còn do các hội thẩm nhân dân thực hiện. Vì vậy, nguyên tắc xét xử độc lập không chỉ đối với Thẩm phán mà cả với hội thẩm nhân dân. “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Điều 5 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân. Độc lập xét xử được xem xét từ các khía cạnh yếu tố bên trong lẫn yếu tố bên ngoài. Thông thường thì độc lập với yếu tố bên ngoài được hiểu là khi xét xử, Thẩm phán và hội thẩm nhân dân không bị phụ thuộc vào kết luận của cơ quan điều tra, cáo trạng và quyết định truy tố của cơ quan điều tra, công tố. Tại phiên tòa, Thẩm phán phải trực tiếp xem xét những chứng cứ của vụ án chứ không căn cứ vào các kết luận trong hồ sơ của vụ án. Thẩm phán chỉ được căn cứ vào những chứng cứ được xem xét tại phiên tòa để đưa ra bản án.

Ngoài mối quan hệ với cơ quan điều tra, viện kiểm sát, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân còn mối quan hệ với các luật sư, các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội. Thực tế, trong rất nhiều trường hợp, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân bị ảnh hưởng, tác động từ phía luật sư, các tổ chức, cá nhân, các cơ quan Nhà nước, làm sai lệch quá trình tố tụng, ảnh hưởng không ít tới hoạt động tố tụng nhằm hướng tới việc xét xử có lợi cho mình. Do đó, Thẩm phán phải luôn ý thức được rằng mình là người phải chịu trách nhiệm về nội dung, về tính công minh của bản án. Vì thế, Thẩm phán phải có bản lĩnh và phải đứng vững trước những tác động từ các yếu tố bên ngoài. Như vậy, xét từ những yếu tố bên ngoài thì nguyên tắc: “khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” không cho phép bất cứ ai, cơ quan Nhà nước nào can thiệp vào việc xét xử của tòa án dưới bất cứ lý do nào.

2.3. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc Thẩm phán độc lập khi xét xử

Nguyên tắc Thẩm phán độc lập khi xét xử không chỉ được thực hiện trong việc đánh giá chứng cứ mà cả trong thẩm vấn, tranh luận trước phiên tòa và việc ra bản án, quyết định. Trong tố tụng, nhất là Tố tụng Hình sự có sự tham gia của hai chủ thể gần như đối lập nhau là bên bị buộc tội và bên buộc tội. Trong quan hệ tố tụng, Thẩm phán hành động như một người đứng giữa để phân xử đúng sai nhân danh Nhà nước. Địa vị của Thẩm phán phải khác với bên buộc tội hay bên gỡ tội. Sự độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử đòi hỏi Thẩm phán phải có trách nhiệm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mọi công dân chỉ coi là có tội khi có một bản án của tòa án có thẩm quyền và đã có hiệu lực pháp luật.

Độc lập là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và hội thẩm nhân dân khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật. Sự độc lập của Thẩm phán là độc lập để tuân theo pháp luật. Sự độc lập này không được nằm ngoài pháp luật, không có bất kỳ sự lẩn tránh nào đối với pháp luật, không bỏ lọt bất kỳ một hành vi vi phạm pháp luật nào.

Tuy nhiên, duy trì tính độc lập của Thẩm phán không dễ. Họ cũng là con người, có gia đình, quan hệ bạn bè, có họ hàng thân thích. Tương tự, họ không thể đứng ngoài những quan hệ quản lý hành chính, những ràng buộc, ảnh hưởng của các mối quan hệ xã hội trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội. Xuất phát từ những lý do đó, một số Thẩm phán bị vật chất, quyền lực cám dỗ, bao che, ô dù cho những người vi phạm pháp luật. Tính “độc lập và tuân theo pháp luật” của các Thẩm phán trong hoạt động xét xử bị ảnh hưởng tiêu cực.

Trong hoạt động xét xử, các Thẩm phán là vị “quan tòa” đại diện cho cái thiện chống lại cái ác, là người cầm cân nẩy mực, đại diện cho quyền lực Nhà nước, thực hiện quyền xét xử với mục đích đem lại công bằng cho xã hội, đảm bảo sự ổn định, phát triển mang ý nghĩa xã hội to lớn. Nghề nghiệp của Thẩm phán liên quan đến cái sống, cái chết của con người, liên quan đến việc định đoạt tài sản của cá nhân, tổ chức. Bản án, quyết định của Thẩm phán chứa đựng trách nhiệm không chỉ của cá nhân Thẩm phán mà cả trách nhiệm của xã hội. Chính vì vậy nghề của Thẩm phán vừa mang tính sáng tạo, vừa mang tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

2.4. Điều kiện để Thẩm phán độc lập trong hoạt động xét xử

- Thẩm phán phải có đạo đức, nhân cách trong sáng, có năng lực chuyên môn tốt được nhân dân tin tưởng về khả năng và sự dũng cảm trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ niềm tin.

- Thẩm phán phải là người có hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật cao hơn những người khác và luôn luôn cập nhật được những thành tựu mới của hoạt động lập pháp, của khoa học và thực tiễn pháp lý. Thẩm phán có nghiệp vụ cao tức là phải nắm vững quy định của pháp luật, có tư duy và khả năng vận dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề pháp lý đặt ra.

 - Thẩm phán phải được lựa chọn từ những công chức ưu tú của ngành Tòa án hoặc những luật gia, luật sư ưu tú đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật và phải được đảm bảo những chế độ và điều kiện làm việc thích hợp nhất. Chế độ trách nhiệm của Thẩm phán phải rõ ràng và họ phải được bảo vệ theo những trình tự thích hợp nhằm tránh những sự xâm hại về tài sản, tính mạng, danh dự và nhân phẩm do những bị cáo hay đương sự gây ra. Có như vậy, Thẩm phán mới có thể yên tâm thực hiện nhiệm vụ của mình.

3. Trách nhiệm của Thẩm phán

Theo qui định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân tại các Điều 6,7,10,13,14 và các quy định của pháp luật tố tụng khác thì:

- Thẩm phán, Hội thẩm chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Ví dụ: Khoản 2, Điều 13 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2, Điều 15 Luật Tố tụng hành chính quy định:

+ Cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự (hành chính) chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Trường hợp người tiến hành tố tụng có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

+ Người tiến hành tố tụng dân sự có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức thì Toà án phải bồi thường cho người bị thiệt hại và người tiến hành tố tụng có trách nhiệm bồi hoàn cho Toà án theo quy định của pháp luật (khoản 4, Điều 13 Bộ luật tố tụng dân sự).

+ Người tiến hành tố tụng hành chính có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức thì cơ quan có người tiến hành tố tụng đó phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (khoản 4, Điều 15 Luật Tố tụng hành chính).

- Thẩm phán, Hội thẩm phải giữ bí mật nhà nước và bí mật công tác theo quy định của pháp luật.

Ví dụ:  Khoản 3, Điều 13 Bộ luật tố tụng hành chính; khoản 3, Điều 15 Luật Tố tụng hành chính quy định:

Cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự (hành chính) phải giữ bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật; giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ.

- Thẩm phán, Hội thẩm phải tôn trọng nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Khi phát hiện hành vi trái pháp luật của Thẩm phán, Hội thẩm thì cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân có quyền yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại; cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan có thẩm quyền để xem xét trách nhiệm đối với Thẩm phán, Hội thẩm.

- Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thẩm phán, Hội thẩm có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan, tổ chức và công dân có trách nhiệm tạo điều kiện để Thẩm phán, Hội thẩm làm nhiệm vụ.

- Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở Thẩm phán, Hội thẩm thực hiện nhiệm vụ.

- Thẩm phán phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật.

- Thẩm phán có trách nhiệm học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Toà án.

4. Những việc Thẩm phán không được làm

 Trong quá trình công tác hoặc tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng, Thẩm phán không được làm những việc quy định tại Điều 18,19,20 Luật cán bộ, công chức và Điều 15,16 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân, cụ thể:

- Những việc mà pháp luật quy định cán bộ, công chức không được làm như;

+ Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công.

+ Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật.

+ Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi.

+ Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức.

+ Không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí mật nhà nước dưới mọi hình thức.

+ Công chức làm việc ở ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước thì trong thời hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi có quyết định nghỉ hưu, thôi việc, không được làm công việc có liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình đã đảm nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài.

+ Công chức còn không được làm những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những việc khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

- Tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác không đúng quy định của pháp luật;

- Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ án;

- Đem hồ sơ vụ án hoặc tài liệu trong hồ sơ vụ án ra khỏi cơ quan, nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền;

- Tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định.

5. Những việc Thẩm phán phải từ chối hoặc bị thay đổi

Thẩm phán phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi trong các trường hợp do pháp luật tố tụng quy định tại (Điều 42, 46 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 46, 47 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 41, 42 của Luật Tố tụng hành chính) nếu:

- Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự;

- Họ đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án đó;

- Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

- Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau.

- Đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án.

 - Họ đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án đó, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh thì vẫn được tham gia xét xử nhiều lần cùng một vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 47 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 42 của Luật Tố tụng hành chính);

Ngoài những việc Thẩm phán phải từ chối hoặc bị thay đổi như đã nói trên, trong các án cụ thể Thẩm phán còn phải từ chối hoặc bị thay đổi:   

Ví dụ: Trong vụ án hành chính Thẩm phán phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu Thẩm phán:

+ Đã tham gia vào việc ra quyết định hành chính hoặc có liên quan đến hành vi hành chính bị khởi kiện;

+ Đã tham gia vào việc ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện;

+ Đã tham gia vào việc ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức hoặc đã tham gia vào việc ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức bị khởi kiện;

+ Đã tham gia vào việc ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh bị khởi kiện;

+ Đã tham gia vào việc lập danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân bị khởi kiện;

Trong quá trình thực hiện tố tụng cần lưu ý:

Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi mở phiên toà do Chánh án Toà án quyết định. Nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án thì do Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp quyết định.

Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên toà do Hội đồng xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến của mình, Hội đồng quyết định theo đa số.

Trong trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên toà, thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên toà.

Việc cử thành viên mới của Hội đồng xét xử do Chánh án Toà án quyết định.

Kết luận: Với tư cách là người được giao thực hiện chức năng xét xử của Tòa án, Thẩm phán có vị trí rất quan trọng và có vai trò không thể thay thế trong việc thực hiện một trong những quyền lực nhà nước đó là quyền tư pháp. Ngoài vị trí, vai trò của Thẩm phán trong việc thực hiện quyền lực Nhà nước, Thẩm phán còn có vị trí, vai trò đặc biệt trong cơ cấu tổ chức cán bộ của Tòa án, trong hoạt động tố tụng khi so sánh với những người tiến hành tố tụng khác và trong cơ chế bổ nhiệm, giao nhiệm vụ nếu so sánh với các chức danh công chức khác trong các cơ quan nhà nước.   

Trong hoạt động tố tụng mà các cơ quan tham gia như Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án và hoạt động của các cơ quan bổ trợ tư pháp như cơ quan giám định, công chứng, luật sư, … thì Tòa án và Thẩm phán luôn chiếm giữ vị trí trung tâm và có vai trò quyết định cuối cùng đối với việc xét xử và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án. Như vậy, hoàn toàn có căn cứ để khẳng định rằng Tòa án mà thực chất là Thẩm phán không chỉ có vị trí trung tâm trong hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật mà còn có vai trò quyết định trong toàn bộ hoạt động tố tụng tư pháp theo quy định của pháp luật.

 


BÀI 3:

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH V ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA THẨM PHÁN, CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGÀNH TÒA ÁN

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của Cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Người đã để lại cho chúng ta di sản tinh thần to lớn, những tư tưởng vô giá, những giá trị nhân văn cao cả, đặc biệt là Tư tưởng đạo đức cách mạng sáng ngời. Cả cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương sáng chói cho toàn Đảng, toàn dân ta nguyện phấn đấu suốt đời học tập và noi theo.

I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

1. Nguồn gốc Tư tưởng Hồ Chí Minh

Nghiên cứu, tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta cần tìm hiểu về nguồn gốc hình thành Tư tưởng của Người. Tư tưởng Hồ Chí Minh - Tư tưởng của một Vĩ nhân, một Nhà hoạt động cách mạng, một danh nhân Văn hóa thế giới, một con NGƯỜI được nhân loại viết hoa trong thế kỷ XX. Do đó, nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh, không thể không nghiên cứu quá trình sinh thành, học tập, hoạt động thực tiễn, những yếu tố tác động để hình thành nên Tư tưởng của Người.

Theo tài liệu của Viện Nghiên cứu Lịch sử Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh), nguồn gốc Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành bởi các yếu tố sau: Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, Tinh hoa văn hóa nhân loại, Chủ nghĩa Mác - Lênin, nhân cách và quá trình hoạt động thực tiễn của Người. Các yếu tố trên được hòa trộn, nhuần nhuyễn, củng cố, phát triển và ngày càng hoàn thiện trong con người của Bác trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Vậy, cụ thể các yếu tố đó tác động đến con người của Bác ra sao?

1.1. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

Kế thừa và phát triển truyền thống yêu nước của dân tộc, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (Hồ Chí Minh toàn tập, t. 6, tr.171).

Sức mạnh của Chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã thúc đẩy Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Chủ nghĩa yêu nước trở thành động lực chi phối mạnh mẽ đến suy nghĩ, hành động của Người. Người đã lấy tên Nguyễn Ái Quốc để khẳng định ý chí cứu nước và cổ vũ đồng bào đồng chí. Chủ nghĩa yêu nước là cơ sở tư tưởng dẫn Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, như sau này Người khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa Cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thư Ba” (Sách đã dẫn, t.10, tr.128).

Hồ Chí Minh khi tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin đã kế thừa truyền thống yêu nước tốt đẹp của dân tộc, nhưng Người phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt Nam lên một tầm cao mới : Gắn dân tộc với thời đại; chủ nghĩa yêu nước chân chính gắn liền với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

1.2. Tinh hoa văn hóa của nhân loại

Tiếp thu những tinh hoa đạo đức Nho giáo, Hồ Chí Minh cũng đồng thời phê phán và phủ nhận những quan điểm chính trị, đạo đức lạc hậu, Người viết: “ Những ông vua tôn sùng Khổng Tử không phải chỉ vì ông không phải là người cách mạng, mà còn là vì ông tiến hành một cuộc tuyên truyền mạnh mẽ có lợi cho họ. Họ khai thác Khổng giáo như bọn đế quốc đang khai thác Ki – tô giáo”. Với cách nhìn cách mạng và khoa học, Hồ Chí Minh nêu phương châm tiếp nhận tinh hoa văn hóa cho mình và cho đồng bào mình, rằng: “Còn những người An Nam chúng ta, hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin” (Sách đã dẫn, t.2, tr.453,454).

Thuở thiếu thời, Hồ Chí Minh không chỉ học chữ Nho, mà còn học chữ Pháp trong các trường thời thuộc địa. Những tư tưởng tiến bộ của các cuộc cách mạng tư sản phương Tây gây cho Người sự chú ý đặc biệt: “ Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái…tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm hiểu xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy” (S.đ.d, t.1, tr.477).

Thời kỳ 1911-1920 (Tìm đường cứu nước), trước khi đến với chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh đã dày công nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản ở các nước Mỹ, Anh, Pháp; nghiên cứu các tác phẩm của các nhà tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản như Rút-xô, Mông-tex-ki-ơ… Người tiếp nhận có phê phán những tư tưởng tiến bộ của nền văn hóa phương Tây, đồng thời vạch rõ những bất công trong xã hội tư bản.

Tựu trung, những hiểu biết của Người về Khổng Tử, về văn hóa phương Tây, Tôn Trung Sơn… đã góp phần quan trọng vào việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

1.3. Chủ nghĩa Mác - Lênin

Tháng 7/1920, Hồ Chí Minh tiếp cận, nghiên cứu bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I Lênin. Người tìm thấy ở Bản sơ thảo này con đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo lập trường của giai cấp vô sản.

Tháng 12/1920, Người tham gia Đại hội Tua của Đảng xã hội Pháp, bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ Ba và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đây là dấu mốc quan trọng, đánh dấu bước ngoặt căn bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thế giới quan và phương pháp luận Mác - Lênin đóng vai trò quyết định hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Bắt đầu từ đây, Người dựa trên nền tảng triết học mácxit để xem xét thế giới, đứng trên lập trường chính trị của giai cấp vô sản để vạch ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

Sau này, Người khẳng định: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta” (Sách đã dẫn, t.8, tr.494).

Hồ Chí Minh đề cao lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin; coi học thuyết đó như “Cẩm nang thần kỳ” trên quan điểm, tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn, đem lại thắng lợi cho cách mạng. Người nhấn mạnh và đòi hỏi phải tổng kết thực tiễn để bổ sung và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin: “Dù sao cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” (Sách đã dẫn t.1, tr.465). Theo Người, Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh. Chúng ta hiểu rằng, Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam một cách sáng tạo, thích hợp với tình hình thực tế của đất nước. Nhìn lại lịch sử những năm năm mươi, sáu mươi của thế kỷ trước, chúng ta càng thấy rõ quan điểm của Bác là hoàn toàn đúng đắn, có tầm nhìn xa trông rộng; một số đồng chí có biểu hiện vận dụng chủ nghĩa Mác - nin một cách máy móc, dập khuôn vào thực tiễn nước ta đã gặp phải khó khăn, thậm chí thất bại.

1.4. Nhân cách và quá trình hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh

Tư tưởng là sản phẩm của tư duy con người, do con người tổng kết từ những hoạt động thực tiễn. Mọi người bình thường đều có hoạt động tư duy và hoạt động thực tiễn, nhưng không phải mọi người đều trở thành nhà tư tưởng. Bởi ngoài những yếu tố khách quan, còn phụ thuộc vào một yếu tố chủ quan có ý nghĩa quyết định là: Nhân cách và quá trình hoạt động thực tiễn phong phú của từng cá nhân.

Hồ Chí Minh là một Nhà tư tưởng, như nhân loại tiến bộ đã khẳng định: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ và một nhà tư tưởng mácxit – lêninnit vĩ đại của thế giới” (Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới, Nxb Sự thật 1979, tr.143). Bên cạnh những yếu tố nguồn gốc như đã trình bày ở trên, còn có một yếu tố quan trọng, giữ vai trò quyết định là: Nhân cách và quá trình hoạt động thực tiễn phong phú của Người.

Ngay từ thời trẻ tuổi, Hồ Chí Minh đã nuôi trong mình hoài bão được cống hiến đời mình cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Trong thời gian hoạt động ở nước ngoài, Người tiếp thu tư tưởng tiến bộ, xác định mục đích cuối cùng của những người dấn thân đi làm cách mạng là: Giải phóng con người.

Do vậy, Người đã nói: “…Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” (S.đ.d, t.4, tr.161).

Hoài bão lớn lao đó của Người được thực hiện bởi một ý chí mãnh liệt, một nghị lực phi thường để vượt qua những thử thách khắc nghiệt của lịch sử. Đồng thời, Hồ Chí Minh còn là Con Người đầy lòng nhân ái, bao dung, khiêm tốn, giản dị trong cuộc sống. Người có tư chất thông minh, tư duy độc lập và sáng tạo, nhạy bén với cái mới, có tầm nhìn xa trông rộng.

Thực tiễn đấu tranh gian khổ và phong phú của Người được tích lũy, sàng lọc và phát triển thành hệ thống những luận điểm khoa học và cách mạng - Tư tưởng Hồ Chí Minh.

2. Sơ lược quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

2.1. Từ thời thơ ấu đến khi trưởng thành (1890-1911)

Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho học trong hoàn cảnh đất nước dưới ách nô lệ của thực dân Pháp. Thực tiễn bi hùng của đất nước, cùng với sự giáo dục của gia đình về truyền thống đấu tranh anh dũng, truyền thống đạo lý nhân ái của dân tộc đã hình thành nên nhân cách lớn ở người thanh niên Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành. Thời kỳ này, Người được trang bị những tinh hoa của văn hóa Phương Đông, những kiến thức về nhân sinh, vũ trụ, đạo đức phương Đông trở thành vốn tư tưởng phong phú của Người.

Đây cũng là thời kỳ Người bước đầu tiếp cận với văn minh phương Tây. Khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” cùng những tác phẩm văn học Pháp mà Người tiếp cận ở nhà trường, đã khơi dậy lòng ham hiểu biết, hướng sang phương Tây để tìm hiểu sự thật ẩn giấu đằng sau những mỹ từ ấy.

2.2. Thời kỳ tìm đường cứu nước (1911-1920)

Tháng 6/1911, Nguyễn Tất Thành ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Người sang Pháp, vòng quanh Châu Phi, dừng ở Mỹ một năm (1912-1913), sang Luân Đôn sống từ 1914-1917. Cuối năm 1917 Người trở lại Pháp.

Quá trình lao động cơ cực để kiếm sống, đã tạo điều kiện cho Người được tiếp xúc với những người lao động ở các nước, hiểu được nỗi khổ cực của họ và thấu hiểu rằng: Dù ở đất nước nào, các dân tộc bị áp bức cũng có nỗi khổ như nhau, đều có kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân đế quốc.

Người trực tiếp chứng kiến thành công của cách mạng Tháng mười Nga (1917); Chiến tranh thế giới kết thúc, các nước thắng trận họp Hội nghị Véc-xây để chia lại thị trường thế giới; Thay mặt những người Việt Nam yêu nước, Người đã gửi đến Hội nghị này Bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” đòi thừa nhận quyền tự do, bình đẳng, dân chủ của nhân dân ta nhưng không được chấp nhận. Người đã rút ra kết luận: Chủ nghĩa Uyn Sơn chỉ là một trò bịp lớn, các dân tộc bị áp bức muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của chính mình.

Tháng 7-1920, qua nghiên cứu “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin, Người đã tìm thấy con đường cứu nước, Người đã thốt lên: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”

Tháng 12-1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội XVIII của Đảng xã hội Pháp. Người từ bỏ Đảng xã hội và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành Người cộng sản. Đây là bước ngoặt quan trọng, quyết định trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh - từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản, trở thành người cộng sản.

2.3. Thời kỳ tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành về cơ bản (1920-1930)

Thời kỳ này (1920-1929), Bác tham gia Đảng cộng sản Pháp và Quốc tế cộng sản. Người chuyển tài liệu về nước, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và viết nhiều bài báo tố cáo chủ nghĩa thực dân bóc lột thuộc địa. Trên cơ sở đó, Bác viết cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925). Tác phẩm này được đánh giá là “…đã thực sự mở ra một giai đoạn mới trong những lý luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa” (Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới, 1979, tr.90).

 Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Bác đã nêu bật luận điểm về vấn đề dân tộc và thuộc địa, có 2 vấn đề cơ bản là: 1- Quan hệ biện chứng giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa; 2- Chiến lược, sách lược của cách mạng giải phóng dân tộc (mục tiêu, nhiệm vụ, lực lượng, phương pháp, đối tượng cách mạng, quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới…).

Năm 1924, Bác về Quảng Châu (Trung Quốc). Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tổ chức tiền thân của Đảng (6-1925). Năm 1927, Người mở lớp huấn luyện cán bộ cách mạng với tập bài giảng được xuất bản thành sách “Đường Cách mệnh”.

Chính từ những hoạt động của Bác, truyền bá tư tưởng Mác-xít về trong nước, tính chất cuộc đấu tranh của công - nông, nhân dân ta trong nước đã thay đổi về tính chất: Từ tự phát chuyển lên tự giác; các tiền đề về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho việc thành lập Đảng đã chín muồi. Ngày 3/2/1930, Nguyễn Ái Quốc đã đại diện Quốc tế cộng sản triệu tập Hội nghị hợp nhất 03 tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản liên đoàn) thành lập một Đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tại Hội nghị này, đã thông qua các văn kiện quan trọng do Bác soạn thảo: “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt”, “Chương trình vắn tắt’, “Điều lệ vắn tắt’ và “Lời kêu gọi”. Các văn kiện này được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta.

Với “Bản án chế độ thực dân Pháp” và “Đường cách mệnh” cùng các văn kiện quan trọng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930), Tư tưởng Hồ Chí Minh đã hình thành về cơ bản.

2.4. Thời kỳ kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng trước thử thách cam go (1930-1940)

Nguyễn Ái Quốc bị thực dân Anh bắt giam ở Hồng Kông (6-1931), thực dân Anh - Pháp câu kết đàn áp những người cộng sản. Với sự giúp đỡ của Quốc tế cứu tế đỏ và Luật sư Lô--Bai, Bác được trắng án và trở lại Liên Xô đầu năm 1934.

Thời kỳ này, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế chịu ảnh hưởng tác động của sai lầm “tả” khuynh nghiêm trọng về chính trị, tư tưởng. Do không nhận thức rõ tình hình Việt Nam và đường lối chính trị của Nguyễn Ái Quốc, những người cộng sản tả” khuynh đã phê phán Nguyễn Ái Quốc mắc sai lầm chính trị “hữu khuynh”, “Dân tộc chủ nghĩa”.

Nguyễn Ái Quốc không hề nao núng, vì không chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân, với tầm nhìn xa trông rộng, Người vẫn kiên trì quan điểm cách mạng của mình. Tiếp đó, Người học tập tại Trường đại học quốc tế mang tên Lênin, học nghiên cứu sinh ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc tế cộng sản.

Đại hội VII Quốc tế cộng sản (1935) đã phê phán những quan điểm sai lầm “tả” khuynh trong phong trào cộng sản, quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đối với cách mạng thế giới. Thực tiễn đó đã chứng minh tính đúng đắn của Tư tưởng Hồ Chí Minh.

2.5. Tư tưởng Hồ Chí Minh được bổ sung, phát triển thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh (1941-1969)

Tháng 1-1941, Bác từ nước ngoài về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5-1941, Bác triệu tập Hội nghị Trung ương 8, chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và khẳng định: Tạm gác khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp lực lượng rộng rãi toàn dân. Với đường lối cứu nước đúng đắn của Đảng và Bác (kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang), Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã thắng lợi (Ngày 2/9/1945 Bác đọc tuyên ngôn khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).

 Với tư tưởng và đường lối chính trị đúng đắn của Đảng và Bác, Dân tộc ta đã kiên quyết chống lại thù trong giặc ngoài (1945-1946); tiến hành cuộc kháng chiến chống lại thực dân Pháp xâm lược (1946-1954); Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa kháng chiến chống Mỹ vừa giải phóng miền Nam (1954-1969)…

Bác đã tiếp tục bổ sung, phát triển tư tưởng với hàng loạt những vấn đề cơ bản về lý luận cách mạng (Con đường cách mạng Việt Nam; Vấn đề xây dựng Đảng; Xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; đường lối quân sự và chiến tranh nhân dân; chiến lược Đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế; xây dựng nền văn hóa mới, con người mới, nền đạo đức mới; phương pháp Cách mạng.vv...).

Với cả cuộc đời hoạt động, cống hiến cho dân, cho nước, với sự sáng tạo và biện chứng cả trong lý luận và thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta, dân tộc ta di sản tinh thần hết sức quý báu, một hệ thống luận điểm toàn diện và sâu sắc: Tư tưởng Hồ Chí Minh.

II. ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG - BỘ PHẬN CẤU THÀNH CƠ BẢN, CHỦ YẾU CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống luận điểm, lý luận khoa học, toàn diện về nhiều lĩnh vực của cách mạng được hình thành đúc kết trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng lâu dài, gian khổ của Người. Cho đến nay, những nhà nghiên cứu về lịch sử Đảng, về tư tưởng Hồ Chí Minh đã đúc rút, tổng kết những vấn đề, những yếu tố cấu thành Tư tưởng của Người, bao gồm:

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc;

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản;

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước;

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam;

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại;

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Quân sự;

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết;

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Văn hóa;

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đạo đức, nhân văn.v.v...

Trong đó, bộ phận cấu thành cơ bản, có ý nghĩa quan trọng của tư tưởng Hồ chí Minh chính là: Đạo đức cách mạng (có thể hiểu là Đạo đức của Người cán bộ cách mạng, vì Bác đã từng dạy rằng: “Đạo đức là cái gốc của người cán bộ cách mạng”, “Cán bộ nào, phong trào nấy”. “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải xây dựng con người chủ nghĩa xã hội”…).

1. Đạo đức là cái gốc của người cán bộ cách mạng

Muốn hoàn thành nhiệm vụ, muốn được dân tin yêu, mến phục, người cán bộ cách mạng phải có đủ cả tài và đức. Tài và đức đều quan trọng, không thể thiếu mặt nào ở người cán bộ. Đảng ta và Bác Hồ luôn coi trọng cả tài và đức. Song, trong mối quan hệ đó, tài hay đức giữ vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của người cán bộ Đảng viên?

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đạo đức là cái “gốc” của người cách mạng. Người khẳng định: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (Sách đã dẫn, t.5, tr.252-253).

Tư tưởng đạo đức của Người được thể hiện trong các tác phẩm “Đường cách mệnh” (1927), “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Cần, kiệm, liêm, chính” (1949), “Đạo đức cách mạng” (1958), “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) và “Di chúc” (1965-1969). Người cán bộ cách mạng có đạo đức thì khi gặp khó khăn, gian khổ cũng không chùn bước; khi thuận lợi, thành công cũng không tự mãn, kiêu ngạo. Đối với Đảng ta, một Đảng cầm quyền, đạo đức cách mạng là nền tảng tinh thần của Đảng, giúp Đảng thêm trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo tin cậy của toàn dân, toàn xã hội.

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, người cán bộ cách mạng cần phải có những chuẩn mực đạo đức cơ bản sau: a) Trung với nước, hiếu với dân; b) Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; c) Nhân, nghĩa, trí, dũng, tín.

1.1. Trung với nước, hiếu với dân

Thời Phong kiến quan niệm rằng: Trung là trung thành với cá nhân Vua Chúa; Hiếu là hiếu với cha mẹ. Theo Bác, Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân; Hiếu không những chỉ hiếu với cha mẹ, mà còn là hiếu với nhân dân, tuyệt đối trung thành phục vụ nhân dân, lấy “dân làm gốc”, vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ, công bộc của dân. Người yêu cầu cán bộ cách mạng phải “tận trung với nước, tận hiếu với dân”, như vậy mới được dân tin yêu, mến phục, do đó mà hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của mình.

1.2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Hồ Chí Minh khái quát những phẩm chất đạo đức cơ bản của người cán bộ Đảng viên trong 8 chữ: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Người chỉ ra rằng: Để xây dựng một bộ máy Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, không có hiện tượng tham ô, lãng phí đòi hỏi mỗi cán bộ Đảng viên phải triệt để thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Người nói:

Trời có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính

Thiếu một mùa không thành trời

Thiếu một phương không thành đất

Thiếu một đức không thành người. (S.đ.d, t.5, tr.631)

Người đã viết hẳn một cuốn sách giải thích 4 chữ cần, kiệm, liêm, chính với bút danh Lê Quyết Thắng (1949). Riêng chữ Cần , Người phân tích cả nghĩa rộng và hẹp: Cần không chỉ là cần cù siêng năng, mà còn phải biết làm việc có kế hoạch, có sự phân công, tính toán khoa học, lao động có năng suất cao, cải tiến kỹ thuật, sáng tạo, đạt hiệu quả tốt nhất. Kiệm là không xa xỉ, hoang phí cả tiền của lẫn thời gian. Liêm là trong sạch, không tham lam, không tham tiền của, địa vị, danh lợi; Chính là không dối trá, tà ý, lòng dạ ngay thẳng, đứng đắn.

 Chí công vô tư theo quan điểm của Bác là: hết sức, hết lòng lo cho công việc chung của tập thể, của Đảng, của dân; hết sức vì sự công bằng, đặt lợi ích của tập thể, của Đảng lên trên lợi ích cá nhân, riêng tư.

Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” Người nhấn mạnh: Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm của đạo đức cách mạng và chủ nghĩa xã hội, “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”.

Tuy nhiên, ta cần phân biệt rõ các khái niệm “chủ nghĩa cá nhân”, “ lợi ích cá nhân”, và “cá nhân” để tránh sự nhầm lẫn, tránh sa vào âm mưu xuyên tạc bản chất của chế độ ta của các thế lực thù địch. Hồ Chí Minh là người có lòng yêu nước thương dân sâu sắc, Người hết sức tôn trọng cá nhân, các lợi ích, các quyền chân chính của mỗi cá nhân con người. Người từng khẳng định: Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là dày xéo lên lợi ích cá nhân. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không có gì là xấu cả. Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục khẳng định rõ thêm: Mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải làm sao thỏa mãn được những lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động, trước hết là lợi ích vật chất. Coi đó là một trong những động lực cơ bản thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

1.3. Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Tín

Theo Bác, Nhân - có nghĩa là phải giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu đồng bào đồng chí, hết lòng giúp đỡ mọi người, kiên quyết chống lại những gì có hại cho Đảng, cho dân, cho nước.

Nghĩa - là làm việc chính, đúng đắn, trung thành với lý tưởng của Đảng, của dân tộc với tinh thần “trước sau như một”, không giấu giếm tổ chức Đảng và tập thể. Người có Nghĩa là người biết ăn ở trước sau, không hai mặt, không phản bội, không làm điều gì mờ ám,  tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với đồng chí đồng bào.

Trí - là trí tuệ, đầu óc phải minh mẫn, sáng suốt, không vì lợi riêng mà mờ mắt; phải thường xuyên bổ sung, nâng cao kiến thức, trình độ lý luận chính trị - khoa học để giải quyết đúng đắn những vấn đề cách mạng giao (Biết xét người, biết xét việc, trọng dụng người tài, giải quyết công việc có hiệu quả cao).

Dũng - là dũng cảm, kiên định, không sợ khó khăn, gian khổ, hiểm nguy; nếu cần cũng phải sẵn sàng hy sinh cả tính mạng cho Đảng, cho Tổ quốc.  

Tín - Là lòng tin, là uy tín, danh dự. Nói phải đi đôi với làm, lý thuyết phải gắn liền với hành động. Mất lòng tin, nhân dân sẽ không tin vào cán bộ cách mạng, cán bộ cũng không lãnh đạo được nhân dân.

2. Đạo đức người cán bộ Tòa án theo lời dạy của Bác

2.1. Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư

Tháng 02/1948, Hội nghị Tư pháp toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Việt Bắc. Dù bận rộn trăm công nghìn việc, lo chỉ đạo kháng chiến, nhưng Bác vẫn quan tâm gửi thư tới Hội nghị. Bác dặn dò trong thư rằng: “Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của Chính quyền, cho nên càng phải tinh thành đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh những mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì quyền lợi nhỏ mà hại đến quyền lợi to và chung, cho cả tư pháp và hành chính.

Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” cho nhân dân noi theo” (Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, 1958, t.1, tr.235).

Từ năm 2008 cho tới nay, Ngành Tòa án nhân dân luôn nhắc tới lời dạy của Bác “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” trong các văn bản và trong các phong trào thi đua yêu nước, xem đó là một tiêu chuẩn đạo đức cho  mỗi cán bộ, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án noi theo để rèn luyện trong công tác. Nhưng để hiểu tường tận, chuẩn xác về ý nghĩa của những lời Bác dạy, không phải ai cũng hiểu đầy đủ, chính xác.

Phụng công, thủ pháp - là những từ gốc Hán - Việt, vào những năm 1948 nhân dân ta thường dùng. Phụng - là phụng sự, là phục vụ vô điều kiện. Phụng công là phụng sự vô điều kiện đối với việc công, việc nước, việc dân. Thủ - là tuân thủ, phục tùng nghiêm ngặt. Thủ pháp là tuân thủ nghiêm công pháp, pháp luật.

Ý nghĩa câu này là hết lòng phục vụ công việc của Nhà nước, của quốc gia, của nhân dân với tinh thần “thượng tôn pháp luật”; trong hoạt động nghiệp vụ phải đặt lợi ích của Nhà nước, của nhân dân lên trên hết, bất luận lý do gì cũng phải tuân theo các quy định của pháp luật, không được làm trái quy định pháp luật.

Đối với người cán bộ Tòa án, “Phụng công, thủ pháp” ngày nay đã được cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 5  Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân (Pháp lệnh năm 2002, sửa đổi bổ sung năm 2011): “Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa” và tại Điều 13 của Pháp lệnh: “Thẩm phán phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt cộng đồng, tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật.”

2.2. Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân

Tại Hội nghị Học tập của cán bộ Ngành Tư pháp (1950), Bác đã trực tiếp đến dự Hội nghị và chỉ giáo nhiều điều quý báu đối với cán bộ Tòa án. Bác đã dành nhiều thời gian để phân tích về những điều khác biệt giữa luật pháp của phong kiến, đế quốc và luật pháp của chế độ cách mạng Việt Nam dân chủ cộng hòa. Về đạo đức của người cán bộ Tòa án trong hoạt động xét xử, Bác nói: “…Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng chưa đủ. Không thể chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung Tòa án. Phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân. Giúp dân, học dân để giúp mình thêm liêm khiết, thêm công bằng. Thêm nữa là phải luôn luôn cố gắng học tập lý luận, học tập đường lối chính sách của Chính phủ… Tóm lại, các chú phải công bằng, liêm khiết, trong sạch, gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”(Nhà nước và Pháp luật, Nxb Lao động, 1971, t.III, tr.138-142).

Từ thời xa xưa, trên quan điểm lấy dân làm gốc, Nguyễn Trãi đã từng nói: “Dân là người đẩy thuyền, dân cũng là người lật thuyền”. Lê Nin cũng đưa ra luận điểm bất hủ: “Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Kế thừa những tinh hoa đó, Hồ Chí Minh đã nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Người chỉ giáo rằng: “Người cách mạng cần biết đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, t.5. tr.65). Tư tưởng nhất quán trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là vì nhân dân: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân (Hồ chí Minh toàn tập, t.7. tr.544).

Tại khoản 1,2 Điều 2 của Hiến pháp năm 2013 đã chỉ rõ:

1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.”.

Để đảm bảo thực hiện được mục tiêu tốt đẹp này, khoản 2 Điều 8 của Hiến pháp hiện hành còn quy định:“ 2. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền. Trong bài Dân vận (1949), Hồ Chí Minh đã viết: “Cán bộ Chính quyền phải là người trước hết phải làm công tác dân vận”.

 Trở lại lời dạy của Người đối với cán bộ Tòa án “Phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”, chúng ta thấy tính nhất quán trong tư tưởng vì nhân dân của Bác. Cán bộ Nhà nước nói chung, Cán bộ Tòa án nói riêng nếu xa dân, không hiểu dân, không giúp dân thì chẳng những không hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, mà còn không xứng đáng với lòng tin của Đảng, của nhân dân đã giao phó cho mình trọng trách, nhiệm vụ thay mặt nhân dân để làm công tác Nhà nước (đặc biệt đối với cán bộ Tòa án, những người thay mặt Nhà nước, “Nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” để tuyên những bản án, giữ nghiêm kỷ cương, pháp luật). Mặt khác, nếu xa dân, quan liêu hách dịch, nhũng nhiễu là đi ngược lại với quy luật của đấu tranh cách mạng, trở thành những “ông quan” phong kiến trong mắt nhân dân, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với bản chất tốt đẹp của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 Lời dạy “Phụng công, thủ pháp” của Người đối với cán bộ Tòa án thật sáng suốt, chí lý. Cụ thể hóa những tinh thần chỉ giáo của Người, để đảm bảo cho việc thực hiện lời dạy đó của Bác, Điều 13 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân hiện hành (năm 2002, sửa đổi bổ sung năm 2011) quy định rõ: “Thẩm phán phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến Pháp, pháp luật”; Điều 15 còn chỉ rõ những việc Thẩm phán không được làm:

“1) Những việc mà pháp luật quy định cán bộ, công chức không được làm;

2) Tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác không đúng quy định của pháp luật;

3) Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ án;

4) Đem hồ sơ vụ án hoặc tài liệu trong hồ sơ vụ án ra khỏi cơ quan, nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền;

5) Tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định.”

Nếu Thẩm phán vi phạm những quy định nêu trên (Điều 15), tại Điều 30 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân hiện hành đã quy định các hình thức xử lý như sau:

“…Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, Thẩm phán có thể bị cách chức chức danh Thẩm phán khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Vi phạm trong công tác xét xử, giải quyết những việc thuộc thẩm quyền của Tòa án;

b) Vi phạm quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh này;

c) Bị kỷ luật bằng hình thức cách chức chức vụ quản lý đang đảm nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;

d) Vi phạm về phẩm chất đạo đức;

đ) Có hành vi vi phạm pháp luật khác.”

Cụ thể hóa các quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành “Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức Ngành Tòa án nhân dân” (số 1253/2008/QĐ-TCCB ngày 18/09/2008).

Tại Điều 1 của Quy tắc này quy định:

- “Cán bộ, công chức Ngành Tòa án nhân dân phải thực sự “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” (khoản1);

- Thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước (khoản 2);

- Thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật; nghiêm chỉnh chấp hành và thực hiện đúng các quy chế, quy định làm việc và nội quy cơ quan (khoản 3);

- Có quan hệ tốt với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân (khoản 6);

- Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện để nânh cao năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, ứng xử có văn hóa để hoàn thành nhiệm vụ, công vụ được giao (khoản 4)”.

Đồng thời, bản “Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức Ngành Tòa án nhân dân” còn quy định cụ thể các hành vi ứng xử, những việc phải làm và không được làm của cán bộ, công chức Ngành Tòa án trong các lĩnh vực công tác, các mối quan hệ trong và ngoài Ngành Tòa án: Ứng xử trong việc thực hiện nhiệm vụ giải quyết, xét xử các loại vụ án; Ứng xử trong thực hiện tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; ứng xử trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống tham nhũng; Ứng xử trong cơ quan, đơn vị; ứng xử tại nơi cư trú; ứng xử với các cơ quan, tổ chức có liên quan và cơ quan thông tin báo chí; ứng xử với cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài; Ứng xử trong gia đình; Ứng xử tại nơi công cộng…

Tư tưởng về Đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh đối với cán bộ, Đảng viên nói chung, đối với cán bộ Ngành Tòa án nhân dân nói riêng (đặc biệt là lời dạy của Người đối với cán bộ, công chức Ngành Tòa án) là kim chỉ Nam quý báu trong việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao bản lĩnh chính trị của người cán bộ Nhà nước, nhằm phục vụ Đảng, nhân dân ngày càng tốt hơn, xứng đáng là những cán bộ “công bộc” của một Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

Những ý nghĩa, tinh thần từ Lời dạy của Bác không phải những gì cao xa, xa lạ  đối với mỗi chúng ta, mà chính là những quy định cụ thể, rõ ràng trong Hiến pháp, Luật Cán bộ, công chức, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân, trong các quy định của Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức Ngành Tòa án nhân dân.

Học tập và làm theo tấm gương Đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, Thẩm phán, công chức Ngành Tòa án nhân dân phải thấm nhuần ý nghĩa nhân văn trong các lời dạy của Người, có kế hoạch tự giác rèn luyện phẩm chất đạo đức, làm theo Người từ những việc nhỏ trong sinh hoạt và công tác, chấp hành nghiêm túc mọi quy định của pháp luật và các quy định của Ngành, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chính trị được giao.

III. PHƯƠNG HƯỚNG RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CỦA THẨM PHÁN, CÁN BỘ, CÔNG NGÀNH TÒA ÁN NHÂN DÂN

1. Việc tự giác rèn luyện phẩm chất đạo đức của mỗi cán bộ, công chức Ngành Tòa án nhân dân

Việc hình thành nhân cách con người nói chung, rèn luyện phẩm chất đạo đức của mỗi người nói riêng thường là kết quả của ba yếu tố: Môi trường học tập, công tác; Sự quản lý, giáo dục của xã hội, cơ quan, nhà trường; Sự tự giác rèn luyện, cố gắng phấn đấu bền bỉ, tinh thần nghị lực trong quá trình hoạt động lâu dài trong suốt cuộc đời của mỗi con người. Trong đó, yếu tố tự giác phấn đấu vươn lên, tự ý thức trong rèn luyện của mỗi bản thân con người là yếu tố quyết định việc hình thành một con người có nhân cách, có đạo đức.

1.1. Thường xuyên nâng cao trình độ lý luận chính trị, nghiên cứu các văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của Ngành Tòa án

 Việc chú trọng, thường xuyên đọc, nghiên cứu các văn bản nêu trên giúp cán bộ, công chức cập nhật các chủ trương, chính sách của Đảng; các sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật, không những nâng cao tính nhạy bén, bản lĩnh chính trị, mà còn bổ sung kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, giúp bản thân vững vàng trong công tác xét xử, xử lý đúng đắn những tình huống Chính trị - pháp lý trong hoạt động nghiệp vụ.

1.2. Chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng, của Ngành Tòa án nhân dân, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

 Biểu hiện tối thiểu, trước hết của “bộ mặt” đạo đức con người là ý thức chấp hành kỷ luật, nội quy nơi sinh hoạt, học tập, công tác. Một người chấp hành kỷ luật lỏng lẻo, không tôn trọng những quy định của tập thể, của cộng đồng thì không thể xem là có đạo đức tốt được. Đồng thời, việc hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, chính là kết quả quan trọng của quá trình rèn luyện phẩm chất đạo đức, là sự cố gắng, nỗ lực vượt bậc, vượt mọi khó khăn để làm tốt nhất công việc của mình với thời gian, chất lượng và hiệu quả cao. Chấp hành kỷ luật của Đảng, Chính quyền, Đoàn thể cùng những quy định của Ngành Tòa án nhân dân cũng chính là tiền đề cho việc phấn đấu hoàn thành tốt, đạt kết quả cao nhiệm vụ chính trị được phân công. Đây chính là hai yếu tố có tác dụng qua lại, tương hỗ lẫn nhau.

1.3. Rèn luyện đạo đức theo gương Bác bằng những công việc hàng ngày trong sinh hoạt và công tác

Trong sinh hoạt và công tác, mỗi cán bộ, công chức, Thẩm phán Tòa án cần tự giác định ra cho mình một kế hoạch rèn luyện đạo đức theo gương Bác Hồ, bằng việc học tập Bác từ những hành động, những việc nhỏ hàng ngày, như: Tiết kiệm thời gian, tài sản công; tận tụy trong công việc; chống thói tự tư tự lợi; chống ba hoa; nói phải đi đôi với làm; “chí công vô tư” từ trong suy nghĩ, cho đến hành động; chống tham ô, lãng phí (cả tiền bạc và thời giờ); gần gũi quần chúng, nhân dân, lắng nghe ý kiến dân và giúp dân nâng cao kiến thức pháp luật; không tiếp đương sự ngoài nơi quy định; không can thiệp trái pháp luật vào những vụ án mà mình không có nhiệm vụ giải quyết; không nhũng nhiễu, hách dịch với dân.v.v… Từ những kết quả đó, chúng ta thấy rằng: Học tập đạo đức của Bác không phải là việc khó khăn, cao xa, mà rèn luyện đạo đức theo gương Bác chính là bắt đầu từ những việc nhỏ nhất, giản dị nhất trong sinh hoạt và công tác, là việc chấp hành nghiêm túc mọi quy định của pháp luật, quy chế công tác của Ngành, hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ chính trị được phân công.

2. Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát của cấp Ủy, Chính quyền, Đoàn thể đối với cán bộ, công chức trong đơn vị

2.1. Thông qua sinh hoạt Chi bộ, Chính quyền, Đoàn thể

Để thường xuyên giáo dục, quản lý, kiểm tra, giám sát việc rèn luyện đạo đức của cán bộ, Đảng viên trong đơn vị, cấp Ủy, Chính quyền, Đoàn thể cần duy trì sinh hoạt thường kỳ, có chất lượng; tập trung vào nội dung rèn luyện bản lĩnh chính trị, quan tâm đến diễn biến tư tưởng của từng cán bộ công chức; xem xét đánh giá chính xác, khách quan quá trình phấn đấu rèn luyện, chấp hành nội quy kỷ luật cũng như kết quả công tác, trên cơ sở đó kịp thời đóng góp xây dựng, uốn nắn những lệch lạc về nhận thức, tư tưởng của từng người.

2.2. Đánh giá đúng đắn kết quả công tác chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức

Kết quả công tác là biểu hiện tập trung của việc rèn luyện đạo đức của cán bộ, Đảng viên, công chức Nhà nước. Do đó, việc đánh giá phải khách quan, thận trọng, tránh thiên vị, thiếu công bằng, dễ dẫn đến phản tác dụng trong phong trào thi đua chung, cũng như việc rèn luyện đạo đức của cá nhân và tập thể.

Kịp thời động viên, khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích rèn luyện tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyên môn; đồng thời giữ nghiêm kỷ luật, phê bình, xử lý nghiêm minh những biểu hiện lệch lạc, vô kỷ luật, vi phạm quy chế, quy định của Ngành Tòa án nhân dân.

2.3. Phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đảng nơi cư trú, lắng nghe ý kiến của quần chúng

Việc quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức không chỉ bó hẹp trong phạm vi cơ quan, đơn vị. Cần thường xuyên phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đảng nơi cán bộ, công chức cư trú, nắm bắt đầy đủ những biểu hiện của cán bộ, công chức về mọi mặt. Đồng thời, định kỳ lấy ý kiến đóng góp của quần chúng trong đơn vị về việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ trong công việc, trong sinh hoạt, lối sống của cán bộ, công chức, giúp họ nhìn nhận rõ hơn về những khuyết điểm, hạn chế của bản thân để có phương hướng khắc phục, sửa chữa có hiệu quả.

BÀI 4:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG

VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

I. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CÔNG TÁC DÂN VẬN

1. Khái niệm

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những việc Chính phủ và đoàn thể giao cho” (Trích Bài báo “Dân vận” Bác viết ngày 15/10/1949).

2. Vị trí, vai trò công tác dân vận

Từ khi có Đảng, Đảng ta luôn quan tâm công tác dân vận của Đảng

- Ngày 15/10/1949, Bác Hồ đã viết bài báo “Dân vận” đăng trên Báo Sự thật, Bác khẳng định: “Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.

- Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII) đã quyết định lấy ngày 15/10 hàng năm là ngày truyền thống dân vận của Đảng.

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc qua các thời kỳ đều định hướng rõ công tác dân vận:

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết về công tác dân vận để lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận của Đảng qua các thời kỳ cách mạng.

- Nghị quyết số 08B-NQ/HNTW, ngày 27/3/1990 của Ban Chấp hành Trung ương về “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”.

- Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 29/6/1992 của Ban Chấp hành Trung ương về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động nhân dân, củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”.

- Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 14/01/1993 của Ban Chấp hành Trung ương về “Công tác thanh niên trong thời kỳ mới”.

- Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 30/7/1994 của Ban Chấp hành Trung ương về “Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới”.

- Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 của Ban Chấp hành Trung ương về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh”.

- Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 18/3/2002 của Ban Chấp hành Trung ương về “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông  nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010”.

- Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

- Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/01/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

- Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

- Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”.

- Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 06/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về “Xây dựng đội ngũ tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

- Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 09/02/1991 của Bộ Chính trị về “Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên”.

- Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong thời kỳ mới”.

- Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị về “Chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”.

- Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 17/3/1995của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới để phát huy vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước”.

- Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 08/01/2002 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cựu chiến binh VN trong giai đoạn cách mạng mới”.

- Nghị quyết số 36 -NQ/TW, ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”.

- Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

- Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 09/12/2011 của Bộ Chính trị về “Xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”.

Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 18/2000/CT-TTg, ngày 21/9/2000 về “Tăng cường công tác dân vận”. Sau 10 năm thực hiện, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo sơ kết Chỉ thị này.

Ngày 25/02/2010, Bộ Chính trị (Khóa X) ra Quyết định số 290 – QĐ/TW “về ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”, Bộ Chính trị khẳng định: “Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta, là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, nhà nước với nhân dân”.

Trong chương trình kỳ họp thứ 7 (4/2013) Trung ương dự kiến sẽ bàn và ra nghị quyết “về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong thời kỳ mới”.

Rõ ràng qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta đều khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của công tác dân vận (là công tác có nhiều nghị quyết nhất).

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

1. Tình hình một số giai tầng xã hội

 Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường phát triển mạnh đã tác động sâu sắc đến cơ cấu, chất lượng các tầng lớp nhân dân.

1.1. Giai cấp công nhân

Giai cấp công nhân ngày càng đông đảo theo quá trình CNH, HĐH đất nước, hiện có 12 triệu người, đa dạng về cơ cấu, tăng nhanh ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước, chất lượng một bộ phận công nhân được nâng lên.

Tuy nhiên, do chủ yếu xuất thân từ nông dân nên ý thức, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động còn hạn chế, tỷ lệ được đào tạo nghề còn thấp. Tình trạng đình công, bãi công, ngừng việc tập thể ngày càng tăng, chủ yếu tập trung vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (trên 70%), doanh nghiệp tư nhân (23%), chủ yếu đòi tăng lương và cải thiện đời sống cho người lao động.

1.2. Giai cấp nông dân

Giai cấp nông dân hiện chiếm 67% dân số nhưng xu hướng ngày càng giảm do lao động chuyển dịch sang làm công nghiệp và dịch vụ. Trong những năm qua, nhờ có chính sách khoán hộ, giao quyền sử dụng đất nông nghiệp, chính sách miễn thuế nông nghiệp, miễn thủy lợi phí và tăng đầu tư cho nông nghiệp nên nông dân phấn khởi, hăng hái sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, trong quá trình CNH, HĐH, nguồn đất canh tác thu hẹp, nhiều nông dân phải chuyển đổi nghề nghiệp nên cuộc sống không ổn định. Hiện tại, dịch bệnh cũng diễn biến phức tạp, ô nhiễm môi trường tăng, giá cả thất thường nên nông dân gặp nhiều khó khăn trong sản xuất. Ở một số địa phương, chính sách đền bù, giải tỏa mặt bằng đất đai thiếu nhất quán, thiếu dân chủ nên nông dân khiếu kiện gia tăng, có nơi trở thành “điểm nóng”.

1.3. Đội ngũ trí thức

Hiện nay, nước ta có khoảng 3 triệu người có trình độ đại học trở lên, chiếm gần 5% lực lượng lao động cả nước, trong đó có trên 9.000 giáo sư, phó giáo sư, trên 24.000 tiến sỹ, 101.000 thạc sỹ và khoảng 3 triệu sinh viên đang theo học ở các trường đại học.

Đội ngũ trí thức có đóng góp lớn với đất nước, nhất là trên lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, công nghiệp, nông nghiệp,… Tuy nhiên có một bộ phận có nhiều tâm tư do chính sách đãi ngộ và môi trường, điều kiện công tác hạn chế phát huy sáng tạo…

1.4. Đội ngũ doanh nhân

Tính đến ngày 31/12/2011, cả nước có 543.963 doanh nghiệp với tổng số vốn trên 6 triệu tỷ đồng. Đội ngũ doanh nhân đã có đóng góp lớn cho phát triển kinh tế, góp phần vào các chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, đóng góp ngân sách nhà nước…

Tuy nhiên, nhìn chung một bộ phận doanh nhân chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, hạn chế về kiến thức kinh doanh, luật pháp… Trong bối cảnh suy thoái kinh tế, đến hết 9/2012, có hơn 200.000 doanh nghiệp ngừng sản xuất, kinh doanh, phá sản, riêng 9 tháng đầu năm 2012 có 40.600 doanh nghiệp ngừng việc, phá sản ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế đất nước và đời sống công nhân, người lao động.

1.5. Người Việt Nam ở nước ngoài

Hiện người Việt Nam ở nước ngoài có hơn 4,5 triệu người (kể cả đồng bào định cư ở nước ngoài, người đi lao động xuất khẩu, lưu học sinh, phụ nữ lấy chồng người nước ngoài). Đồng bào ở nước ngoài vẫn luôn hướng về tổ quốc, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc và một bộ phận doanh nhân, trí thức có đóng góp lớn cho kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ… của nước nhà (lượng kiều hối hằng năm khoảng 9 tỷ USD).

Tuy nhiên, có một bộ phận nhỏ còn định kiến, mặc cảm với đất nước do thiếu thông tin hoặc do tác động của những phần tử cực đoan, chống đối…

2. Một số động thái trên thế giới và khu vực tác động đến các tầng lớp nhân dân hiện nay

2.1. Sự phân hóa, xung đột giàu - nghèo, xung đột giữa dân chúng với giới cầm quyền diễn ra quyết liệt ở nhiều quốc gia

Những vấn đề này đang nóng lên, dẫn đến hệ lụy nghiêm trọng về mặt xã hội  trên phạm vi rộng lớn. Khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế toàn cầu 2008 - 2009 và những khó khăn, rủi ro, biến động của kinh tế thế giới sau khủng hoảng đã trút gánh nặng lên đời sống nhân dân lao động, hằng trăm triệu người rơi vào cảnh thất nghiệp, đói nghèo, sự chênh lệch và khoảng cách giàu - nghèo ngày càng tăng thêm.

(Ở Mỹ, theo kết quả điều tra của Viện Chính sách Kinh tế công bố ngày 12/9/2012, năm 2010 thu nhập của 1% những người giàu nhất cao gấp 288 lần thu nhập của các gia đình trung bình (năm 1962, mức chênh lệch này là 125 lần). Hiện nay 1% người giàu làm chủ 40% tài sản nước Mỹ, 80% người thu nhập thấp làm chủ 7%).

Ở Trung Quốc, chỉ số Gini là chỉ số thông dụng được dùng để đo sự bình đẳng về thu nhập, được đánh giá là vào loại cao của thế giới (chỉ số này ở Trung Quốc là 0,49 (năm 2009), 0,61 (năm 2010). Theo đánh giá chung, quốc gia nào có chỉ số Gini quá 0,5 là mức chênh lệch thu nhập xã hội đã đến mức báo động).

2.2. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhất là khu vực Châu Á

Nhiều cuộc xung đột vũ trang, những cuộc khủng bố đẫm máu đã nổ ra bắt nguồn từ mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc gắn với tôn giáo mà tâm điểm là một số quốc gia ở Trung Đông, Trung Á, Đông Nam Á…

2.3. Sự lên ngôi của truyền thông đại chúng và tác động ngày càng lớn của internet và mạng xã hội đến tư tưởng, hành vi của người dân

Truyền thông đại chúng, đặc biệt là mạng internet, mạng xã hội ngày càng tham gia trực tiếp vào đời sống chính trị - xã hội của nhiều quốc gia, nhiều trường hợp trở thành “ngòi nổ” của các phong trào chính trị rộng lớn. Ở phương tây, mạng xã hội được sử dụng như một phương thức chiến tranh tâm lý để tập hợp, kích động các lực lượng xã hội nổi dậy chống chế độ. Năm 2010, vụ mạng Wikileake tiết lộ một khối lượng lớn những bí mật ngoại giao, quân sự của lầu năm góc, trong đó có 250.000 bức điện mật của các đại sứ Mỹ đã làm chấn động dư luận quốc tế, gây lo ngại cho giới cầm quyền các nước. “Mùa xuân A rập” còn được gọi là cuộc cách mạng truyền thông.

3. Một số động thái thực tiễn trong nước tác động đến các tầng lớp nhân dân hiện nay

3.1. Việc làm, thu nhập của nhân dân sụt giảm, phân hóa giàu – nghèo có xu hướng gia tăng

Những khó khăn về kinh tế, tình trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng, tín dụng, sự đóng băng của thị trường bất động sản, tình trạng phá sản, đóng cửa, ngừng sản xuất của hàng chục ngàn doanh nghiệp… đã làm cho số người thất nghiệp tăng lên. Năm 2011, số người đăng ký bảo hiểm thất nghiệp tăng 7,7% so với năm 2010…

Theo điều tra của Tổng Cục Thống kê, mức chênh lệch về thu nhập, giữa nhóm có thu nhập cao nhất và nhóm có thu nhập thấp nhất ở nước ta năm 2008 là 8,9 lần, năm 2010 là 9 lần. Năm 2011, theo thông tin trên thị trường chứng khoán, số người giàu có tài sản trên 1 triệu USD ở nước ta là 170 người (tăng 33% so với năm 2010).

3.2. Gia tăng những bức xúc của xã hội

Trong nhiều bức xúc của nhân dân, có 4 vấn đề bức xúc nhất:

- Nạn tham nhũng;

- Khiếu kiện của nhân dân về đất đai;

- Thiếu việc làm;

- Tụt hậu, suy thoái về kinh tế.

(Kèm theo bảng điều tra dư luận xã hội của Ban Tuyên giáo Trung ương)

3.3. Sự thiếu tin tưởng, thiếu phấn khởi, đồng thuận của nhân dân

Theo kết quả thăm dò dư luận, tỷ lệ người được hỏi về sự quan tâm của Đảng, nhà nước đối với công nhân, tỷ lệ người được hỏi cho rằng được quan tâm nhiều chỉ chiếm 20%, trong khi đó cho rằng Đảng, nhà nước có quan tâm nhưng không nhiều chiếm 52%, tỷ lệ cho là không được quan tâm hoặc khó trả lời chiếm 28%.

III. MỘT SỐ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG

1. Thuận lợi

a) Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới đã tạo ra thế và lực mới, mở ra cục diện mới phát triển của đất nước, đem lại những lợi ích thiết thực đối với nhân dân.

b) 83 năm lãnh đạo cách mạng, trực tiếp là hơn 25 năm đổi mới đất nước, Đảng ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệp quí báu, trong đó có kinh nghiệm công tác dân vận.

c) So với trước đây, trình độ nhận thức chính trị, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta được nâng cao hơn.

2. Khó khăn

a) Kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, bên cạnh những nhân tố tích cực, tiến bộ là chủ yếu thì mặt trái, mặt tiêu cực hàng ngày, hàng giờ tác động đến đời sống, tâm tư, tình cảm của nhân dân…

b) Những khó khăn nhiều mặt về kinh tế - xã hội, về đời sống của các tầng lớp nhân dân do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế toàn cầu và những hạn chế trong quản lý kinh tế, xã hội chậm được khắc phục…đã tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận quần chúng nhân dân.

c) Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, nhà nước, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả, kết quả công tác dân vận của Đảng.

d) Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để kích động, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” để mưu đồ thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, phá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa.

IV. MỘT SỐ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

1. Tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước

Thông qua công tác tuyên truyền, quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước góp phần nâng cao nhận thức cho mỗi người dân, để mỗi người dân chủ động, tự giác chấp hành và thực hiện…

2. Vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Đoàn kết không chỉ là nhiệm vụ cơ bản của công tác dân vận mà còn là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược của cách mạng Việt Nam.

Bác Hồ đặc biệt quan tâm vấn đề đại đoàn kết dân tộc và Bác khẳng định như một chân lý:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công”

Theo Bác: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân mà đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết, nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân” (Hồ Chí Minh, T7, trang 134).

Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Bác viết: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng ta và nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải gìn giữ sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Trong công tác dân vận, ngoài việc Đảng ta rất quan tâm vận động giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân, Đảng ta luôn chăm lo công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số và vận động đồng bào tôn giáo.

2.1. Vận động đồng bào các dân tộc thiểu số

a) Các dân tộc thiểu số của nước ta có một số đặc điểm:

- Các dân tộc nước ta có truyền thống đoàn kết trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước.

- Các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn rộng, có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái.

- Các dân tộc thiểu số ở nước ta có quy mô dân số, trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều, sống vừa phân tán, vừa xen kẽ.

Nước ta có 54 dân tộc. Tính đến 1/4/2009 cả nước có 85.846.997 người, dân tộc Kinh chiếm 85,7%, 53 dân tộc thiểu số có 12.252 triệu người (chiếm 14,3%); trong số các dân tộc thiểu số có 1 số dân tộc có trên 1 triệu dân, có 5 dân tộc số dân dưới 1.000 người.

- Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, làm nên sự phong phú, đa dạng trong thống nhất văn hóa Việt Nam.

Các giá trị vật chất, tinh thần như tiếng nói, chữ viết, văn học, nghệ thuật, trang phục, tập quán, tín ngưỡng đã tạo nên bản sắc văn hóa của từng dân tộc.

b) Quan điểm của Đảng, nhà nước về dân tộc (Nghị quyết 24-NQ/TW)

- Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

- Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển.

- Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh, quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi, gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số…

- Ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái…

- Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các tầng lớp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.

c) Một số nhiệm vụ và giải pháp thực hiện chính sách dân tộc hiện nay

- Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết số 24-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 (Khóa IX) về công tác dân tộc và các chính sách của Nhà nước trên các lĩnh vực như: chương trình xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội theo ngành, lĩnh vực, chính sách trợ giúp kinh tế - xã hội, chính sách phát triển kinh tế - xã hội theo vùng dân tộc, chính sách đối với một số dân tộc đặc thù.

- Tập trung nguồn nhân lực cho đầu tư phát triển và hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số.

- Phát triển đa dạng các mô hình kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa mà mỗi vùng miền có lợi thế.

- Chú trọng các chính sách phát triển nguồn nhân lực.

- Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đồng bào dân tộc thiểu số.

- Tiếp tc tuyên truyền, nâng cao kiến thức quốc phòng – an ninh cho cán bộ, nhân dân kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh. Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.

- Tập trung củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh.

- Thường xuyên kiểm tra, sơ kết, tổng kết đánh giá tình hình nhân dân và kết quả, hiệu quả thực hiện các chính sách của Đảng, nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.

2.2. Vận động đồng bào tôn giáo

a) Một số đặc điểm:

- Việt Nam là một quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo đang tồn tại. Hiện có khoảng 25 triệu người theo các tôn giáo khác nhau.

- Hiện có 37 tổ chức tôn giáo (thuộc 13 tôn giáo khác nhau) được nhà nước công nhận tổ chức hoặc cho đăng ký hoạt động.

- Các tôn giáo du nhập từ ngoài vào Việt Nam đều có sự tiếp biến phù hợp với tâm thức tín ngưỡng, văn hóa của người Việt Nam và trở thành tôn giáo của dân tộc.

- Việt Nam có một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số ở 3 khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ theo tôn giáo. Về mặt văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo đồng bào các dân tộc thiểu số ở 3 khu vực nói trên có những nét riêng rất độc đáo tạo nên nền văn hóa Việt Nam rất đa dạng.

- Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam đa số là người lao động, chủ yếu là nông dân, bản chất cần cù lao động, có lòng yêu nước, đồng thời họ cũng có niềm tin tôn giáo sâu sắc và có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo bình thường, sống “tốt đời, đẹp đạo”.

- Ở Việt Nam có 1 lực lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp khá đông đảo.

- Các tôn giáo ở Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi và ít nhiều có những tác động qua lại thông qua những mối quan hệ đó, trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển.

- Những năm gần đây, các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng lợi dụng vấn đề tôn giáo để lôi kéo quần chúng tín đồ tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng nước ta.

b) Một số quan điểm của Đảng về tôn giáo

- Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

- Đảng, nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo.

- Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

- Công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị.

- Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ…Việc theo đạo và truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật…

c) Nhiệm vụ vận động quần chúng tôn giáo

- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào có đạo, giúp đồng bào nâng cao trình độ về mọi mặt…

- Vận động đồng bào có đạo, chức sắc tôn giáo tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tham gia vào các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, chăm lo đời sống cán bộ là người có đạo.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.

- Quan tâm vận động chức sắc, nhà tu hành.

3. Vận động, hợp tác các tầng lớp nhân dân xây dựng mối quan hệ “máu thịt” giữa nhân dân với Đảng

3.1. Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trở thành một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến thành quả cách mạng

Quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mối quan hệ đặc biệt và rất độc đáo: Đảng vừa là người lãnh đạo, cầm quyền, vừa là người phục vụ nhân dân, còn nhân dân tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng lại là chủ nhân của đất nước.

Bác Hồ đã dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” (Hồ Chí Minh, T10, tr 536).

“Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm được gì hết” (Hồ Chí Minh, T5, tr 238).

Hiện nay, niềm tin của nhân dân đối với Đảng giảm sút.

3.2. Một số nhiệm vụ và giải pháp để tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân

- Đảng, nhà nước tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội để nâng cao thu nhập, cải thiện rõ rệt về những yêu cầu thiết yếu của nhân dân như ăn, ở, học hành, chữa bệnh.vv..

- Tập trung chỉ đạo giải quyết có hiệu quả một số bức xúc nhất của nhân dân như: nạn tham nhũng, tình trạng khiếu kiện về đất đai, thiếu việc làm, tụt hậu về kinh tế  và các tiêu cực khác.

- Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 của Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, sớm ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống hiện nay để mỗi cán bộ, đảng viên làm gương cho nhân dân noi theo…

- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

- Thực hành dân chủ gắn với tăng cường kỷ cương xã hội, phát huy quyền và trách nhiệm của công dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, huy động sức dân gắn với bồi dưỡng sức dân…

4. Tăng cường công tác dân vận chính quyền, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

4.1. Khái niệm chung

Công tác dân vận của chính quyền chính là chức năng, nhiệm vụ là công tác dân vận của các cơ quan, đơn vị và của công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị dịch vụ công từ Trung ương đến địa phương (trong đó có ngành tòa án)…

Các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của mình bằng pháp luật, bằng cơ chế, chính sách, bằng những quy định, quyết định, bằng các dự án, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, thanh tra, kiểm tra giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân,…việc gì cũng liên quan trực tiếp đến dân. Vì thế muốn thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình thì phải có quan điểm vì dân, phải làm dân vận.

4.2. Nội dung của công tác dân vận chính quyền

- Nghiên cứu, soạn thảo, đề ra cá cơ chế, chính sách thực sự vì dân, phù hợp với thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân và tuyên truyền vận động tổ chức cho nhân dân thực hiện.

- Thực hiện tốt cải cách hành chính.

- Chỉ đạo thực hiện tốt Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị về “xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở” và các nghị định của Chính phủ về quy chế dân chủ ở cơ sở.

- Làm tốt việc tiếp dân và kịp thời giải quyết khiếu nại cho nhân dân

- Phối hợp tốt với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân và các lực lượng vũ trang

- Tuyên truyền, quán triệt và cụ thể hóa để thực hiện tốt quyết định 290-QĐ/TW của Bộ Chính trị “về quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”.

5. Vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (chỉ có trên cơ sở kinh tế - xã hội phát triển mới thiết thực nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân - là động lực trực tiếp tập hợp nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân trong tình hình mới).

Ví dụ: phong trào “Ngày vì người nghèo”, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”.vv..

V. TRÁCH NHIỆM THỰC HIỆN CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP

1. Thực hiện trách nhiệm theo Quyết định 290/-TW

- Giáo dục cán bộ, công chức trong các cơ quan tư pháp gương mẫu chấp hành pháp luật. Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân.

- Tiếp tục thực hiện cải cách tư pháp, thực hiện tranh tụng tại phiên tòa theo luật định, bảo đảm công tác điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để oan sai, để lọt tội phạm.

- Bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công dân trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo quy định của pháp luật.

- Giải quyết đúng thời hạn, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tố tụng. Bồi thường danh dự và quyền lợi vật chất cho công dân trong trường hợp bị oan sai theo quy định của pháp luật.

2. Thực hiện quyết định số 1253-QĐ/TCCB, ngày 18/9/2008 “về quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức ngành tòa án nhân dân” của chánh án tòa án nhân dân tối cao (có văn bản).


BÀI 5:

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN VÀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

NGÀNH TÒA ÁN NHÂN DÂN

 

I. TỔNG QUAN VỀ TÒA ÁN, ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN VÀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TÒA ÁN

1. Vị trí, vai trò của Tòa án trong bộ máy Nhà nước

1.1. Chức năng của Tòa án

a) Chức năng của Tòa án trong Bộ máy nhà nước ở các nước trên thế giới

Tòa án của bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng đều có chức năng xét xử. Là một hoạt động của Nhà nước và với vai trò là cơ chế bảo vệ pháp luật của một quốc gia, “xét xử” hiểu theo nghĩa rộng là việc tổ chức thực hiện quyền tư pháp - một trong ba quyền lực cơ bản, đặc trưng của một Nhà nước; theo nghĩa hẹp, “xét xử” được hiểu là việc xem xét chứng cứ, áp dụng pháp luật để đưa ra quyết định về các sự kiện hoặc hành vi pháp lý của các chủ thể trong một quan hệ pháp luật bị vi phạm hoặc tranh chấp và quyết định các biện pháp hoặc chế tài tư pháp đối với các chủ thể đó.

Xét xử có vai trò rất lớn trong việc giữ vững ổn định và phát triển của xã hội. Sự ổn định của trật tự pháp luật trong nước, việc giữ vững kỷ cương xã hội, sự tự do và an toàn của con người... một phần quan trọng phụ thuộc vào hoạt động xét xử của Tòa án. Bằng việc xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, đúng người, đúng tội chẳng những có tác dụng trừng trị các phần tử phạm tội, giáo dục, cải tạo họ mà đồng thời còn góp phần ngăn chặn, phòng ngừa các vi phạm trong xã hội. Bằng việc giải quyết đúng các tranh chấp, Toà án góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá nhân, tạo thuận lợi cho các giao dịch dân sự, kinh tế phát triển lành mạnh.

b) Chức năng của Tòa án trong Bộ máy nhà nước ta qua các bản Hiến pháp

Trong Hệ thống pháp luật của nước ta, các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992; Tòa án luôn được ghi nhận là cơ quan xét xử. Hiến pháp năm 2013, Tòa án được xác định là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp. Như vậy, có thể thấy rằng ở nước ta, Tòa án là cơ quan tư pháp trong Bộ máy nhà nước.

Đánh giá về vị trí, vai trò của tư pháp trong Bộ máy nhà nước, trong Thư gửi Hội nghị tư pháp toàn quốc năm 1948, Hồ Chủ tịch đã căn dặn: “Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của Chính quyền, cho nên càng phải tinh thần đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh những mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì lợi quyền nhỏ và riêng mà hại đến quyền lợi to và chung cho cả tư pháp và hành chính”. Trong Bài nói chuyện tại Hội nghị tư pháp toàn quốc ngày 22-3-1957, Hồ Chủ tịch nói: “tư pháp cần góp phần mình là thực hiện chế độ pháp trị, giữ vững và bảo vệ quyền lợi nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ của ta”.

Theo Hiến pháp năm 2013, thì chức năng, nhiệm vụ của Tòa án được quy định như sau:

1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.

2.  Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định.

3. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.”

1.2. Yêu cầu phát triển của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền 

Với chức năng là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp - một trong ba quyền lực cơ bản, đặc trưng của một Nhà nước, Tòa án là bộ phận không thể thiếu được của bộ máy nhà nước. Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án nhân danh nhà nước, căn cứ vào pháp luật để đưa ra các phán quyết đối với những vấn đề liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực quan trọng nhất như tự do, danh dự, tài sản, nhân thân và cả tính mạng của con người, thể hiện thái độ của Nhà nước đối với những vụ việc cụ thể; bởi vậy, hoạt động xét xử phản ánh trực tiếp và sâu sắc nhất bản chất của Nhà nước. Một hệ thống Tòa án độc lập, vững mạnh và uy tín để buộc tất cả mọi người phải chịu trách nhiệm trước pháp luật của quốc gia là một trong những yêu cầu quan trọng nhất của nhà nước pháp quyền.

Tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra cho hệ thống tư pháp những nhiệm vụ cơ bản là “phải xây dựng được nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phọng sự Tổ quốc”. Nhiệm vụ mà các Nghị quyết đề ra là những nội dung quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Theo đó, các yêu cầu chủ yếu đặt ra đối với Tòa án trong nhà nước pháp quyền là:

a) Bảo đảm tính độc lập của Toà án

Một trong những đặc trưng của nhà nước pháp quyền là tính độc lập của nền tư pháp. Không thể nói đến nhà nước pháp quyền nếu không có Toà án độc lập. Các Thẩm phán và Hội thẩm phải thực hiện đúng nguyên tắc Hiến định “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Để bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử, cần có nhiều điều kiện, trong đó có việc tổ chức Toà án theo cấp xét xử trên tinh thần của nguyên tắc hai cấp xét xử; mỗi Toà án là một cấp xét xử độc lập với Toà án cấp trên. Phải có một hệ thống pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng hoàn chỉnh; các thiết chế tư pháp bổ trợ phải đủ mạnh để giúp cho Toà án thực hiện tốt việc xét xử; cơ sở vật chất - kỹ thuật cho hoạt động Toà án phải đầy đủ, hiện đại.

b) Bảo đảm quyền cơ bản của công dân trong hoạt động tư pháp

Quyền tự do dân chủ là những quyền cơ bản của con người được Hiến pháp quy định. Do vậy, trong hoạt động tư pháp, cần phải thực hiện đầy đủ các quyền của công dân như quyền tự do và bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm… Cần thực hiện đầy đủ và chặt chẽ quy định về bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự; bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự (không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật) và tôn trọng nguyên tắc tự định đoạt của các đương sự trong tố tụng dân sự.

c) Bảo đảm sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật và bảo đảm tính khách quan, vô tư trong các phán quyết của Toà án

Quyền lực tư pháp chỉ có ý nghĩa khi nó tạo dựng và bảo vệ được sự công bằng, bình đẳng của mọi công dân, tổ chức trước pháp luật và trước Toà án, tạo cho công dân niềm tin vào sự công bằng và đúng đắn của pháp luật.

Trước tiên cần khẳng định rằng việc cải cách Toà án trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân phải dựa trên hai cơ sở khác nhau. Cơ sở thứ nhất phải là những chuẩn mực mới, những kiến giải khoa học về vị trí, vai trò và chức năng nhiệm vụ của Toà án trong nhà nước pháp quyền. Đó là khía cạnh đổi mới. Tuy nhiên, cơ sở thứ hai cũng không kém quan trọng cần phải được quan tâm thích đáng là tính kế thừa trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của từng cơ quan trong bộ máy nhà nước trong đó có Toà án đã được thiết lập và kiểm nghiệm trong một thời gian dài và đã chứng tỏ sự phù hợp của chúng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

Ở nước ta, nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được xác định trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, trong đó có yêu cầu về nâng cao năng lực của các cơ quan tư pháp nói chung và năng lực xét xử của Tòa án nói riêng để đáp ứng các yêu cầu cụ thể đặt ra đối với việc bảo vệ và thi hành pháp luật, bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, bảo đảm và tôn trọng quyền con người. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị đã khẳng định: “Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với các cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm”. Nghị quyết số 49-NQ/TW cũng đã nhấn mạnh vai trò, vị trí của Tòa án trong hệ thống tư pháp đó là: “Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm”.

d) Bảo đảm sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử của Toà án

Tính nhân dân của Toà án được thể hiện từ những ngày đầu của chính quyền dân chủ nhân dân. Đó là một hệ thống Toà án gắn bó với dân, gần dân, vì dân. Những giá trị đó phải tiếp tục được củng cố và khẳng định trong nhà nước pháp quyền. Đại diện cho nhân dân cần phải tham gia vào xét xử, thông qua đó mà giám sát hoạt động của Toà án. Các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân cũng có trách nhiệm giám sát Toà án bằng những cách thức của mình do pháp luật quy định.

Những đòi hỏi này được đáp ứng bằng việc thực hiện một loạt nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Toà án như nguyên tắc độc lập xét xử, nguyên tắc hai cấp xét xử, việc xét xử của Toà án có Hội thẩm nhân dân tham gia, khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán; nguyên tắc Toà án xét xử công khai; nguyên tắc quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm; nguyên tắc tranh tụng…

2. Vai trò của Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án

Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy định “Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp có Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán và Thư ký Tòa án”. Theo yêu cầu tiêu chuẩn hóa các chức danh công chức của Nhà nước và của ngành, đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án được chia thành 4 loại: công chức lãnh đạo, quản lý; công chức có chức danh tư pháp (bao gồm Thẩm phán và Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án); công chức nghiên cứu và chuyên gia; công chức hành chính tư pháp và công chức khác; cụ thể như sau:

2.1. Công chức lãnh đạo, quản lý

Là người được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ, giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong Tòa án nhân dân các cấp bao gồm:

a) Tại Tòa án nhân dân tối cao

- Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: do Chủ tịch nước bổ nhiệm trong số Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Là ngạch công chức lãnh đạo cao nhất trong hệ thống Tòa án;

- Chánh tòa, Phó Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao: do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm trong số Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, làm nhiệm vụ giúp lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao trong công tác quản lý, điều hành một lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ thuộc thẩm quyền của Tòa án;

- Vụ trưởng, Phó vụ trưởng và tương đương của các đơn vị thuộc bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối cao: do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, làm nhiệm vụ tham mưu, giúp lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao trong công tác quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực. Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và tương đương có thể đồng thời là Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và tương đương của các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao: do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, giúp lãnh đạo các Tòa chuyên trách, lãnh đạo Vụ và tương đương theo từng nhiệm vụ, lĩnh vực cụ thể do lãnh đạo cấp vụ và tương đương phân công.

b) Tại Tòa án nhân dân địa phương

- Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh: do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm trong số Thẩm phán trung cấp, để lãnh đạo, điều hành hoạt động của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, quản lý về tổ chức đối với các Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh và thực hiện các quyền năng về tố tụng theo quy định của pháp luật;

- Chánh tòa, Phó Chánh tòa của các tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh: do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm trong số Thẩm phán trung cấp, làm nhiệm vụ giúp lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao trong công tác quản lý, điều hành một lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;

- Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và tương đương thuộc bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, làm nhiệm vụ tham mưu, giúp lãnh đạo Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong công tác quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực. Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và tương đương thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể đồng thời là Thẩm phán trung cấp hoặc Thẩm phán sơ cấp;

- Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện: do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm trong số Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp để lãnh đạo, điều hành hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện và thực hiện các quyền năng về tố tụng theo quy định của pháp luật.

Theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị thì một trong những nhiệm vụ quan trọng của cải cách tư pháp đó là “Hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp” với những nội dung: “Đảng lãnh đạo chặt chẽ hoạt động tư pháp và các cơ quan tư pháp về chính trị, tổ chức và cán bộ; tăng cường công tác xây dựng Đảng, giáo dục, quản lý, kiểm tra hoạt động của các tổ chức Đảng, đảng viên; chăm lo công tác quy hoạch, đào tạo, tuyển chọn, bố trí, sử dụng đúng cán bộ trong các cơ quan tư pháp. Phân công đồng chí cấp ủy viên có trình độ, năng lực, uy tín và bản lĩnh bổ nhiệm làm viện trưởng viện kiểm sát và chánh án tòa án nhân dân các cấp”. Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, trong những năm qua, việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ của cải cách tư pháp đã đạt được những kết quả tích cực. Trong đó, phải kể đến sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và sự phối hợp, ủng hộ của các bộ, ngành và các cấp ủy, chính quyền địa phương đối với công tác Tòa án, đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành Tòa án nhân dân trong công tác kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ, tăng cường cơ sở vật chất, cải thiện điều kiện làm việc, từng bước đổi mới cơ chế hoạt động, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị của ngành và của các địa phương. Trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo Toà án nhân dân các cấp hiện nay: đồng chí Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là Bí thư Trung ương Đảng; 49/63 đồng chí lãnh đạo Tòa án nhân dân cấp tỉnh (gồm 44 Chánh án và 05 Phó Chánh án) tham gia cấp ủy cấp tỉnh; 462/697 đồng chí lãnh đạo Tòa án nhân dân cấp huyện (gồm 380 Chánh án và 82 Phó Chánh án) tham gia cấp ủy cấp huyện. Qua đó cho thấy, việc lãnh đạo Tòa án nhân dân các cấp tham gia cấp ủy địa phương sẽ góp phần tăng cường việc quán triệt, thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, là điều kiện thuận lợi để Tòa án các cấp hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đồng thời là một trong những phương thức đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Tòa án các cấp nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cải cách tư pháp.

2.2. Công chức có chức danh tư pháp

Bao gồm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp; Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án. Đây là những chức danh tố tụng theo quy định của pháp luật, là chức danh công chức không thể thiếu được trong tổ chức và hoạt động của Tòa án; cụ thể như sau:

a) Thẩm phán

Trong hoạt động tố tụng của Tòa án, Thẩm phán giữ vị trí chủ đạo; chức năng, nhiệm vụ của Tòa án chủ yếu do Thẩm phán thực hiện. Với tư cách là người được giao thực hiện chức năng xét xử và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, Thẩm phán có vị trí quan trọng và vai trò không thể thay thế trong việc thực hiện một trong những quyền lực nhà nước-quyền tư pháp. Hơn nữa, Thẩm phán còn có vị trí, vai trò đặc biệt nếu xét từ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, trách nhiệm của họ trong cơ cấu tổ chức cán bộ của Tòa án, trong hoạt động tố tụng khi so sánh với những người tiến hành tố tụng khác và trong cơ chế bổ nhiệm, giao nhiệm vụ nếu so sánh với các chức danh công chức khác trong các cơ quan nhà nước.

Từ các quy định của pháp luật tố tụng cho thấy, trong hoạt động tố tụng thì Tòa án và Thẩm phán luôn chiếm giữ vị trí trung tâm và vai trò quyết định cuối cùng đối với việc xét xử và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án. Mọi hoạt động tố tụng mà cơ quan điều tra, viện kiểm sát tiến hành và các hoạt động bổ trợ tư pháp như cơ quan giám định, công chứng, luật sư… đều chỉ có ý nghĩa trợ giúp cho hoạt động xét xử của Tòa án.

Trong số các chức danh cán bộ, công chức nhà nước thì Thẩm phán được xem là chức danh công chức đặc biệt, bởi lẽ các vấn đề về nghĩa vụ và quyền hạn, về những việc họ không được làm và các vấn đề về tổ chức cán bộ như quản lý, sử dụng, chế độ chính sách đối với Thẩm phán không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức mà còn phải tuân theo các quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân về điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục tuyển chọn và bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, điều động, biệt phái Thẩm phán.

Từ những vị trí, vai trò cơ bản nêu trên của Thẩm phán, có thể thấy rằng địa vị pháp lý của Thẩm phán đã được ghi nhận và khẳng định một cách rõ ràng trong hệ thống pháp luật của nước ta. Tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tiếp tục khẳng định rõ vị trí, vai trò trung tâm của Tòa án và Thẩm phán cùng với việc đề ra các yêu cầu về xây dựng, củng cố đội ngũ Thẩm phán để đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho trong tình hình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước hiện nay.

b) Thư ký Tòa án và Thẩm tra viên

Thư ký Tòa án là một chức danh tư pháp, là công chức nhà nước được tuyển dụng và bổ nhiệm theo quy định của pháp luật vào ngạch Thư ký Tòa án của Tòa án các cấp.

Cùng với sự hình thành của bộ máy nhà nước, ngành Tòa án ra đời từ năm 1945 nhưng chức danh Thư ký Tòa án xuất hiện rất muộn trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Mãi đến năm 1992, Luật tổ chức Tòa án nhân dân mới có quy định về chức danh Thư ký Tòa án và đến năm 1993 được bổ sung vào hệ thống các chức danh công chức trong các cơ quan nhà nước (hình thành một ngạch công chức riêng và có trình độ đào tạo ở bậc trung cấp). Từ năm 2004, vị trí, vai trò của ngạch Thư ký Tòa án được củng cố và được xếp ngang với ngạch chuyên viên (theo yêu cầu về trình độ đào tạo, mức lương). Đến nay, việc tuyển dụng công chức và bổ nhiệm vào ngạch Thư ký Tòa án được coi là công việc quan trọng hàng đầu của ngành Tòa án. Theo đó, người được tuyển dụng và bổ nhiệm vào ngạch Thư ký Tòa án ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn chung của công chức, còn phải tuân thủ các quy định đặc thù của ngành Tòa án từ sức khỏe, hình thức, tác phong đến phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, Thư ký Tòa án không chỉ là một chức danh tư pháp, một loại công chức nhà nước mà còn được xác định là một nghề. Khi vào làm trong Tòa án, Thư ký Tòa án ở một số quốc gia không nhất thiết phải có trình độ cử nhân luật mà sau khi được tuyển dụng, họ sẽ được đào tạo theo một chương trình riêng, chuyên sâu về các kỹ năng của nghề Thư ký Tòa án trong một khoảng thời gian nhất định và có thể phục vụ suốt đời với chức danh này. Khác với các các nước, những người được tuyển dụng và bổ nhiệm vào ngạch Thư ký Tòa án ở nước ta chưa được xác định là một nghề theo đúng nghĩa của nó và không được đào tạo nghề theo một chương trình chính quy và cơ bản của công việc Thư ký Tòa án. Họ học nghề Thư ký Tòa án chủ yếu thông qua thực tiễn công tác và kinh nghiệm của người đi trước. Đồng thời, chức danh Thư ký Tòa án được coi như là một bước quá độ để chuyển tiếp lên chức danh cao hơn là Thẩm phán. Trong thực tế, phần lớn đội ngũ Thẩm phán ở nước ta đều trưởng thành từ Thư ký Tòa án.

Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm vào ngạch Thư ký Tòa án, tuy công tác ở các cấp Tòa án khác nhau, tính chất công việc khác nhau nhưng đều có vị trí, vai trò như nhau: Một là, Thư ký Tòa án là công chức nhà nước và là chức danh tiến hành tố tụng không thể thiếu trong Tòa án được quy định trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Cán bộ, công chức; Hai là, Thư ký Tòa án là người tiến hành tố tụng khi được phân công tham gia giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng. Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản như nhau: Một là, quyền và nghĩa vụ của Thư ký Tòa án theo quy định của Luật Cán bộ, công chức; Hai là, quyền và nghĩa vụ của Thư ký Tòa án theo pháp luật tố tụng, khi được phân công tham gia giải quyết vụ án.

Bên cạnh đó, cần phân biệt sự khác nhau giữa Thư ký Tòa án với Thư ký phiên tòa. Thư ký Tòa án là một chức danh công chức của Tòa án theo quy định của pháp luật; Thư ký phiên tòa là người tiến hành tố tụng, được Chánh án phân công làm nhiệm vụ Thư ký đối với từng vụ án cụ thể, có nhiệm vụ cùng với Thẩm phán và Hội đồng xét xử giải quyết vụ án. Thư ký phiên tòa có thể ở ngạch Thư ký Tòa án (ở hầu hết Tòa án các cấp) hoặc ở ngạch Thẩm tra viên (là một chức danh công chức của Tòa án và chỉ có ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao) được Chánh án phân công làm nhiệm vụ Thư ký trong từng phiên tòa cụ thể (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm).

Đối với ngạch Thẩm tra viên: là một chức danh công chức Tòa án, có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ vụ án và những vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao. Về cơ bản, ngạch Thẩm tra viên cao hơn ngạch Thư ký Tòa án. Trước đây, để chuyển lên ngạch Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án phải có 2 năm làm ở ngạch Thư ký Tòa án và phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch Thẩm tra viên hoặc là Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện khi không được bổ nhiệm lại Thẩm phán thì chuyển sang ngạch Thẩm tra viên. Tuy nhiên, từ năm 2004 đến nay căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ của Tòa án, thực hiện thu gọn và chuẩn hóa các ngạch công chức thì ngạch Thư ký Tòa án tương đương với ngạch Thẩm tra viên (chẳng hạn: ở Tòa án nhân dân tối cao, sau khi trúng tuyển kỳ thi tuyển dụng, công chức được xếp ngạch Thư ký Tòa án và sau thời gian tập sự sẽ được bổ nhiệm vào ngạch Thẩm tra viên).

2.3. Công chức nghiên cứu và chuyên gia

Đây là những người có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng nghiên cứu về khoa học Tòa án. Được hình thành từ những người được đào tạo cơ bản và có trình độ chuyên môn cao, có tư duy và khả năng nghiên cứu, có nhiều công trình nghiên cứu được áp dụng trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án. Những người này có thể là Thẩm tra viên, Thẩm tra viên chính hoặc Thẩm tra viên cao cấp và tương đương hoặc là những Thẩm phán lâu năm của Tòa án các cấp; đồng thời họ có thể được tiếp nhận từ những cơ quan pháp luật khác trong bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương hoặc từ những cơ sở đào tạo pháp luật trong nước hoặc là những chuyên gia trong từng lĩnh vực…

Đội ngũ này, được xây dựng và thu hút làm việc tại Tòa án nhân dân tối cao để giúp lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao trong công tác nghiên cứu, để tìm ra những giải pháp trong các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của ngành Tòa án.

Thực hiện các nhiệm vụ của cải cách tư pháp, xây dựng Tòa án chính quy, hiện đại, bảo đảm ngang tầm với nhiệm vụ được giao thì việc xây dựng đội ngũ công chức nghiên cứu là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu luôn được lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao tập trung chỉ đạo xây dựng và phát triển cả về số lượng và chất lượng đội ngũ công chức này.

2.4. Công chức hành chính tư pháp và công chức khác

Đây là đội ngũ chủ yếu làm chức năng giúp việc, phục vụ trong Tòa án các cấp như tiếp dân, đánh máy, văn thư, lưu trữ… Về cơ bản, họ đều được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp theo yêu cầu nhiệm vụ.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp, thời gian qua nhiều chủ trương, định hướng quan trọng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân đã được cụ thể hóa và đi vào cuộc sống. Vai trò của Tòa án ngày càng được khẳng định có vị trí trung tâm trong hoạt động tư pháp. Nhiều cán bộ lãnh đạo Tòa án được cơ cấu và bầu tham gia cấp ủy các cấp nhiệm kỳ hiện nay không những nâng cao vai trò của Tòa án trong bộ máy Nhà nước mà còn tạo điều kiện thuận lợi để Đảng lãnh đạo, chỉ đạo công tác Tòa án sâu sát hơn. Các Tòa án cũng có điều kiện tranh thủ sự ủng hộ của cấp ủy và chính quyền các cấp trong việc củng cố cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với công tác xét xử.

II. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN VÀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGÀNH TÒA ÁN 

1. Về số lượng, chất lượng đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án

1.1. Về số lượng

Tại Nghị quyết số 473a/NQ-UBTVQH13 ngày 28/3/2012 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tổng biên chế và số lượng Thẩm phán của Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã bổ sung cho các Toà án nhân dân địa phương đến năm 2013 là 1.713 biên chế, theo đó tổng số biên chế của Toà án nhân dân các cấp là 15.237 người, gồm:

- Tổng biên chế của Toà án nhân dân tối cao là 722 người, trong đó có 120 Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (được giữ nguyên theo Nghị quyết số 770/2009/UBTVQH12 ngày 23/02/2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội);

- Tổng biên chế của Toà án nhân dân cấp tỉnh là 4.088 người, trong đó có 1.170 Thẩm phán trung cấp;

- Tổng biên chế của Toà án nhân dân cấp huyện là 10.427 người, trong đó có 4.865 Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán sơ cấp.

- Tổng biên chế Toà án quân sự các cấp được giữ nguyên theo Nghị quyết số 770/2009/UBTVQH12 ngày 23/02/2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (Tổng biên chế Toà án quân sự các cấp là 315 người, trong đó có 141 Thẩm phán. Cụ thể: Toà án quân sự Trung ương là 54 người, có 19 Thẩm phán; Toà án quân sự cấp quân khu là 108 người, có 54 Thẩm phán; Toà án quân sự khu vực là 153 người, có 68 Thẩm phán).

Đến nay, số biên chế của ngành Toà án nhân dân và các Toà án quân sự đã được thực hiện tương đối đầy đủ, bảo đảm đúng cơ cấu chức danh, tiêu chuẩn và thủ tục tuyển dụng theo quy định. Theo số liệu thống kê đến ngày 31/12/2012 toàn ngành Toà án nhân dân có 13.296 người, trong đó có 5.004 Thẩm phán và 8.292 Thư ký Toà án, Thẩm tra viên và cán bộ, công chức khác; hiện còn thiếu 1.941 biên chế so với chỉ tiêu được giao, thiếu 1.151 Thẩm phán; cụ thể:

a) Toà án nhân dân tối cao: hiện có 717 biên chế, gồm 108 Thẩm phán (15,1%), 512 Thẩm tra viên (các loại) và Thư ký Toà án (71,4%), 97 công chức và nhân viên khác (13,5%). So với biên chế được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phân bổ còn thiếu 05 biên chế (0,7%), thiếu 12 Thẩm phán (0,1%).

b) 63 Toà án nhân dân cấp tỉnh: hiện có 3.442 biên chế, gồm 1.027 Thẩm phán (29,8%), 1.957 Thẩm tra viên (các loại) và Thư ký Toà án (56,9%), 458 công chức và nhân viên khác (13,3%). So với biên chế được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phân bổ còn thiếu 646 biên chế (15,8%), thiếu 143 Thẩm phán.

c) 697 Toà án nhân dân cấp huyện: hiện có 9.137 biên chế, gồm 3.869 Thẩm phán (42,3%), 4.438 chuyên viên và Thư ký Toà án (48,6%), 830 công chức và nhân viên khác (9,1%). So với biên chế được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phân bổ còn thiếu 1.290 biên chế (12,4%), thiếu 996 Thẩm phán.

1.2. Về chất lượng

a) Về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị:

- Về trình độ chuyên môn: tiến sĩ 21 người (0,2%); thạc sĩ 518 người (3,9%); cử nhân 11.571 người (87%); trình độ khác 1.186 người (8,9%).

- Về trình độ lý luận chính trị: cử nhân hoặc cao cấp lý luận chính trị 2.382 người (17,9%); trung cấp lý luận chính trị 3.786 người (28,5%); chưa qua đào tạo 7.128 người (53,6%).

b) Về cơ cấu công chức: công chức nữ 6.732 người (50,6%); đảng viên 9.636 người (72,5%); dân tộc thiểu số 981 người (7,4%); tôn giáo 157 người (1,2%).

c) Về độ tuổi: đến 35 tuổi 5.913 người (44,5%); từ 36 đến 45 tuổi 3.995 người (30%); từ 46 đến 55 tuổi 2.822 người (21,2%); trên 55 tuổi 566 người (4,3%).

2. Những tồn tại, bất cập và nguyên nhân

2.1. Những tồn tại, bất cập trong công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án

a) Về đội ngũ cán bộ, công chức

- Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài; tình trạng hẫng hụt các thế hệ cán bộ, công chức trong Tòa án các cấp còn phổ biến; thiếu đội ngũ cán bộ, công chức nòng cốt kế cận có trình độ chuyên môn cao và đội ngũ chuyên gia đầu ngành đủ sức giải quyết những vấn đề pháp lý đặt ra trong điều kiện hội nhập quốc tế. Đặc biệt, ở một số Tòa án vùng sâu, vùng xa và miền núi, hải đảo tình trạng thiếu và yếu cán bộ còn chưa được giải quyết dứt điểm, rất khó khăn về nguồn cán bộ.

- Đội ngũ cán bộ, Thẩm phán chưa thực sự ổn định, chuyên nghiệp. Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, Thẩm phán tuy đã được nâng lên một mức nhưng chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, còn nhiều bất cập, hạn chế về một số mặt: tri thức về xã hội, kinh tế thị trường, trình độ ngoại ngữ, kiến thức pháp luật quốc tế, hành chính nhà nước, kỹ năng thực thi công vụ, cũng như khả năng vận dụng khoa học công nghệ hiện đại trong hoạt động công vụ.

b) Về công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức tuy đã từng bước được hoàn thiện nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là về vấn đề phân cấp quản lý cán bộ, công chức còn nhiều quy định chưa rõ ràng; chưa có cơ chế phân cấp đi đôi với giám sát, kiểm tra trong việc thực hiện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; chưa xây dựng được cơ chế mang tính đột phá trong tuyển dụng đầu vào, nhất là đối với các địa phương có khó khăn về nguồn cán bộ.

- Việc bố trí cán bộ, công chức ở nhiều Tòa án chưa có tỷ lệ phù hợp với đặc điểm, tính chất và yêu cầu công việc. Tiêu chuẩn chức danh chuyên môn nghiệp vụ các ngạch công chức đã được thực hiện tiêu chuẩn hóa, tuy nhiên vẫn còn chưa đồng bộ, thật chất và còn mang tính hình thức; việc rà soát, phân loại, đánh giá cán bộ còn hạn chế; công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ ngành Toà án nhân dân còn nhiều hạn chế, chưa kịp thời, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra và chưa thể hiện sự gắn kết giữa các khâu trong công tác cán bộ. Việc triển khai thực hiện chính sách, pháp luật trong bổ nhiệm đối với đội ngũ cán bộ, công chức ở một số Toà án địa phương còn chậm, kết quả rất hạn chế; việc bổ nhiệm cán bộ, công chức có lúc, có nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, đúng khả năng của người được bổ nhiệm và chưa dựa trên cơ sở quy hoạch cán bộ; quy trình, thủ tục bổ nhiệm còn  rườm rà, nặng về hình thức.

- Chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức và Thẩm phán hiện nay còn chưa phù hợp với đặc thù công tác Toà án, còn nhiều bất hợp lý, chưa tương xứng với tính chất nghề nghiệp và chế độ trách nhiệm pháp lý, chưa thực sự có sức hấp dẫn, chưa tạo được động lực khuyến khích đội ngũ cán bộ, công chức đề cao trách nhiệm, phấn đấu rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực công tác; chưa có cơ chế phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ đối với công chức có tài năng trong hoạt động công vụ.

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức còn chậm được đổi mới, chưa gắn với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, hiện đại, phục vụ nhu cầu của sự nghiệp đổi mới. Chất lượng của một số khoá đào tạo chưa đồng đều, nhất là so với yêu cầu của cơ quan sử dụng cán bộ đặt ra; chưa có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan hữu quan trong việc đánh giá chất lượng đào tạo; số lượng cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế; công tác đào tạo còn nặng về lý thuyết, chưa gắn với hoạt động thực tế (thực tập làm việc tại các cơ quan); đào tạo, bồi dưỡng chưa thực sự gắn kết với các khâu trong công tác cán bộ, nhất là quy hoạch cán bộ.

- Công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức chưa thống nhất trong toàn bộ máy nhà nước nói chung, trong đó có ngành Tòa án nhân dân. Cho đến nay, bước đầu đã chuẩn hóa được mẫu hồ sơ cán bộ, công chức và quy định việc quản lý hồ sơ cán bộ, công chức. Việc đưa công nghệ thông tin vào quản lý cơ sở dữ liệu đội ngũ cán bộ, công chức chưa đồng bộ, thống nhất dẫn đến hệ thống cơ sở dữ liệu chưa đủ độ tin cậy, đầy đủ, chính xác, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý và hội nhập trong khu vực và trên thế giới.

2.2. Nguyên nhân của những tồn tại, bất cập

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức, hoạt động và các quy định của pháp luật nhằm tạo điều kiện cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cho các cơ quan tư pháp, trong đó có ngành Tòa án nhân dân còn chưa được xây dựng hoàn chỉnh, chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để thực hiện nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân trong sạch, vững mạnh theo đặc thù hoạt động Tòa án. Một số văn bản chưa phù hợp với mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức vẫn còn một số vấn đề bất cập nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung.

- Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của cơ quan Tòa án trong cải cách tư pháp chưa thực sự đúng đắn; còn có tư tưởng cho rằng, tổ chức và hoạt động của Tòa án cũng giống như các cơ quan hành chính nhà nước, đã hình thành ổn định và đang vận hành bình thường; việc đổi mới hay cải cách là công việc thường xuyên, lâu dài của các cơ quan nghiên cứu, lãnh đạo ở cấp vĩ mô. Một số cơ quan ở Trung ương và cấp ủy, chính quyền đại phương chưa quan tâm đúng mức đến việc đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án nhân dân, trong đó quan trọng nhất là công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân trong sạch, vững mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

- Sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp với nhau, giữa các cơ quan tư pháp với các cơ quan, tổ chức hữu quan khác và với cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cho các cơ quan tư pháp, trong đó có ngành Tòa án theo yêu cầu cải cách tư pháp còn chưa chặt chẽ, đồng bộ.

- Về thực hiện biên chế: Trong những năm qua, các địa phương đã bám sát sự chỉ đạo của lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, tích cực triển khai nhiều biện pháp để tuyển dụng công chức, bảo đảm chất lượng theo yêu cầu, nhiều địa phương đã thực hiện đủ số biên chế được giao. Riêng đối với một số địa phương thuộc khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ vẫn gặp nhiều khó khăn trong công tác tuyển dụng công chức do những nguyên nhân chủ quan thuộc về ngành Tòa án như: chưa chủ động nghiên cứu để tìm ra giải pháp; việc phối hợp với các cơ quan hữu quan và địa phương trong công tác tìm nguồn tuyển dụng còn chưa tốt…; bên cạnh đó, do những nguyên nhân khách quan: một là, tiền lương và các chế độ đãi ngộ công chức được tuyển dụng vào ngành Tòa án thấp so với mặt bằng chung, chưa đảm bảo cho đời sống, sinh hoạt cá nhân nên nhiều sinh viên tốt nghiệp Đại học luật không có nguyện vọng về ngành Tòa án công tác (số đông họ lựa chọn các ngành kinh tế, luật sư hoặc các cơ quan tư pháp khác có thu nhập cao hơn). Bên cạnh đó, cùng với áp lực công việc cao, đòi hỏi tinh thần trách nhiệm lớn nên có không ít trường hợp sau khi được tuyển dụng lại xin chuyển công tác sang ngành khác hoặc xin thôi việc; hai là, không có chế độ nhà ở công vụ, cùng với điều kiện sinh hoạt, phương tiện đi lại khó khăn là một trở ngại không nhỏ đối với những người có nguyện vọng về công tác tại những địa phương thuộc khu vực này. Cơ chế tuyển dụng cán bộ còn nhiều bất cập do chưa đổi mới về cơ chế và các chính sách thu hút của ngành, chưa xây dựng được kế hoạch tạo nguồn cán bộ, nhất là đối với các vùng, miền có khó khăn về nguồn tuyển dụng.

- Về công tác tổ chức cán bộ: nhiều quy định, quy chế trong công tác tổ chức cán bộ còn chưa được xây dựng để thực hiện thống nhất, nhằm bảo đảm mục tiêu đề ra; công tác quy hoạch cán bộ còn chưa có tính khả thi, do chưa đánh giá đúng cán bộ; công tác luân chuyển cán bộ rất khó thực hiện do chưa có cơ chế, chế độ chính sách kèm theo luân chuyển và việc sử dụng cán bộ sau luân chuyển; chưa xây dựng được Quy chế bổ nhiệm cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân để qua đó thực hiện thống nhất về quy trình, thủ tục, hồ sơ bổ nhiệm nhằm bảo đảm tốt yêu cầu đề ra. Bên cạnh đó, còn có nguyên nhân do làm chưa tốt công tác quy hoạch cán bộ, chưa gắn kết giữa quy hoạch của cấp dưới với cấp trên, ở một số địa phương còn làm chậm, thậm chí còn chưa có quy hoạch do liên quan đến vấn đề phê duyệt quy hoạch (do cấp ủy địa phương hay Tòa án nhân dân tối cao phê duyệt), làm ảnh hưởng đến công tác bổ nhiệm cán bộ.

- Về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức: trong giai đoạn trước, do không được giao chức năng “đào tạo” cán bộ, công chức nên ngành Tòa án chưa chủ động trong công tác này. Bên cạnh đó, do nguồn kinh phí hạn hẹp mà nhu cầu đào tạo của đội ngũ cán bộ, công chức là rất lớn nên hiệu quả trong công tác đào tạo chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đề ra của toàn ngành. Đồng thời, do chưa xây dựng được Chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức trong toàn ngành mang tính chiến lược, lâu dài nên đến nay, công tác đào tạo, bồi dưỡng của ngành Tòa án vẫn mang tính tình thế và chưa gắn kết với các khâu trong công tác cán bộ, nhất là các khâu luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ.

- Chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán, công chức ngành Toà án còn chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ và tính đặc thù của công tác Toà án, nên chưa có sức thu hút đối với nguồn nhân lực chất lượng cao vào làm việc trong ngành.

- Tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật của một bộ phận cán bộ, Thẩm phán còn yếu, phong cách làm việc chậm đổi mới; không chịu rèn luyện, tự phê bình và phê bình, bị chủ nghĩa cá nhân chi phối; ở một bộ phận cán bộ, Thẩm phán còn hạn chế về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, trình độ ngoại ngữ, kiến thức pháp luật quốc tế chưa được cập nhật thường xuyên.. tinh thần phục vụ nhân dân chưa cao; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu nhân dân chưa được ngăn chặn triệt để gây nên sự trì trệ, trở ngại không ít cho công cuộc cải cách tư pháp, làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngành. Bên cạnh đó, các phong trào thi đua, xây dựng điển hình tiên tiến chưa gắn liền với các hoạt động công vụ, công tác khen thưởng chưa kịp thời, chưa đáp ứng yêu cầu động viên cán bộ, công chức tích cực phấn đấu. Kỷ luật công vụ ở một số đơn vị còn lỏng lẻo do công tác bố trí, sắp xếp và sử dụng cán bộ, công chức chưa khoa học, chưa phù hợp.

- Cơ quan làm công tác tổ chức, cán bộ trong ngành chậm đổi mới, chưa chủ động tham mưu đề xuất những vấn đề chiến lược về cán bộ và công tác cán bộ; một số cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa gương mẫu về đạo đức, lối sống, thiếu khách quan, yếu về năng lực; công tác nghiên cứu khoa học về tổ chức, cán bộ còn chưa được chú trọng, đầu tư đúng mức, thể hiện ở cơ chế kinh phí chi cho nghiên cứu khoa học còn hạn hẹp, thủ tục thanh quyết toán còn rườm rà, nặng về hình thức, chưa mang tính động viên, khuyến khích trong công tác này; trình độ lý luận và tổng kết thực tiễn của cơ quan tham mưu về công tác cán bộ và cán bộ, công chức làm công tác tổ chức cán bộ còn yếu kém.

III. CÁC MỤC TIÊU CỤ THỂ, YÊU CẦU VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN VÀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TÒA ÁN GIAI ĐOẠN TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020

1. Mục tiêu cụ thể

Trên cơ sở thực trạng đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân; căn cứ vào Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (đã được phê duyệt tại Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ); Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015 (đã được phê duyệt tại Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ) thì các mục tiêu cụ thể nhằm tăng cường đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án được xác định cụ thể và chia thành các giai đoạn như sau:

1.1. Giai đoạn từ nay đến năm 2015

a) Về số lượng: 100% Tòa án các cấp đủ về biên chế (Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án và cán bộ, công chức khác) được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Tòa án nhân dân tối cao trong các năm 2012-2013.

b) Về chất lượng:

- Đối với công chức lãnh đạo, quản lý:

+ 100% đảm bảo đủ tiêu chuẩn bằng cấp về chuyên môn nghiệp vụ theo quy định, trong đó có 08% có trình độ Thạc sĩ trở lên (12% ở TAND tối cao; 10% ở TAND cấp cao; 7% ở TAND cấp tỉnh và 3% ở TAND cấp huyện);

+ 90% có trình độ cao cấp lý luận chính trị-hành chính (100% ở TAND tối cao; 100% ở TAND cấp cao; 100% ở TAND cấp tỉnh và 60% ở TAND cấp huyện);

+ 80% có ngoại ngữ trình độ A và tin học A trở lên (90% ở TAND tối cao; 80% ở TAND cấp cao; 70% ở TAND cấp tỉnh và 40% ở TAND cấp huyện).

- Đối với đội ngũ Thẩm phán:

+ 100% đảm bảo đủ tiêu chuẩn bằng cấp về chuyên môn nghiệp vụ theo quy định, trong đó có 15% có trình độ Thạc sĩ trở lên (20% ở TAND tối cao; 10% ở TAND cấp cao; 10% ở TAND cấp tỉnh và 7% ở TAND cấp huyện);

+ 85% có trình độ Cao cấp lý luận chính trị-hành chính (100% ở TAND tối cao; 100% ở TAND cấp cao; 90% ở TAND cấp tỉnh và 50% ở TAND cấp huyện;

+ 75% có trình độ ngoại ngữ A và tin học A trở lên (90% ở TAND tối cao; 80% ở TAND cấp cao; 75% ở TAND cấp tỉnh và 55% ở TAND cấp huyện).

- Đối với đội ngũ Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án:

 100% đảm bảo đủ tiêu chuẩn bằng cấp về chuyên môn nghiệp vụ theo quy định, trong đó 5% có trình độ từ Thạc sĩ trở lên; 70% có trình độ Trung cấp lý luận chính trị trở lên, trong đó 8% có trình độ Cao cấp lý luận chính trị-hành chính (tập trung ở TAND tối cao, TAND cấp cao và TAND cấp tỉnh); 90% có trình độ ngoại ngữ A và tin học A trở lên.

- Đối với đội ngũ công chức hành chính tư pháp và công chức khác: đảm bảo 90% có trình độ chuyên môn phù hợp tương ứng với chức danh, tiêu chuẩn quy định.

1.2. Giai đoạn 2016 - 2020

a) Về số lượng: 100% Tòa án các cấp đủ về biên chế (Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án và cán bộ, công chức khác) đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Trong giai đoạn này, cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án được tổ chức theo tinh thần nghị quyết số 49-NQ/TW, do đó việc xây dựng chỉ tiêu biên chế được thực hiện theo hướng đảm bảo số lượng Thẩm phán, cán bộ theo nhu cầu công việc.

b) Về chất lượng:

- Đối với cán bộ giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý:

+ 100% đảm bảo đủ tiêu chuẩn bằng cấp về chuyên môn nghiệp vụ theo quy định, trong đó 15% có trình độ Thạc sĩ trở lên (20% ở TAND tối cao; 15% ở TAND cấp cao;10% ở TAND cấp tỉnh và 5% ở TAND cấp huyện);

+ 95% có trình độ Cao cấp lý luận chính trị-hành chính (100% ở TAND tối cao; 100% ở TAND cấp cao; 100% ở TAND cấp tỉnh và 80% ở TAND cấp huyện);

+ 90% có trình độ ngoại ngữ A và tin học A trở lên (100% ở TAND tối cao; 100% ở TAND cấp cao; 85% ở TAND cấp tỉnh và 75% ở TAND cấp huyện).

- Đối với đội ngũ Thẩm phán:

+ 100% đảm bảo đủ tiêu chuẩn bằng cấp về chuyên môn nghiệp vụ theo quy định, trong đó 20% có trình độ Thạc sĩ trở lên (30% ở TAND tối cao; 20% ở TAND cấp cao; 20% ở TAND cấp tỉnh và 10% ở TAND cấp huyện);

+ 90% có trình độ Cao cấp lý luận chính trị-hành chính (100% ở TAND tối cao; 100% ở TAND cấp cao; 100% ở TAND cấp tỉnh và 60% ở TAND cấp huyện);

+ 90% có trình độ ngoại ngữ A và tin học A trở lên (100% ở TAND tối cao; 100% ở TAND cấp cao; 90% ở TAND cấp tỉnh và 70% ở TAND cấp huyện).

- Đối với đội ngũ Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án:

 100% đảm bảo đủ tiêu chuẩn bằng cấp về chuyên môn nghiệp vụ theo quy định, trong đó 10% có trình độ từ Thạc sĩ trở lên; 85% có trình độ Trung cấp lý luận chính trị trở lên, trong đó 15% có trình độ Cao cấp lý luận chính trị-hành chính (tập trung ở TAND tối cao, TAND cấp cao và TAND cấp tỉnh); 100% có trình độ ngoại ngữ A và tin học A trở lên.

- Đối với đội ngũ công chức hành chính tư pháp và công chức khác: đảm bảo 100% có trình độ chuyên môn phù hợp tương ứng với chức danh, tiêu chuẩn quy định.

2. Yêu cầu về chất lượng đối với đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án 

Từ các đặc trưng cơ bản của đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân phải đảm bảo các yêu cầu về chất lượng như sau:

2.1. Yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức người công chức

Phẩm chất, bản lĩnh chính trị là yêu cầu quan trọng, cơ bản nhất đối với đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức ngành Toà án nhân dân. Đó là sự trung thành và bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn; nhiệt tình cách mạng, gương mẫu, tận tuỵ, có tinh thần và ý thức trách nhiệm cao với công việc, ht lòng, hết sức vì sự nghiệp của nhân dân, tận tâm, tận trí phục vụ nhân dân.

Đạo đức của người Thẩm phán và cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân gồm hai mặt cơ bản: đạo đức cá nhân và đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức cá nhân, trước hết thể hiện ở ý thức, niềm tin vào định hướng xã hội chủ nghĩa; quyết tâm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Ngoài ra, phẩm chất đạo đức cá nhân còn được thể hiện ở tinh thần và ý thức, biết tôn trọng, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, sống và làm việc theo pháp luật, có lối sống lành mạnh, không tham ô lãng phí, có trách nhiệm cao trong thi hành công vụ, có lòng nhân ái, vị tha, ứng xử đúng đắn trong quan hệ gia đình, bạn bè và trong xã hội, có tinh thần hướng thiện, hiếu học. Đạo đức nghề nghiệp, đó là ý thức và trách nhiệm pháp lý đối với nghề nghiệp mà họ theo đuổi. Đạo đức nghề nghiệp của người Thẩm phán và cán bộ, công chức thể hiện trước hết ở tinh thần trách nhiệm cao và đề cao kỷ luật trong thi hành công vụ. Đó là ý thức luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, công vụ được giao, kể cả khi gặp những điều kiện khó khăn, phức tạp. Đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi người Thẩm phán và cán bộ, công chức phải tiết kiệm không chỉ cho bản thân mình mà cao hơn, quan trọng hơn là tiết kiệm thời gian, tiền của của nhân dân, tiết kiệm công sản, công quỹ, tiết kiệm tài nguyên của đất nước, nhờ đó chống được bệnh lãng phí thường xảy ra trong các cơ quan nhà nước. Đạo đức nghề nghiệp còn được thể hiện ở sự ngay thẳng, công bằng, tận tâm, thực thi công vụ theo pháp luật và kỷ cương phép nước. Dù ở bất kỳ vị trí nào trong bộ máy nhà nước, người Thẩm phán và cán bộ, công chức đều phải luôn luôn đề cao đạo đức công chức, đạo đức nghề nghiệp.

2.2. Yêu cầu về văn hoá

Văn hoá là hình thức ứng xử văn minh khoa học, nhân ái và dân chủ của mỗi cán bộ, công chức, của đội ngũ cán bộ, công chức trong mối quan hệ. Văn hóa là cơ sở để hình thành tác phong, phong cách và lối sống của người cán bộ, công chức, văn hóa là nền tảng tạo nên tư chất, cốt cách của người cán bộ, công chức. Nhờ có văn hóa người công chức biết cư xử đúng mực, dân chủ và văn minh hơn trong thực thi công vụ: đấu tranh chống lại các hiện tượng chuyên quyền, độc đoán, máy móc trong giải quyết công việc và thực thi công vụ.

Yêu cầu về văn hoá đòi hỏi người Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án phải có kiến thức liên ngành cần thiết, nắm vững kiến thức pháp luật, tri thức cao về văn hoá, văn minh của dân tộc, của nhân loại, có hiểu biết sâu sắc về lịch sử và truyền thống văn hiến của dân tộc để giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc áp dụng trong thực thi công vụ.

2.3. Yêu cầu về trí tuệ

Trong điều kiện mặt bằng dân trí của xã hội ngày càng được cải thiện, tri thức khoa học - công nghệ của thế giới đang tăng lên nhanh chóng, ngày càng phong phú và đa dạng, đòi hỏi người cán bộ, công chức phải có trình độ kiến thức và năng lực tư duy khoa học, năng lực vận dụng thực tiễn sáng tạo, nhạy bén, độc lập, trí tuệ cao.

Yêu cầu trí tuệ hoá buộc người Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ kiến thức và năng lực trí tuệ của mình, đồng thời Nhà nước và ngành cần phải có chính sách, chế độ và tạo điều kiện để Thẩm phán và cán bộ, công chức được đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng bổ sung những tri thức mới của khoa học và công nghệ hiện đại nhằm thực thi công vụ hiệu quả nhất.

2.4. Yêu cầu chuyên môn hoá, hiện đại hóa đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án

Mục tiêu xây dựng đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân trong sạch, vững mạnh và chính quy, hiện đại đặt ra yêu cầu phải chuyên môn hoá, hiện đại hoá đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức với tư cách là nòng cốt của nền tư pháp nước ta.

Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân nói chung, mà nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và đội ngũ Thẩm phán là phải được đào tạo để có kiến thức, kỹ năng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi; chuyên môn hoá phải đi đôi với trí tuệ hoá, làm cho mỗi Thẩm phán, cán bộ, công chức trong từng lĩnh vực có trình độ cao, vừa có kiến thức, vừa có năng lực và trình độ chuyên môn sâu. Bên cạnh đó phải tạo được một lực lượng chuyên gia đầu ngành của từng lĩnh vực, những người có trình độ, năng lực chuyên môn sâu sắc hơn và uyên thâm hơn về lý thuyết, tinh thông, thành thạo hơn về nghiệp vụ và cao hơn về năng lực thực tiễn.

Để làm được điều đó song song với việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn chặt chẽ, Nhà nước phải có chế độ, chính sách đãi ngộ thoả đáng. Đồng thời, phải xây dựng được quy chế hoạt động đặc thù phù hợp với tính chất và tầm quan trọng của đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân, mà đặc biệt là đối với đội ngũ lãnh đạo trong cơ quan Toà án cần có những yêu cầu đặc thù triêng, đó là bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; có năng lực tổng kết thực tiễn và dự báo, định hướng sự phát triển; mẫu mực về đạo đức, lối sống, có tác phong dân chủ, khoa học; biết tập hợp quần chúng, đoàn kết tập thể, cơ quan, đơn vị và cộng đồng; có kiến thức về khoa học và nghệ thuật lãnh đạo, quản lý, có bề dày kinh nghiệm thực tiễn.

3. Các điều kiện bảo đảm xây dựng đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án

Để bảo đảm xây dựng đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, cần quán triệt đầy đủ và bám sát các quan điểm, định hướng của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, cùng với việc thi hành nghiêm túc các quy định của pháp luật về kiện toàn, ổn định tổ chức gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cụ thể như sau:

3.1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với tổ chức và hoạt động của Tòa án

Lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước đã cho thấy mọi thắng lợi, thành tích mà nhân dân ta đã đạt được trong bất kỳ lĩnh vực nào đều có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng được khẳng định cả trong lý luận và thực tiễn. Bản chất, vai trò và phương thức hoạt động của Đảng được ghi nhận tại Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 như sau:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.

3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”.

Đối với Tòa án, là một bộ phận trong bộ máy nhà nước được giao thực hiện quyền tư pháp, đương nhiên tổ chức và hoạt động của Tòa án phải chịu sự lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo Tòa án là để giữ vững bản chất và bảo đảm vai trò của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Với ý nghĩa chính trị quan trọng này, nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với cơ quan Tòa án phải được giữ vững cả về quan điểm và trên hành động thực tế. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác Tòa án được thực hiện thông qua các Nghị quyết, văn kiện của Đảng và công tác cán bộ.

3.2. Các quan điểm, chủ trương của Đảng về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong thời kỳ đổi mới

a) Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII (ngày 23/01/1995) về nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân: “Về tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án nhân dân, trên cơ sở kiện toàn tổ chức và cán bộ, nghiên cứu tăng thẩm quyền xét xử cho tòa án nhân dân cấp quận, huyện theo hướng việc xét xử sơ thẩm được thực hiện chủ yếu ở tòa án cấp này. Tòa án cấp tỉnh chủ yếu xét xử phúc thẩm. Tòa án nhân dân tối cao chủ yếu xét xử giám đốc thẩm, tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn các tòa án địa phương thực hiện xét xử thống nhất theo pháp luật. Hạn chế việc xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm. Nghiên cứu tiếp tục thành lập các tòa chuyên môn. Tổng kết thực tiễn công tác quản lý tòa án địa phương, xác định rõ trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong việc quản lý các tòa án địa phương về tổ chức và cán bộ. Đẩy mạnh việc xét và giải quyết kháng cáo và các khiếu nại, tố cáo về công tác xét xử, bảo đảm công bằng và nghiêm minh”.

b) Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII (ngày 18/6/1997) tiếp tục khẳng định phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân: “Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử. Bỏ thủ tục xét xử sơ chung thẩm của Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án quân sự trung ương. Nghiên cứu áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử kịp thời một số vụ án đơn giản, rõ ràng. Tòa án nhân dân tối cao tập trung vào công tác tổng kết xét xử, hướng dẫn các tòa án địa phương áp dụng thống nhất pháp luật và làm tốt chức năng giám đốc xét xử. Nghiên cứu phân cấp thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán tòa án cấp tỉnh và tòa án cấp huyện; đồng thời căn cứ vào tình hình đội ngũ cán bộ hiện nay mà điều chỉnh tiêu chuẩn tuyển chọn cho phù hợp, để kịp thời bổ sung thẩm phán cho tòa án cấp huyện và tòa án cấp tỉnh”. 

c) Nghị quyết Trung ương 7 khóa VIII (ngày 16/8/1999) về nội dung kiện toàn tổ chức, bộ máy của ngành Tòa án: “Đảng đoàn Quốc hội phối hợp với Ban cán sự đảng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo việc sắp xếp hợp lý tổ chức của hai ngành kiểm sát và tòa án;…; tổ chức nghiên cứu, xây dựng đề án cụ thể về tổ chức, chức năng, thẩm quyền của các cơ quan kiểm sát, tòa án theo các định hướng đã đề ra ở Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII, Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII và Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần này”.

d) Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX với chủ trương cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của Tòa án nhân dân: “…Sắp xếp lại hệ thống tòa án nhân dân, phân định hợp lý thẩm quyền và tổ chức các tòa án theo cấp xét xử; nâng cao tiêu chuẩn, năng lực, trách nhiệm công tác đối với những người làm công tác xét xử. Tăng cường đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân cả về số lượng và chất lượng”.

đ) Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó có nhiệm vụ “xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch vững mạnh và tăng cường cơ sở vật chất bảo đảm cho các cơ quan tư pháp có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ, có chế độ chính sách hợp lý đối với cán bộ tư pháp”.

e) Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, trong đó đề ra yêu cầu: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp phù hợp với mục tiêu, định hướng của Chiến lược cải cách tư pháp; xác định đúng, đủ quyền năng và trách nhiệm pháp lý cho từng cơ quan, chức danh tư pháp. Trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, bảo đảm Tòa án xét xử độc lập, đúng pháp luật, kịp thời và nghiêm minh; phân định thẩm quyền xét xử của Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử. Hoàn thiện cơ chế quản lý Tòa án nhân dân địa phương theo hướng bảo đảm tính độc lập giữa các cấp Tòa án trong hoạt động xét xử”.

g) Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đã đề ra phương hướng và các nhiệm vụ cơ bản đối với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án đến năm 2020; cụ thể là:

- Tổ chức lại Hệ thống Tòa án theo, hướng: “Tổ chức Hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Việc thành lập Toà chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp Toà án, từng khu vực. Đổi mới tổ chức Toà án nhân dân tối cao theo hướng tinh gọn với đội ngũ thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong ngành;

- Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền, hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình. Mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu kiện hành chính. Nghiên cứu, xác định hợp lý phạm vi thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự theo hướng chủ yếu xét xử những vụ án về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, những vụ án liên quan đến bí mật quân sự;

- Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp. Đối mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý;

- Từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ, Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định;

- Xây dựng đội ngũ Thẩm phán, cán bộ Tòa án các cấp trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xét xử;

- Xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện làm việc hiện đại, khoa học cho Tòa án các cấp và cung cấp đầy đủ kinh phí hoạt động cho Tòa án phù hợp tính chất đặc thù của công tác xét xử.

h) Nghị quyết Trung ương 4 khóa X (ngày 09/02/2007) về nội dung đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy đối với Tòa án nhân dân: “Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, tiếp tục thực hiện cải cách tư pháp trong giai đoạn mới; bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, hạn chế tối đa các trường hợp oan sai. Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng công tác xét xử của tòa án các cấp, bảo đảm tính chuyên sâu, phù hợp với yêu cầu công tác xét xử hiện nay. Tích cực chuẩn bị để thành lập tòa án khu vực. Kiện toàn tòa án hành chính để giải quyết các khiếu nại về hành chính của công dân”.

i) Nghị quyết Trung ương 9 khóa X (ngày 02/02/2009) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020.

k) Kết luận số 79-KL/TW ngày 28-7-2010 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định tổ chức Toà án theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW gồm 4 cấp; cụ thể là:

-    Toà án nhân dân sơ thẩm khu vực xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ, việc thuộc thẩm quyền của Toà án (như Toà án nhân dân cấp huyện hiện nay) và từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử các khiếu kiện hành chính. Toà án nhân dân sơ thẩm khu vực thành lập ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện trong cùng một đơn vị hành chính cấp tỉnh.

-    Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định của Toà án nhân dân sơ thẩm khu vực có kháng cáo, kháng nghị và xét xử sơ thẩm một số vụ án không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân sơ thẩm khu vực thuộc địa hạt của tỉnh; không thực hiện nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm. Mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh có một Toà án nhân dân cấp tỉnh như hiện nay, nhưng không còn Ủy ban Thẩm phán.

-    Toà án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có kháng cáo, kháng nghị và giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật nhưng lại kháng nghị. Trước mắt, thành lập 3 Toà án nhân dân cấp cao tại ba khu vực: Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.

-    Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật; được tổ chức tinh gọn với số lượng thẩm phán từ 13 - 17 người, là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm xét xử và có uy tín cao trong xã hội.

l) Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI với chủ trương đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hình sự, dân sự, thủ tục tố tụng tư pháp và về tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp, bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, đề cao tính độc lập, khách quan, tuân thủ pháp luật của từng cơ quan và chức danh tư pháp. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân: “Đổi mới hệ thống tổ chức tòa án theo thẩm quyền xét xử, bảo đảm cải cách hoạt động xét xử là trọng tâm của cải cách hoạt động tư pháp; mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án đối với các khiếu kiện hành chính”.

m) Kết luận số 20-KL/TW ngàỵ 25-5-2012 tại Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 đã xác định bản chất và mô hình tổng thể của bộ máy nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.

3.3. Các quy định của pháp luật

a) Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6, thông qua ngày 28/11/2013 quy định về Tòa án nhân dân: “1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. 2.  Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định.(Điều 102); Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.”(Điều 106).

b) Luật tổ chức Tòa án nhân dân (được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 02-4-2002) quy định về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, cụ thể: “quy định về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của Tòa án các cấp; các nguyên tắc trong xét xử; chế độ bổ nhiệm Thẩm phán và bầu, cử Hội thẩm; quy định về vấn đề bảo đảm hoạt động của Tòa án”.

c) Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân (được Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 04-10-2002) quy định về Thẩm phán và Hội thẩm, cụ thể: “quy định về các loại Thẩm phán, Hội thẩm; tiêu chuẩn, thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán; nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ đối với Thẩm phán; tiêu chuẩn, thủ tục bầu, cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm và nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ đối với Hội thẩm; nhiệm kỳ của Thẩm phán và Hội thẩm”.

d) Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân, có hiệu lực thi hành từ 01-7-2011, sửa đổi: “Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tương đương sang ngạch Thẩm phán trung cấp; Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện, Thẩm phán Tòa án quân sự khu vực sang ngạch Thẩm phán sơ cấp”.

Dự thảo Luật tổ chức Tòa án nhân dân đang được Quốc hội khóa XIII xem xét thông qua. Khi được thông qua, Luật này thay thế Luật tổ chức Tòa án nhân dân số 33/2002/QH10 ngày 02-4-2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân số 02/2002/PL-UBTVQH11 ngày 04-10-2002, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân số 14/2011/PL-UBTVQH12 ngày 19-02-2011 và Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự số 04/2002/PL-UBTVQH11 ngày 4-11-2002.

3.4. Sự chỉ đạo và hoạt động của Quốc hội đối với công tác Tòa án nói chung, trong đó có công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án

Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất thực hiện quyền lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, hoạt động của Quốc hội có vai trò quyết định đối với sự trưởng thành, lớn mạnh của Tòa án; có ý nghĩa quyết định đối với những đổi mới, cải cách nhằm nâng cao năng lực xét xử và giải quyết các vụ việc của Tòa án.

Bằng việc ban hành các Luật, Pháp lệnh và các Nghị quyết, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội (cơ quan thường trực của Quốc hội) đã thể chế hóa các quan điểm, định hướng của Đảng, tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho những đổi mới về tổ chức và hoạt động của Tòa án. Luật Tổ chức Tòa án năm 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân (sửa đổi, bố sung năm 2011) và các nghị quyết có liên quan được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý để công tác tổ chức của Tòa án được kiện toàn một bước, đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án; cơ sở vật chất, phương tiện làm việc được tăng cường, củng cố cả về số lượng và chất lượng.

Một trong hai chức năng quan trọng của Quốc hội là thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, trong đó có công tác Tòa án. Hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Tòa án được thực hiện thông qua việc xem xét báo cáo công tác của Tòa án nhân dân tối cao, xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao, xem xét việc trả lời chất vấn của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; hoạt động giám sát của Quốc hội còn được thực hiện thông qua hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội. Thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội phát hiện những tồn tại, bất cập, những sai sót trong tổ chức và hoạt động của Tòa án, giúp Tòa án nhân dân tối cao phát hiện những sai sót và có biện pháp khắc phục kịp thời.

IV. CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN VÀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TÒA ÁN TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

1. Nhóm giải pháp về quán triệt sâu sắc các quan điểm và mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của Đảng theo định hướng Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, sáng tạo, gắn bó với nhân dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là chủ trương và chính sách lớn trong nội dung công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước ta. Đại hội lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: “Mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí…”, “Nhiệm vụ quan trọng nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược và người đứng đầu tổ chức các cấp, các ngành của hệ thống chính trị…”, “Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ các khâu: đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ…”, “Xây dựng và thực hiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài…”. 

Quán triệt đầy đủ nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ. Làm tốt công tác quy hoạch và đào tạo nguồn cán bộ. Đánh giá, bồi dưỡng, lựa chọn, sử dụng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu. Đổi mới, trẻ hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển. Thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý. Xây dựng, chỉnh đốn hệ thống các cơ sở đào tạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

2. Nhóm giải pháp về đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác cán bộ

Nội dung của nhóm giải pháp này tập trung chủ yếu các vấn đề về đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của đảng về công tác cán bộ; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đi đôi với phát huy trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân.

2.1. Về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ ngành Tòa án nhân dân

Trong hoạt động của ngành Tòa án nhiệm vụ chính trị được chú trọng nhất đó là nhiệm vụ xét xử các vụ án, Thẩm phán là người thực hiện nhiệm vụ này. Để đảm bảo tính vô tư, khách quan của Thẩm phán khi xét xử pháp luật đã quy định “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Do vậy, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ trong ngành Tòa án phải vừa bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đồng thời bảo đảm không ảnh hưởng đến tính độc lập của các Thẩm phán để hướng tới việc xét xử nghiêm minh, đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác cán bộ của ngành Tòa án trong thời gian qua được thực hiện thông qua Ban cán sự đảng và cấp ủy đảng các cấp. Ở Tòa án nhân dân tối cao có Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao, ở các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố. Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo toàn ngành Tòa án làm đúng quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lo củng cố tổ chức, cán bộ đảm bảo có đội ngũ cán bộ đủ bản lĩnh chính trị, tinh thông nghiệp vụ và trong sạch về phẩm chất đạo đức. Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm trước Đảng bộ, Ban thường vụ tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc bảo đảm cho toàn ngành Tòa án tỉnh, thành phố làm đúng quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo thực hiện một số nhiệm vụ trong công tác cán bộ theo quy định của pháp luật hoặc được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giao. Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ lãnh đạo công tác cán bộ trong Tòa án tỉnh và cả các Tòa án cấp huyện thuộc tỉnh quản lý. Việc quy định cấp ủy đảng cùng cấp lãnh đạo việc bổ nhiệm các chức vụ Chánh án, Phó Chánh án và chức danh Thẩm phán là cần thiết, nhưng đối với Tòa án thì cần phải chú ý có phương thức lãnh đạo phù hợp để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về công tác cán bộ trong ngành Tòa án mà không ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án.

Trong thời gian tới, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác cán bộ ngành Tòa án là rất cấp thiết, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đã nêu rõ: “Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp. Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân”. Do vậy, trong quá trình thực hiện chiến lược cải cách tư pháp cần phải coi trọng đổi mới tổ chức, hoạt động của Tòa án, coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhất phải được ưu tiên hàng đầu. Trong những năm qua, chủ trương này chưa có được sự quan tâm thực hiện đúng mức. Vị trí, vai trò của Tòa án chưa được đặt đúng tầm trong bộ máy của Nhà nước, vị thế của Chánh án và Thẩm phán chưa được đề cao trong xã hội. Trong thời gian chuẩn bị tiến hành Đại hội Đảng các cấp vừa qua, mặc dù đã có định hướng về cơ cấu Chánh án Tòa án nhân dân tham gia cấp ủy địa phương nhưng trên thực tế chỉ có khoảng 2/3 Chánh án Tòa án địa phương tham gia cấp ủy. Trong bộ máy nhà nước Chánh án Tòa án các địa phương thường có một vị trí khá khiêm tốn, chỉ tương đương với các Giám đốc sở, ban, ngành cùng cấp. Vị trí, vai trò của ngành Tòa án chưa được cải thiện đáng kể và đang phải đối mặt với những thách thức về nguy cơ lạm quyền từ phía các cơ quan công quyền và những người có thẩm quyền trong thi hành công vụ; lòng tin của người dân vào công lý, sự công bằng xã hội bị giảm sút.

Để nâng cao vị thế của Tòa án, làm cho Tòa án mạnh lên, được người dân, doanh nghiệp tin tưởng nhờ cậy thì cần tăng cường tính độc lập của Tòa án, khi xét xử Thẩm phán phải hoàn toàn độc lập. Cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức đổi mới sự lãnh đạo của Đảng về công tác cán bộ ngành Tòa án trong thời gian tới theo hướng các tổ chức đảng trong các cơ quan Tòa án địa phương không theo cấp hành chính mà nên cơ cấu theo ngành dọc. Trước mắt, khi thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực, các Tòa án cấp tỉnh vẫn theo đơn vị hành chính cấp tỉnh thì tổ chức đảng của các Tòa án khu vực trực thuộc Đảng bộ Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Đảng bộ Tòa án nhân dân cấp tỉnh trực thuộc Đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

2.2. Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đi đôi với phát huy trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ của ngành Tòa án nhân dân

Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân thì Chánh án là người đứng đầu trong các Tòa án, Chánh án được bổ nhiệm làm thủ trưởng trong bộ máy quản lý, điều hành của một Tòa án. Trong công tác cán bộ Chánh án có trách nhiệm triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ của đơn vị mình đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ được giao. Để đề cao trách nhiệm của Chánh án đối với công tác cán bộ cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa vai trò trách nhiệm của Bí thư Ban cán sự và nhiệm vụ quyền hạn của Chánh án. Hiện nay, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao bao gồm đồng chí Chánh án, các đồng chí Phó Chánh án và đồng chí Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Cán bộ; Ban cán sự đảng Tòa án các tỉnh bao gồm đồng chí Chánh án, các đồng chí Phó Chánh án và đồng chí Trưởng phòng Phòng Tổ chức - Cán bộ. Xét về cơ cấu nhân sự thì cuộc họp ban cán sự đảng và cuộc họp lãnh đạo cơ quan đều có thành phần giống nhau. Tuy nhiên, xét về nguyên tắc và phương thức hoạt động của ban cán sự và lãnh đạo cơ quan thì có sự khác nhau. Sự khác nhau cơ bản là ban cán sự đảng làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, quyết định theo đa số chứ không phải theo chế độ thủ trưởng. Khi họp Ban cán sự Chánh án với tư cách là thành viên Ban cán sự thì Chánh án bình đẳng như mọi thành viên khác của Ban cán sự khi biểu quyết. Đương nhiên Chánh án là người đề xuất vấn đề để tập thể Ban cán sự đảng thảo luận và biểu quyết. Trường hợp Chánh án không đồng ý thì báo cáo lên cấp trên. Như vậy vừa bảo đảm chế độ tập thể lãnh đạo, vừa phát huy vai trò của cá nhân Chánh án. 

Tòa án với vai trò là trung tâm của cải cách tư pháp, ngoài việc đổi mới về tổ chức còn cần phải quan tâm đổi mới về công tác cán bộ. Mục tiêu lớn nhất và cũng là cần thiết nhất hiện nay của việc đổi mới công tác cán bộ Tòa án là xây dựng lòng tin của nhân dân, của xã hội đối với hoạt động xét xử của các Thẩm phán. Khi người dân đã tin vào tư pháp là tin vào nền công lý của một quốc gia, tức là tin vào pháp luật. Pháp luật của nước ta, thực chất là thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng, do đó tin vào hoạt động tư pháp là tin vào đường lối lãnh đạo của Đảng, mất lòng tin đối với các hoạt động tư pháp là mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn vừa qua cho thấy, một số đơn vị Tòa án có cán bộ sai phạm bị xử lý hình sự, xử lý hành chính nhưng việc xem xét trách nhiệm của người đứng đầu ở các đơn vị này rất khác nhau, lý do, vì chưa có một văn bản nào quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu về công tác cán bộ.

Để giải quyết vấn đề này, Bộ Chính trị hoặc Ban Bí thư cần phải ban hành văn bản quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong công tác cán bộ. Trước mắt, lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn bản quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị trong ngành Tòa án, để đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Việc ban hành quy định này, nhằm mục đích quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị, trước hết phải xác định rõ quyền hạn của người đứng đầu trong công tác cán bộ. Trên cơ sở xác định quyền hạn của người đứng đầu để quy định trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ, bảo đảm thực hiện nguyên tắc: quyền hạn đi đôi với trách nhiệm, quyền hạn càng cao thì trách nhiệm càng lớn; người ra quyết định thì phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ phải được quy định cụ thể, gắn với sai phạm (nếu có và với mức độ khác nhau) của cán bộ dưới quyền. Ngoài ra, việc ban hành quy định này còn nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm người đứng đầu trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dưới quyền, trong việc lựa chọn cán bộ có phẩm chất và năng lực để bố trí vào các vị trí lãnh đạo, quản lý góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Về thẩm quyền và trách nhiệm cụ thể của người đứng đầu đơn vị cần quy định theo hướng sau đây:

a) Về thẩm quyền của người đứng đầu:

- Quyết định việc phân công nhiệm vụ công tác cho cán bộ dưới quyền theo phân cấp quản lý cán bộ trong cơ quan, đơn vị do mình phụ trách để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Nội dung này thuộc về thẩm quyền quản lý và sử dụng cán bộ trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Về hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có ảnh hưởng rất lớn đến thẩm quyền này của những người đứng đầu. Ở cơ quan, đơn vị nào mà người đứng đầu giữ đúng nguyên tắc làm việc, tôn trọng nguyên tắc dân chủ, khách quan, vô tư, trước khi quyết định những vấn đề về công tác cán bộ đều làm theo đúng quy trình, quy định bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ… thì những đơn vị đó cán bộ sẽ phát huy được khả năng công tác của mình, đơn vị sẽ luôn luôn đoàn kết, năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc đạt cao.

- Người đứng đầu có thẩm quyền phát hiện, đề xuất với tập thể lãnh đạo lập quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị của mình. Quy hoạch cán bộ là một khâu quan trọng trong công tác cán bộ, những cơ quan, đơn vị làm tốt công tác quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý thì không bị động khi phải điều chuyển, thay thế cán bộ và có được những cán bộ có đủ năng lực, trình độ để đảm nhiệm công việc được phân công.

- Người đứng đầu phải được hỏi ý kiến trước khi cấp trên quyết định điều động, luân chuyển cán bộ đến cơ quan, đơn vị mình để giữ các chức danh cán bộ do cấp trên quản lý hoặc chuyển công tác khỏi cơ quan, đơn vị mình. Người đứng đầu được quyền trình bày rõ ý kiến của mình về việc tiếp nhận hoặc không tiếp nhận, cho chuyển hoặc không cho chuyển công tác đối với cán bộ đó. Cấp trên có thẩm quyền quyết định cần cân nhắc kỹ lưỡng ý kiến của người đứng đầu trước khi quyết định.

- Người đứng đầu được quyền đề nghị với tập thể lãnh đạo thảo luận quyết định hoặc đề nghị cấp trên quyết định việc điều chuyển, miễn nhiệm cán bộ dưới quyền khi cán bộ năng lực kém, không hoàn thành nhiệm vụ hoặc tín nhiệm thấp.

- Người đứng đầu được quyền nhận xét, đánh giá phẩm chất, năng lực của cán bộ và nhu cầu sử dụng cán bộ để đề xuất kéo dài thời gian công tác của cán bộ dưới quyền theo đúng quy định của Đảng và Nhà nước để tập thể lãnh đạo xem xét, quyết định hoặc đề nghị cấp trên xem xét, quyết định.

Ngoài năm nội dung quy định về thẩm quyền của người đứng đầu đối với công tác cán bộ đã nêu trên, còn một số nội dung khác cũng cần lưu ý trong khi xây dựng quy định về thẩm quyền người đứng đầu, đó là:

+ Người đứng đầu phải tham khảo nhiều ý kiến trong việc lựa chọn và giới thiệu nhiều phương án để tập thể lãnh đạo có thẩm quyền xem xét, quyết định.

+ Cán bộ do người đứng đầu giới thiệu hoặc chỉ đạo cơ quan tham mưu về công tác cán bộ chuẩn bị để giới thiệu ra tập thể lãnh đạo xem xét, quyết định bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử nói chung phải trong diện quy hoạch chức danh đó.

+ Việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử phải được tập thể lãnh đạo có thẩm quyền nhất trí theo nguyên tắc đa số (quá bán). Nếu tập thể lãnh đạo không đồng ý với đề xuất của người đứng đầu thì người đứng đầu cần cân nhắc, lựa chọn, giới thiệu hoặc chỉ đạo cơ quan tham mưu về công tác cán bộ chuẩn bị để giới thiệu nhân sự khác.

+ Trường hợp tập thể lãnh đạo thảo luận, bỏ phiếu cho 02 người có số phiếu ngang nhau (50/50), thì người đứng đầu thể hiện rõ ý kiến của mình và chọn nhân sự do người đứng đầu giới thiệu để quyết định bổ nhiệm hoặc giới thiệu ứng cử nếu nhân sự thuộc thẩm quyền của cấp mình; hoặc đề nghị cấp trên bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử nếu nhân sự thuộc thẩm quyền của cấp trên, đồng thời báo cáo đầy đủ các ý kiến khác nhau để cấp trên xem xét, quyết định.

+ Trường hợp cán bộ không do người đứng đầu giới thiệu, được các thành viên trong tập thể lãnh đạo phát hiện, giới thiệu và thống nhất (theo nguyên tắc đa số) đề nghị bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, nhưng ý kiến của người đứng đầu không đồng ý với ý kiến đa số, thì báo cáo đầy đủ ý kiến của tập thể và ý kiến của người đứng đầu lên cơ quan có thẩm quyền cấp trên cho ý kiến chỉ đạo. Sau đó, tập thể lãnh đạo thảo luận lại; nếu ý kiến của người đứng đầu và của tập thể vẫn khác nhau thì báo cáo cấp trên xem xét, quyết định. Người đứng đầu được quyền trình bày rõ ý kiến của mình với cơ quan cấp trên.

b) Về trách nhiệm:

- Trách nhiệm chung: người đứng đầu chịu trách nhiệm trước cấp trên và trước đơn vị về việc phát  hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, theo dõi, đánh giá, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vào các vị trí lãnh đạo, quản lý và việc quản lý, sử dụng cán bộ dưới quyền theo phân cấp.

- Trách nhiệm cụ thể:

+ Khi cán bộ dưới quyền trực tiếp có biểu hiện hoặc dấu hiệu sai phạm liên quan đến việc thi hành chức trách, nhiệm vụ được giao mà người đứng đầu không có biện pháp nhắc nhở, ngăn chặn kịp thời; hoặc khi cán bộ dưới quyền trực tiếp vị phạm đạo đức, tư cách cán bộ, đảng viên mà người đứng đầu không kịp thời quyết định hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền quyết định điều chuyển, miễn nhiệm dẫn đến việc cán bộ mắc sai phạm, bị xử lý hình sự hoặc kỷ luật hành chính, thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm và bị xử lý kỷ luật tùy theo tính chất và mức độ bị xử lý hình sự hoặc kỷ luật hành chính của những cán bộ dưới quyền trực tiếp và tùy theo tính chất, mức độ trách nhiệm của người đứng đầu.

+ Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về sai phạm của cán bộ dưới quyền trực tiếp. Trong trường hợp cùng một mức độ sai phạm của cán bộ dưới quyền trực tiếp, nếu cán bộ đó do người đứng đầu đề xuất, giới thiệu thì phải chịu trách nhiệm và bị xử lý kỷ luật nặng hơn so với sai phạm của cán bộ mà người đứng đầu không đề xuất hoặc không đồng ý giới thiệu. Người đứng đầu chịu trách nhiệm và bị xử lý kỷ luật nặng hơn đối với sai phạm của cán bộ lãnh đạo do cấp trên quản lý (cấp phó của người đứng đầu) so với sai phạm của cán bộ do cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý.

+ Nếu cán bộ do hiệp y bổ nhiệm mắc sai phạm, thì người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm cán bộ và cơ quan hiệp y bổ nhiệm cán bộ đều phải chịu trách nhiệm và bị xử lý kỷ luật, trong đó người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm cán bộ phải chịu trách nhiệm và bị xử lý kỷ luật nặng hơn so với người đứng đầu cơ quan hiệp y bổ nhiệm cán bộ.

+ Người đứng đầu chịu trách nhiệm và bị xử lý kỷ luật nặng hơn nếu để nhiều cán bộ dưới quyền trực tiếp mắc sai phạm bị xử lý hình sự hoặc kỷ luật hành chính trong cùng một thời gian.

+ Người đứng đầu được miễn, giảm hình thức kỷ luật nếu đã có các biện pháp nhắc nhở, ngăn chặn cần thiết đối với cán bộ dưới quyền mắc sai phạm hoặc đã kịp thời phát hiện, đề xuất với cơ quan cấp trên có thẩm quyền quản lý, trực tiếp quyết định đối với cán bộ về các sai phạm của cán bộ.

+ Người đứng đầu bị xử lý nhẹ hơn nếu vì năng lực yếu kém mà không đánh giá đúng trình độ, năng lực của cán bộ dưới quyền, bố trí cán bộ không đúng, không kịp thời phát hiện những sai phạm của cán bộ dưới quyền để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời.

+ Người đứng đầu bị xử lý nặng hơn nếu chủ quan, thấy cấp dưới sai phạm nhưng không xử lý, để trì trệ kéo dài, dẫn đền hậu quả xấu.

+ Người đứng đầu bị xử lý nặng hơn nữa nếu cố tình bao che, dung túng cho cán bộ dưới quyền mắc sai phạm, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

+ Người đứng đầu chỉ đạo công tác cán bộ mà vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc, quy trình và thẩm quyền trong công tác cán bộ; thiếu trách nhiệm trong quản lý cán bộ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng; nhận hối lộ trong việc bổ nhiệm, đề bạt cán bộ… thì còn bị xử lý về hình sự theo quy định của pháp luật.

- Hình thức kỷ luật:

+ Khi để cán bộ dưới quyền trực tiếp bị xử lý hình sự hoặc kỷ luật bằng hình thức từ cách chức trở lên, thì người đứng đầu phải bị xử lý kỷ luật.

+ Nếu để nhiều cán bộ dưới quyền trực tiếp sai phạm, bị xử lý kỷ luật với hình thức thấp hơn cách chức, thì người đứng đầu cũng bị xử lý kỷ luật.

Hình thức kỷ luật cụ thể tùy thuộc vào tính chất và mức độ bị xử lý hình sự hoặc kỷ luật hành chính của cán bộ dưới quyền trực tiếp và tính chất, mức độ trách nhiệm của người đứng đầu theo quy định của pháp luật hành chính hoặc Điều lệ đảng.

3. Nhóm giải pháp về đổi mới công tác tổ chức cán bộ

3.1. Hoàn thiện thể chế về công tác tổ chức cán bộ

Để nâng cao chất lượng công tác cán bộ và xây dựng dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, cần coi trọng thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật, xây dựng và thực hiện đầy đủ các quy chế, quy định trong công tác cán bộ; cụ thể:

- Thực hiện tổng kết, đánh giá việc thực hiện những quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; trên cơ sở rà soát, phân loại cán bộ, căn cứ vào các quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ và đặc thù của ngành Tòa án nhân dân, xây dựng vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức đối với từng đơn vị, từng Tòa án gắn với việc xây dựng Bộ tiêu chuẩn các chức danh công chức ngành Tòa án nhân dân (bao gồm: công chức có chức danh tư pháp; công chức nghiên cứu và chuyên gia; các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ, công chức hành chính tư pháp và cán bộ, công chức khác) và thực hiện thống nhất trong toàn ngành Toà án nhân dân.

- Đổi mới cơ chế, phương pháp, nội dung và hình thức tuyển dụng, lựa chọn công chức phù hợp với việc kết hợp hệ thống chức nghiệp (việc làm gắn với năng lực làm việc).

- Xây dựng cơ chế phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ đối với công chức Tòa án có tài năng trong hoạt động công vụ.

- Xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các quy chế, quy định trong công tác cán bộ: về đánh giá cán bộ, công chức; về quy hoạch, luân chuyển cán bộ; về bổ nhiệm, đề bạt cán bộ, công chức; về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; về kiểm tra, giám sát và quản lý cán bộ, công chức; về kỷ luật cán bộ, công chức; về bảo vệ chính trị nội bộ…, bảo đảm sự gắn kết giữa các khâu trong công tác cán bộ.

Để bảo đảm thực hiện giải pháp này, Tòa án nhân dân các cấp cần triển khai quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ của cải cách tư pháp, gắn với thực hiện bảo đảm chất lượng, hiệu quả Kế hoạch đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức trong ngành Tòa án nhân dân giai đoạn từ nay đến năm 2015. Đồng thời, nghiên cứu, thể chế hóa các quan điểm của Đảng về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án thành các quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi).

3.2. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng cán bộ, công chức

Đổi mới cơ chế, phương pháp, nội dung và hình thức tuyển dụng, lựa chọn công chức phù hợp với việc kết hợp vị trí việc làm - năng lực công chức. Hoàn thiện cơ chế tuyển dụng cán bộ, công chức, thực hiện việc tuyển dụng thông qua thi cử công khai. Tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội cạnh tranh như nhau, qua thi cử mà chọn người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn thực sự. Xác định các hình thức, nội dung thi tuyển thích hợp với đặc điểm, yêu cầu cụ thể của từng loại cán bộ, công chức và phù hợp từng vùng, miền. Xây dựng cơ chế thi tuyển đảm bảo tính dân chủ, công khai, cạnh tranh, chọn đúng người tài, đức vào cơ quan Tòa án.

Muốn thực hiện được vấn đề này, điều quan trọng là phải xây dựng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt, rõ ràng và thủ tục minh bạch trong thi tuyển để nâng cao chất lượng người được tuyển dụng. Xác định hệ thống các tiêu chí để tuyển dụng công chức dựa vào 3 căn cứ chủ yếu: hiểu biết (kiến thức đo đếm được tại thời điểm tuyển dụng); biết cách làm (khả năng tư duy, hành động sáng tạo và phát triển trong tiến trình nghề nghiệp hay để thực hiện những chức năng khác); biết cách đối xử (hành vi xã hội, tính thích nghi với môi trường xã hội, hội nhập vào nhóm, tập thể và khả năng lãnh đạo). Đồng thời, kiên quyết loại trừ các hiện tượng tiêu cực nhằm tạo cho ngành sức thu hút những cá nhân có tài năng; xử lý kịp thời và nghiêm minh hành vi sai phạm của người làm công tác tuyển dụng và người đang muốn được tuyển dụng. Trên cơ sở đó, mới xây dựng được một đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, chính quy, hiện đại bao gồm những người ưu tú, đủ khả năng đảm đương các công việc của Tòa án trong điều kiện hiện nay.

Xây dựng và thực hiện thống nhất cơ chế tạo nguồn: có thể thu hút các sinh viên xuất sắc trong các trường đại học được đào tạo về chuyên ngành luật, để sau khi ra trường về làm việc trong cơ quan Tòa án bằng cách cấp học bổng cho những sinh viên này trong suốt thời gian học, tất nhiên là với những điều kiện có tính bắt buộc như sau khi tốt nghiệp được bố trí làm việc trong cơ quan Tòa án với thời gian được xác định theo thỏa thuận; phối hợp với các cơ sở đào tạo đại học trong nước, xây dựng cơ chế, kế hoạch đào tạo cử nhân luật hệ cử tuyển (ngắn hạn) đối với các đối tượng là con em người có công với cách mạng, dân tộc thiểu số hoặc người địa phương, để cung cấp nguồn cán bộ cho các địa phương thuộc vùng sâu, vùng xa, biên giới…

3.3. Hoàn thiện và nâng cao chất lượng các khâu trong công tác cán bộ

a) Thực hiện rà soát để bào đảm bố trí, sắp xếp và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức có hiệu quả

Thực hiện rà soát việc bố trí, sắp xếp, sử dụng cán bộ, công chức theo định kỳ hàng năm và theo từng giai đoạn, để bố trí, sắp xếp và sử dụng Thẩm phán và cán bộ, công chức bảo đảm phù hợp với năng lực, sở trường đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; đồng thời, để chủ động bố trí, sắp xếp Thẩm phán và cán bộ, công chức có năng lực, triển vọng đảm nhiệm các công việc quan trọng, nhất là đối với diện quy hoạch chức danh lãnh đạo, quản lý. Đồng thời, kiên quyết thay thế, bãi miễn những Thẩm phán và cán bộ, công chức (kể cả công chức lãnh đạo) năng lực yếu kém, thường xuyên không hoàn thành nhiệm vụ hoặc có tham nhũng, tiêu cực.

b) Đổi mới và năng cao hiệu quả công tác đánh giá, quy hoạch và luân chuyển cán bộ, công chức

Công tác cán bộ, trong đó phân loại, đánh giá cán bộ, công chức là tiền đề, quy hoạch cán bộ là nền tảng, luân chuyển cán bộ là đột phá và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài.

Đánh giá cán bộ có vị trí quan trọng đặc biệt vì nó liên quan đến sinh mnh chính trị của người cán bộ; đến việc bố trí, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhưng đồng thời đây là công tác rất phức tạp dễ rơi vào chủ quan, thiếu công tâm của người đánh giá do không nắm chắc cán bộ và vì thành kiến, hẹp hòi. Do đó, để đánh giá đúng cán bộ phải dựa vào tiêu chuẩn và hiệu quả công tác thực tế, bao gồm cả hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội; đánh giá phải toàn diện, cụ thể, công tâm, khắc phục tình trạng đánh giá theo cảm tính chủ quan, phiến diện. Đánh giá cán bộ phải chú trọng việc phát hiện nhân tài để đào tạo, bồi dưỡng trở thành những cán bộ lãnh đạo, quản lý tài giỏi. Các tiêu chuẩn đánh giá cần rõ ràng, cụ thể và hướng trọng tâm vào các chuẩn mực về chuyên môn nghiệp vụ, phải dựa vào các việc làm cụ thể liên quan đến chức trách được giao và chỉ đề cập đến những hành vi có thể nhận thấy được. Đánh giá một cán bộ, ngoài bản tự đánh giá cá nhân và bản nhận xét, đánh giá của cấp trên trực tiếp, cần tham khảo những ý kiến góp ý, nhận xét của các đồng nghiệp và những người có liên quan đến công việc của người cán bộ trong những khoảng thời gian xác định. Cuối cùng, để có một hệ thống đánh giá kết quả công việc tốt, cần phát triển một bầu không khí thảo luận công khai mà ở đó, kết quả công việc, những thành tích, khó khăn, vướng mắc có thể được thảo luận một cách công khai, dân chủ, mang tính xây dựng tập thể.

Quy hoạch cán bộ là sự chuẩn bị xây dựng đội ngũ cán bộ làm cơ sở để bố trí, sắp xếp cán bộ theo kế hoạch, dự kiến ban đầu và liên quan chặt chẽ đến các khâu của công tác cán bộ như đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, luân chuyển cán bộ... Để nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ theo đúng tinh thần Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30-11-2004 của Bộ Chính trị về Công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và các hướng dẫn của Trung ương, cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau: Một là, căn cứ vào tiêu chuẩn để xây dựng quy hoạch cán bộ. Trên cơ sở tiêu chuẩn chung mà Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội X đã xác định, cần cụ thể hóa tiêu chuẩn các chức danh làm cơ sở hướng đích cho công tác quy hoạch cán bộ; Hai là, khảo sát đánh giá lại đội ngũ cán bộ hiện có, khi đánh giá phải kết hợp chặt chẽ các kênh đánh giá (đó là cấp ủy trực tiếp quản lý đánh giá, thủ trưởng cơ quan, cơ quan tổ chức cán bộ, quần chúng…và bản thân cán bộ tự đánh giá). Khi đánh giá cán bộ cần xem xét tất cả các khía cạnh, môi trường, điều kiện công tác và lấy hiệu quả công tác thực tế làm thước đo phẩm chất và năng lực cán bộ. Mặt khác, để đánh giá chính xác cán bộ đòi hỏi chủ thể đánh giá phải dân chủ, công tâm, khách quan, toàn diện; Ba là, đảm bảo tính cơ cấu trong quy hoạch cán bộ. Cơ cấu phản ánh sự phát triển tuần tự, nhịp nhàng, được cấu kết chặt chẽ về mặt tổ chức của sự vật, hiện tượng. Đối với những nơi có đồng bào dân tộc thiểu số thì việc xử lý hài hòa cơ cấu dân tộc là vô cùng cần thiết, tuyệt đối hóa một yếu tố nào đó đều không đúng. Quy hoạch cán bộ cần theo hướng mở và động, không nên bó hẹp trong địa phương, cơ quan, đơn vị mình; Bốn là, định kỳ kiểm tra rút kinh nghiệm, bổ sung quy hoạch tạo nguồn, đưa ra khỏi diện quy hoạch những cán bộ suy thoái về phẩm chất đạo đức, năng lực hạn chế, phát hiện bổ sung những cán bộ có đức, tài vào nguồn quy hoạch; Năm là, coi trọng việc theo dõi, giám sát của quần chúng làm căn cứ để quy hoạch cán bộ.

Luân chuyển cán bộ, công chức thường xuyên là một hình thức rèn luyện, bồi dưỡng rất cần thiết để nâng cao kinh nghiệm và kỹ năng làm việc của cán bộ, công chức. Để đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đề ra nhiệm vụ “Luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý giữa các vùng, các cấp, các ngành”. Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 25-01-2002 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý là một chủ trương quan trọng về công tác cán bộ của Đảng và của hệ thống chính trị. Qua đó, tạo điều kiện đào tạo, bồi dưỡng toàn diện cho cán bộ trẻ, cán bộ có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch để tạo nguồn cán bộ lâu dài, tăng cường cho các địa bàn cần thiết, khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín trong công tác cán bộ của từng ngành, địa phương, đơn vị. Do vậy, công tác luân chuyển cán bộ, công chức chỉ có thể phát huy tác dụng và trở thành khâu đột phá khi nó được kết hợp chặt chẽ, đồng bộ với các khâu của công tác cán bộ. Đề phòng hiện tượng lạm dụng việc luân chuyển công chức để điều động cán bộ, công chức một cách tùy tiện, chủ quan không theo quy hoạch. Luân chuyển không đúng thì sẽ dẫn đến hậu quả là chất lượng công tác của cán bộ, công chức giảm sút vì công việc luôn bị thay đổi, tinh thần phân tâm, cơ hội phát triển sự nghiệp bị gián đoạn, cuộc sống bị đảo lộn… Đặc biệt, là đối với các cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, việc có thể bị đột ngột thuyên chuyển sang lĩnh vực công tác khác có thể gây ra áp lực rất lớn đối với họ…

Đẩy mạnh việc thực hiện luân chuyển cán bộ trong ngành Tòa án nhân dân theo hướng: Ở trung ương, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương Đảng và các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan ban ngành ở Trung ương thực hiện luân chuyển một số Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh tòa và tương đương còn trẻ, có triển vọng và có thể đảm đương chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương (như các ủy ban của Đảng, Quốc hội hoặc các cơ quan bảo vệ pháp luật) hoặc Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân địa phương. Đồng thời, điều động một số Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có năng lực lên giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa hoặc tương đương của Tòa án nhân dân tối cao. Ở địa phương, phối hợp với cấp ủy địa phương, thực hiện luân chuyển một số Chánh án, Phó Chánh án cấp huyện lên giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa và tương đương ở cấp tỉnh, đồng thời luân chuyển một số Chánh tòa, Phó Chánh tòa và tương đương cấp tỉnh giữ chức vụ Chánh án, Phó Chánh án Tòa án cấp huyện hoặc thực hiện luân chuyển ngang, từ Chánh án, Phó Chánh án địa phương này sang làm Chánh án, Phó Chánh án địa phương khác và ngược lại.

Đồng thời, cần tập trung nghiên cứu theo hướng quy định: lãnh đạo các Tòa chuyên trách của Tòa án nhân dân tối cao nhất thiết phải qua ít nhất một nhiệm kỳ là lãnh đạo Tòa án nhân dân địa phương (từ Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Phó Chánh án, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh); lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao nhất thiết phải trải qua ít nhất một nhiệm kỳ (hoặc có thể 2/3 nhiệm kỳ) là Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Về chức danh Thẩm phán cần quy định phải phát triển từ Thẩm phán cấp thấp lên Thẩm phán cấp cao hơn: từ Thẩm phán sơ cấp phải có thời gian ít nhất một nhiệm kỳ trở lên mới được xem xét, bổ nhiệm lên Thẩm phán trung cấp; phải có ít nhất 10 năm làm Thẩm phán trong cấp mới được xem xét, bổ nhiệm làm Thẩm phán cao cấp.

c) Nâng cao chất lượng công tác bổ nhiệm, đề bạt cán bộ, công chức

Để có một đội ngũ cán bộ, công chức giàu bản lĩnh, đủ năng lực trí tuệ, trong những năm qua, Ban cán sự đảng, lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ, trong đó có công tác bổ nhiệm cán bộ, công chức. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, nhận thức về công tác bổ nhiệm cán bộ, công chức về ý nghĩa, tầm quan trọng của đổi mới công tác bổ nhiệm cán bộ của Ban cán sự đảng, lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao ngày càng đúng đắn, sâu sắc hơn. Theo đó, công tác bổ nhiệm cán bộ, công chức bám sát nguyên tắc Đảng lãnh đạo thống nhất công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Cùng với việc thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, thủ tục và thẩm quyền trong bổ nhiệm cán bộ, công chức. 

Để thực hiện tốt giải pháp này, cần tiếp tục thực hiện tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác bổ nhiệm cán bộ, trên cơ sở đó nghiên cứu, xây dựng Quy chế bổ nhiệm cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân, gắn với công tác quy hoạch, luân chuyển và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.

3.4. Đổi mới, tăng cường và tạo sự chuyển biến sâu sắc trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án

Cần thiết và thực sự có quyết tâm đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng là giải pháp quan trọng có tính quyết định để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án. Lựa chọn, đào tạo phát triển nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trên cơ sở gắn với Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020 của Đảng, tập trung đổi mới và hoàn thiện việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở trong nước và chú trọng việc đưa cán bộ, công chức trong diện quy hoạch nguồn đi đào tạo ở các cơ sở đào tạo có uy tín của các quốc gia trên thế giới nhằm tận dụng, khai thác thế mạnh về đào tạo kiến thức chuyên môn sâu với kỹ năng nghề nghiệp, sử dụng tốt ngoại ngữ, tin học. Tăng cường sự chỉ đạo thống nhất từ Tòa án nhân dân tối cao đến các Tòa án địa phương, đồng thời thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng, rành mạch thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp Tòa án đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng; giữa Tòa án với các cơ quan hữu quan, giữa cơ quan chủ trì với cơ quan phối hợp, bảo đảm phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan, giữa các cấp, giữa các chương trình xây dựng, nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án. Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức phù hợp với yêu cầu công việc, bảo đảm đào tạo, bồi dưỡng vừa rộng, vừa chuyên sâu kết hợp giữa lý thuyết với kỹ năng nghiệp vụ Tòa án và bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị của ngành đối với đội ngũ cán bộ, công chức. Trên cơ sở đó, đổi mới mạnh mẽ về nội dung, chương trình, đội ngũ giảng viên, cơ chế tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và đầu tư có trọng tâm, trọng điểm về cơ sở vật chất, kinh phí cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức. Đồng thời, cần tăng cường sự quan tâm phối kết hợp giữa các cơ quan tư pháp với chính quyền địa phương trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức. Do việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức của ngành với số lượng lớn không thể giải quyết ngay nên cần phải có bước đi, hình thức phù hợp với từng đối tượng, từng chức danh; cụ thể:

Trước hết, trên cơ sở phân loại, quy hoạch cán bộ, cần xác định kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với từng loại chức danh cán bộ, công chức hiện có, bao gồm: công chức có chức danh tư pháp; cán bộ lãnh đạo, quản lý; công chức nghiên cứu và chuyên gia; công chức hành chính tư pháp và cán bộ, công chức khác. Ở những vùng dân tộc thiểu số, cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thêm về văn hóa để làm cơ sở cho việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn; đồng thời có kế hoạch bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số đối với cán bộ, công chức Tòa án ở địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số để phục vụ cho yêu cầu nhiệm vụ. 

Thứ hai, thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng theo chuyên đề để cập nhật các kiến thức, thông tin mới về văn bản quy phạm pháp luật, về nghiệp vụ Tòa án và các kiến thức về tin học, ngoại ngữ…, đặc biệt là trong điều kiện mở rộng hội nhập quốc tế và khu vực hiện nay.

Thứ ba, đa dạng hóa các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với từng loại đối tượng (công chức có chức danh tư pháp; cán bộ lãnh đạo, quản lý; công chức nghiên cứu, chuyên gia; công chức hành chính tư pháp và cán bộ, công chức khác) và loại hình học tập, điều kiện cơ sở vật chất thực tế của Nhà nước và của ngành; xây dựng chính sách khuyến khích, động viên, hỗ trợ cho cán bộ, công chức tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời có chính sách đào tạo nguồn cán bộ tại chỗ và thu hút những người được đào tạo chính quy về công tác tại cơ sở.

Thứ tư, xây dựng Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân đến năm 2020, gắn với Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước.

Để thực hiện tốt giải pháp này, ngành Tòa án nhân dân cần triển khai thực hiện tốt Đề án Nâng cao năng lực và mở rộng quy mô Trường cán bộ Tòa án (đã được phê duyệt tại Quyết định số 07/2011/QĐ-CA ngày 03/6/2011 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao) và thực hiện rút kinh nghiệm, nghiên cứu bổ sung những điểm mới và tiếp tục thực hiện đến năm 2020 và các giai đoạn sau; sớm nghiên cứu, triển khai kết luận của Bộ Chính trị về việc giao nhiệm vụ đào tạo cho Chánh án Toà án nhân dân tối cao (Thông báo số 116-TB/TW ngày 27-12-2012 của Bộ Chính trị), phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ ngành có liên quan, xây dựng Đề án thành lập Học viện Tòa án để đáp ứng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Tòa án các cấp. Đồng thời, xây dựng, hoàn thiện chương trình, nội dung, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo hướng:

- Đổi mới phương pháp đào tạo, bồi dưỡng trên cơ sở lấy người học làm trung tâm. Phải gắn kết chính sách đào tạo, bồi dưỡng với các khâu trong công tác cán bộ như quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động…tạo thành một chỉnh thể thống nhất, đồng bộ có tác dụng khuyến khích cán bộ, công chức vươn lên trong học tập và công tác; quy định cụ thể và nghiêm ngặt về các khóa đào tạo bắt buộc mà công chức phải trải qua trước khi nhận nhiệm vụ hay được bổ nhiệm, thăng tiến… lên các vị trí quản lý cao hơn. Từng bước ứng dụng công nghệ tin học vào nghiên cứu, giảng dạy.

- Chương trình và hình thức đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào trình độ và nhu cầu thực tế của từng loại cán bộ, công chức để có nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, có kết quả: xây dựng các chương trình cơ bản làm cơ sở thống nhất quản lý nhà nước về chương trình đào tạo, bồi dưỡng; chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo từng chức danh; chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ có chức danh tư pháp; chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ nghiên cứu và chuyên gia; chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ, công chức hành chính khác; chương trình đào tạo, bồi dưỡng tiền công vụ; chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho chính đội ngũ giảng viên… Trên cơ sở đó, quy định các loại chương trình tối thiểu; chương trình cơ bản; chương trình bổ sung và nâng cao; chương trình cập nhật thường xuyên. Với các hình thức học tập trung và không tập trung để đạt được mục tiêu đề ra, coi việc đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức trở thành thông lệ phổ biến trong ngành và phải được xem như một phần trách nhiệm của người quản lý.

- Đổi mới nội dung, tài liệu, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm cập nhật hóa, hiện đại hóa, chú trọng nâng cao kỹ năng, năng lực hoạt động và giáo dục phẩm chất đạo đức người công chức mới. Trong việc thiết kế nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cần tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các cơ quan chủ quản và của chính người học, quán triệt quan điểm lấy người học làm trung tâm của quá trình đào tạo, bồi dưỡng.

3.5. Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chế độ, chính sách đối với Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án

Chế độ chính sách, tiền lương là một trong những vấn đề bảo đảm tính độc lập của đội ngũ Thẩm phán, công chức Tòa án trong quá trình họ thực hiện chức trách của mình. Chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ cần bảo đảm cho Thẩm phán, công chức Tòa án không phải lo mưu sinh, đảm bảo để họ và gia đình có thể sống đầy đủ bằng chính đồng lương, không bị phụ thuộc vào những tác động vật chất từ phía các cá nhân, tổ chức liên quan đến thực thi công vụ của họ. Chế độ tiền lương của Thẩm phán, công chức Tòa án ở nước ta tuy đã được quan tâm nhiều nhưng so với yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay thì còn nhiều bất cập, chưa tính toán đầy đủ tới đặc thù của hoạt động Tòa án. Do khối lượng công việc quá tải, trong đó do các quy định của pháp luật cán bộ, công chức trong cơ quan Tòa án không được tham gia các hoạt động kinh doanh, phát triển kinh tế nên đời sống của cán bộ, công chức gặp nhiều khó khăn, trong thời gian gần đây tình trạng cán bộ, Thẩm phán xin nghỉ việc hoặc xin chuyển công tác có xu hướng ngày càng gia tăng. Nếu không có biện pháp tháo gỡ kịp thời, sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới việc thu hút cán bộ có năng lực vào làm việc trong các cơ quan Tòa án, đây là yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của các Tòa án.

Có thể nói, chính sách tiền lương cao đối với cán bộ, công chức là một vấn đề chính trị - kinh tế và xã hội của đất nước trong thời kỳ phát triển nhanh và bền vững, đây là động lực cơ bản, khuyến khích sự làm việc tận tụy, trung thành và hiệu quả của đội ngũ cán bộ, công chức và là cơ sở nâng cao chất lượng nền công vụ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Trên cơ sở kế thừa những ưu điểm của cải cách tiền lương năm 1960, 1985, 1993 và các nhiệm vụ cải cách tư pháp “cần có chế độ, chính sách tiền lương, khen thưởng phù hợp với lao động của cán bộ tư pháp”, những vấn đề đặt ra trong cải cách chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ đặc thù đối với cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân giai đoạn từ nay đến năm 2020, cần bảo đảm các yêu cầu dưới đây:

- Cần thể chế hóa đầy đủ, đúng tinh thần trong các chủ trương, văn kiện của Đảng: “Coi việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực để phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước” và đáp ứng các yêu cầu cải cách tư pháp về đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân.

- Có Bảng lương riêng (có thể chung với ngành kiểm sát) phù hợp với đặc thù công tác Tòa án theo hướng: thu hút các loại phụ cấp chung của cán bộ, công chức và phụ cấp đặc thù Tòa án vào bảng lương. Bảng lương của cán bộ, công chức Tòa án phải cao hơn công chức trong cơ quan hành chính.

Đây là cơ sở, định hướng trong cải cách chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân theo tinh thần cải cách tư pháp, bảo đảm ngang tầm với vị trí, vai trò của hệ thống Tòa án - là cơ quan thực hiện quyền tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để thực hiện việc đổi mới chính sách tiền lương đối với Thẩm phán, công chức ngành Toà án nhân dân; căn cứ vào Định hướng cải cách chính sách tiền lương của Đảng và Nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao cần phối hợp với các bộ, ngành có liên quan sớm nghiên cứu, xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt “Đề án cải cách chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ đặc thù đối với cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân đến năm 2020”, theo hướng Chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức Tòa án cần quán triệt đầy đủ các quan điểm Đảng và phù hợp với đặc thù công tác Tòa án. Theo đó, chế độ tiền lương cho đội ngũ công chức Tòa án bảo đảm ở mức từ trung bình trong xã hội, nhất là đội ngũ Thẩm phán phải bảo đảm mức thu nhập khá trong xã hội trở lên.

Cùng với cải cách chính sách về tiền lương, căn cứ vào Chương trình cải cách tổng thể hành chính nhà nước, ngành Tòa án nhân dân cần thực hiện tốt Kế hoạch đẩy mạnh chế độ công vụ, công chức giai đoạn từ nay đến năm 2015 và những năm tiếp theo. Từ nay đến năm 2015, cần tập trung vào việc xây dựng và tổ chức thực hiện các quy định, quy chế trong công tác tổ chức cán bộ; xác định Danh mục vị trí việc làm và Bộ tiêu chuẩn các chức danh công chức ngành Tòa án nhân dân; chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng, bồi dưỡng và đãi ngộ đối với công chức có tài năng trong hoạt động công vụ… bảo đảm sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức và thu hút người có tài năng vào cơ quan Toà án.

3.6. Đổi mới và chỉnh đốn tổ chức bộ máy tham mưu về công tác tổ chức cán bộ; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về tổ chức cán bộ

Công cuộc cải cách tư pháp theo chủ trương của Đảng, trong đó “Tòa án là trung tâm” nhằm đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đang đặt ra cho ngành Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu phải đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và công tác cán bộ trong thời kỳ mới.

Để bảo đảm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án nhân dân theo tinh thần cải cách tư pháp; trước hết, cần xây dựng tổ chức bộ máy quản lý cán bộ, công chức đủ mạnh, có mô hình tổ chức phù hợp nhất. Theo đó, đổi mới bộ máy tham mưu về công tác tổ chức cán bộ theo hướng: tiếp tục làm rõ, hoàn thiện quy định chức năng, nhiệm vụ; cơ cấu tổ chức của bộ máy; xây dựng quy định về quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu và quan hệ giữa người đứng đầu với tập thể cơ quan trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến công tác nhân sự. Khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán, không rõ trách nhiệm, không nắm chắc cán bộ. Bên cạnh đó, cần tăng cường giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm, năng lực phẩm chất, đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức tham mưu về công tác tổ chức cán bộ; có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn những người công tâm, trung thực, trong sáng, có kinh nghiệm tham mưu về công tác tổ chức cán bộ; xây dựng cơ chế phòng, chống tiêu cực trong công tác cán bộ; trang bị các phương tiện làm việc hiện đại cho cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học về tổ chức cán bộ, theo hướng xây dựng các cơ chế (phương pháp, cách thức, quy trình, tự chủ kinh phí…theo đặc thù ngành Toà án), chế độ khuyến khích, ưu tiên đối với cán bộ, chuyên gia có công trình nghiên cứu khoa học về tổ chức, cán bộ.

4. Nhóm giải pháp về tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng; quản lý cán bộ, tăng cường kỷ luật công vụ gắn với kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm những Thẩm phán và cán bộ, công chức có vi phạm

Cùng với việc củng cố, kiện toàn đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án nhân dân các cấp và tăng cường kỷ luật công vụ, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, tác phong đối với cán bộ, công chức ngành Tòa án được lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao chú trọng, quan tâm, đặc biệt là tiếp tục hưởng ứng việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo hướng đẩy mạnh cuộc vận động đi vào chiều sâu, gắn với thực tiễn công tác của ngành. Trên cơ sở kế hoạch và chỉ đạo của lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, ngành Tòa án nhân dân đã phát động phong trào thi đua học tập và làm theo lời Bác “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” với phương châm “Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”, gắn với việc triển khai các nhiệm vụ cải cách tư pháp. Với tinh thần đó, Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án các cấp đã tham gia tích cực, có hiệu quả, xuất hiện nhiều tấm gương điển hình, tiên tiến. Việc tổ chức thực hiện rộng khắp, thường xuyên, liên tục phong trào thi đua yêu nước nói trên và việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với các mục tiêu, nội dung cụ thể theo kế hoạch đề ra đã có tác dụng thiết thực trong việc nâng cao nhận thức chính trị và rèn luyện đạo đức, lối sống cho cán bộ, công chức trong toàn ngành. Để tiếp tục thực hiện tốt công tác này, cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau đây:

a) Hoàn chỉnh các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp trong giáo dục, quản lý cán bộ. Tăng cường công tác kiểm tra của cấp ủy cấp trên đối với cấp dưới. Kịp thời kiểm tra, kết luận các vụ việc có liên quan đến cán bộ; về cán bộ có vấn đề lịch sử chính trị hoặc chính trị hiện nay. Xử lý nghiêm những tập thể và cá nhân có sai phạm trong quản lý, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ. Bên cạnh đó, cần triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định về những việc công chức không được làm theo quy định của Luật Cán bộ, công chức; ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức ngành Tòa án trên cơ sở các quy định, yêu cầu của Luật phòng, chống tham nhũng; văn bản chỉ đạo trong tăng cường công tác kiểm tra, kiểm điểm và xử lý trách nhiệm đối với các Thẩm phán có số lượng án bị hủy, sửa nhiều, cùng với tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm những Thẩm phán và cán bộ, công chức vi phạm kỷ luật công vụ.

b) Tăng cường trau dồi phẩm chất, đạo đức và nâng cao năng lực nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Toà án là những vấn đề không thể thiếu để hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình. Khi Thẩm phán và cán bộ, công chức Toà án thiếu hoặc yếu về phẩm chất, đạo đức và năng lực nghiệp vụ sẽ không thể là người bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân, nhất là trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập của đất nước hiện nay. Phẩm chất, đạo đức và năng lực nghiệp vụ không phải là cái cao siêu, xa vời. Đó là những phẩm chất, những kiến thức, những khả năng, kỹ năng cần thiết của đội ngũ Thẩm phán, công chức để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Toà án. Để không ngừng trau dồi phẩm chất, đạo đức nâng cao năng lực nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Toà án cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp như sau:

- Trau dồi phẩm chất, đạo đức là vấn đề đầu tiên cần phải quan tâm sâu sắc. Một Thẩm phán hoặc công chức Toà án mà có phẩm chất, đạo đức kém có thể sẽ không hữu dụng, thậm chí trở thành người phá hoại, cản trở, gây ảnh hưởng đến chất lượng công tác Toà án. Vì thế, để trau dồi phẩm chất, đạo đức cho đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Toà án cần làm tốt công tác tuyên truyền, tổ chức các hoạt động sinh hoạt chính trị và triển khai học tập, thấm nhuần các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng.

- Tổ chức bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị đối với đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Toà án cần đi vào các nội dung căn bản và thiết thực đối với từng dối tượng, chức danh công chức. Bên cạnh việc trau dồi lý luận và đường lối cách mạng, Thẩm phán và cán bộ, công chức Toà án cần phải được bồi dưỡng, đào tạo kiến thức chuyên môn, chuyên ngành, kiến thức pháp luật mới, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng lãnh đạo, chỉ đạo…; phương pháp bồi dưỡng, đào tạo nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Toà án cần có sự đổi mới, thường xuyên thay đổi, cập nhật để có thể thực hiện được mục tiêu định hướng hành động trong tình hình mới. Đồng thời, bồi dưỡng nâng cao năng lực và bản lĩnh chính trị phải mang tính thống nhất, vì vậy lãnh đạo ngành Toà án nhân dân cần có chương trình, kế hoạch cụ thể. Ngoài các chương trình chung cho Thẩm phán và cán bộ, công chức trong toàn ngành, cần xây dựng chương trình chuyên biệt đối với từng loại đối tượng, chức danh công chức.

c) Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng và quản lý cán bộ còn có nghĩa: Từng đơn vị, từng cá nhân phải thấm nhuần, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống và tự xây dựng kế hoạch hành động cho đơn vị, cá nhân; phát huy tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình; kiến quyết đấu tranh với các hành vi tham nhũng, tiêu cực và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tích cực tham gia, hưởng ứng học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao phát động trong toàn ngành, với chủ đề “Nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức và Thẩm phán ngành Tòa án nhân dân”. 

d) Quản lý cán bộ là khâu công tác giữ vai trò quyết định trong công tác cán bộ của Đảng, bao gồm hai phần việc quan hệ chặt chẽ với nhau: quản lý toàn bộ đội ngũ cán bộ và quản lý từng người cán bộ. Tăng cường công tác giáo dục, quản lý cán bộ gắn với công tác kiểm tra, giám sát. Kiểm tra con người và kiểm tra công tác giáo dục, quản lý cán bộ là hai nhiệm vụ chính của công tác kiểm tra. Hai nhiệm vụ trên có quan hệ mật thiết với nhau. Công tác kiểm tra, giám sát có vai trò rất quan trọng trong việc tăng cường quản lý, giáo dục về công tác cán bộ, song để phát huy hết vai trò đó, cần phải có phương pháp và hình thức kiểm tra thích hợp. Muốn đạt được hiệu quả cao khi tiến hành công tác kiểm tra, giám sát việc quản lý, giáo dục về công tác cán bộ cần thực hiện đồng bộ các phương pháp, hình thức sau:

- Tổ chức sự phối hợp việc kiểm tra từ dưới lên trên và từ trên xuống, đặc biệt coi trọng vai trò của quần chúng nhân dân. Cần tiến hành công tác tư tưởng sâu rộng, làm cho quảng đại nhân dân tham gia vào công tác kiểm tra, giám sát việc quản lý, giáo dục công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước.

- Trong khi tiến hành kiểm tra việc quản lý, giáo dục về công tác cán bộ phải thực hiện công khai hoá. Bởi vì, sự công khai hoá sẽ đảm bảo cho công tác kiểm tra đạt độ chính xác cao và tác dụng giáo dục sâu rộng.

- Hình thức kiểm tra việc quản lý, giáo dục về công tác cán bộ phải linh hoạt, kết hợp tốt kiểm tra, giám sát thường xuyên, kiểm tra hằng ngày, kết hợp với từng thời gian, cần phải tiến hành kiểm tra sự thực hiện trên thực tế từng “công việc” một. Khi tiến hành kiểm tra phải kết hợp tốt các phương pháp kiểm tra trực tiếp, kiểm tra trên thực tế và gián tiếp; không nên chỉ tiến hành độc nhất một phương pháp nào, đặc biệt coi trọng phương pháp kiểm tra trên thực tế.

5. Nhóm giải pháp về bảo đảm cơ sở vật chất, trụ sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho Tòa án

Xây dựng, phát triển đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức cùng với tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho Tòa án các cấp là hai mặt của một vấn đề, đó là bảo đảm cho các Tòa án hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình. Để góp phần bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện và trang thiết bị làm việc cho cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay đang là vấn đề lớn, hệ trọng và phức tạp. Bên cạnh thuận lợi cũng có nhiều khó khăn, trở ngại, vì vậy rất cần có sự đồng thuận của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, phải rất quyết tâm và coi đó là nhiệm vụ chính trị của toàn hệ thống thì mới có thể thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng này. Theo đó, cần tập trung triển khai thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cơ bản như sau:

a) Đề nghị Đảng, Nhà nước và lãnh đạo ngành Tòa án nhân dân cần tập trung chỉ đạo, quán triệt về vị trí, vai trò của Tòa án trong bộ máy nhà nước theo tinh thần cải cách tư pháp hiện nay, để qua đó các cấp, các ngành, địa phương và toàn xã hội nhận thức được trách nhiệm của mình trong việc ủng hộ, tạo điều kiện cho ngành Tòa án nhân dân hoàn thành nhiệm vụ được giao.

b) Xây dựng phương án tăng cường cơ sở vật chất, trụ sở, phương tiện và trang thiết bị làm việc cho ngành Tòa án từ nay đến năm 2020 và dự báo cho giai đoạn sau năm 2020. Trong đó, có các định mức, tiêu chuẩn phòng làm việc, trang thiết bị, phương tiện cho từng chức danh cán bộ, công chức theo đặc thù ngành Tòa án.

Để thực hiện được những giải pháp đó, ngành Tòa án nhân dân cần tập trung nghiên cứu, xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt các đề án, chương trình, kế hoạch trong công tác bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện và trang thiết bị làm việc cho Thẩm phán và cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân và xác định thời gian, lộ trình thực hiện từng vấn đề cụ thể, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị.


BÀI 6:

KỸ NĂNG GIAO TIẾP, ỨNG XỬ CỦA THẨM PHÁN

                                                                                                            

Giao tiếp, ứng xử là một phương thức tồn tại xã hội của loài người, là điều kiện thiết yếu và là con đường để mỗi người hoàn thiện nhân cách, hoạt động của mình. Con người không thể sống và thể hiện giá trị vật chất, tinh thần nếu không được giao tiếp. Giao tiếp, ứng xử là một trong những kỹ năng căn bản và quan trọng hàng đầu cho người lao động nói chung và Thẩm phán nói riêng trong thời đại ngày nay[2]. Hằng ngày, Thẩm phán thường tiếp xúc với nhiều diện người khác nhau trong nhiều mối quan hệ khác nhau; đòi hỏi việc giao tiếp ứng xử của Thẩm phán phải đạt chuẩn mực đạo đức xã hội và đúng pháp luật.

Chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền, xã hội chủ nghĩa - Nhà nước quản lý kinh tế, xã hội bằng pháp luật và hoạt động tuân theo pháp luật. Nghị Quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2001 của Bộ chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đặt ra trọng trách của các cơ quan tư pháp là xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh, trong đó đặc biệt chú trọng đội ngũ thẩm phán - Nhân vật trung tâm của hoạt động tư pháp. Để đáp ứng yêu cầu đó thì vấn đề đổi mới tư duy, hành động của Thẩm phán là nội dung quan trọng vì Thẩm phán là một trong những người hoạt động nhân danh pháp luật, nhân danh công lý và lấy quy tắc ứng xử đạo đức nghề nghiệp làm chuẩn mực cho hành vi ứng xử.

Trong bộ máy Nhà nước Tòa án nhân dân có vị trí quan trọng, là cơ quan duy nhất có quyền xét xử và giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính. Thẩm phán khi giải quyết các vụ việc trên đều hướng tới mục đích bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do và danh dự nhân phẩm của công dân; giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nâng cao ý thức pháp luật, tôn trọng quy tắc của cuộc sống xã hội, tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cũng như các hành vi vi phạm pháp luật khác. Việc nhận thức được bản chất các mối quan hệ và các quy tắc giao tiếp, ứng xử sẽ giúp cho thẩm phán có được sự chuẩn mực và vững tâm khi hành nghề. Vì vậy nâng cao kỹ năng giao tiếp, ứng xử cho thẩm phán là một nội dụng quan trọng và cấp thiết.

I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ GIAO TIẾP, ỨNG XỬ

1. Khái niệm về giao tiếp

Giao tiếp là một trong những hiện tượng tâm lý phức tạp. Xung quanh khái niệm giao tiếp có nhiều quan điểm khác nhau, bởi mỗi tác giả khi đưa ra khái niệm giao tiếp đã nhìn nhận, nghiên cứu nó ở những góc độ khác nhau[3]. Chuyên đề này đi sâu nghiên cứu khái niệm giao tiếp theo khuynh hướng xem xét khái niệm giao tiếp thông qua việc xác định những khía cạnh tâm lý khác nhau chứa đựng trong nội hàm khái niệm giao tiếp.

Cách nhìn nhận khái niệm giao tiếp theo phương pháp này cũng có nhiều quan điểm khác nhau: Có tác giả chỉ nhấn mạnh một khía cạnh trong nội hàm khái niệm giao tiếp như L.O.Retnhicov cho rằng: “Giao tiếp là sự tri giác hiểu biết lẫn nhau” hay tác giả G.Thines lại cho rằng: “Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin, trong đó trạng thái của hệ thống phát thông tin ảnh hưởng tới trạngthái của hệ nhận tin”; có tác giả mở rộng khái niệm giao tiếp thì cho rằng: “Giao tiếp là sự tác động giữa những con người với nhau và giữa những động vật có tâm lý với nhau”; có tác giả đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của giao tiếp như tác giả A.G.Spirkin