Thư viện tài liệu
Phần kỹ năng giải quyết vụ án hình sự
 TẬP THỂ TÁC GIẢ

TẬP THỂ TÁC GIẢ

1. PGS.TS. Trần Văn Độ

- Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án Quân sự trung ương

 

Bài 3, Bài 14, Bài 17

2. TS. Nguyễn Trí Tuệ

- Trưởng khoa Khoa Thẩm phán Trường Cán bộ Tòa án - Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

 

Bài 1, Bài 4, Bài 5

3. TS. Phạm Minh Tuyên

- Phó Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh

Bắc Ninh

 

Bài 2, Bài 6, Bài 8,

Bài 15, Bài 16,

Bài 18, Bài 19

4. Ths. Nguyễn Thanh Mận

- Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Tòa án

 

Bài 10, Bài 20

5. Nguyễn Xuân Khôi

- Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

 

Bài 11, Bài 13

6. Vũ Thế Đoàn

- Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội

 

Bài 12

7. Hoàng Doãn Đức

- Phó Chánh tòa Tòa Hình sự Tòa án nhân dân tối cao

 

Bài 21

8. Đặng Bảo Vĩnh

- Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Bài 7, Bài 9


 

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

 

STT

VIẾT ĐẦY ĐỦ

VIẾT TẮT

1

Bộ luật Hình sự

BLHS

2

Bộ luật Tố tụng hình sự

BLTTHS

3

Bộ luật Dân sự

BLDS

4

Tòa án nhân dân

TAND

5

Tòa án nhân dân tối cao

TAND tối cao

6

Văn bản quy phạm pháp luật

VBQPPL

7

Ủy ban nhân dân

UBND

8

Xã hội chủ nghĩa

XHCN

9

Trách nhiệm hình sự

TNHS

 

 


PHẦN I: KỸ NĂNG CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT

CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

----------------

 

BÀI 1:

KỸ NĂNG THỤ LÝ VÀ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ

VỤ ÁN HÌNH SỰ

 

Để giải quyết một vụ án hình sự thì tùy từng giai đoạn tố tụng, cán bộ Tòa án nói chung và Thẩm phán nói riêng ở các Tòa án đều phải thực hiện nhiều công việc như: nhận và thụ lý hồ sơ, nghiên cứu hồ sơ, các công việc cần làm trong thời hạn chuẩn bị, chuẩn bị các công việc để mở phiên tòa hình sự sơ thẩm, các công việc cần làm sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm… Ở mỗi giai đoạn tố tụng đều có những quy định, đặc điểm và tầm quan trọng riêng. Cụ thể như trong giai đoạn nhận và thụ lý hồ sơ vụ án hình sự có vai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bởi lẽ quá trình nhận và thụ lý vụ án hình sự được đầy đủ, chính xác, đảm bảo tuân thủ các điều kiện mà pháp luật quy định sẽ là tiền đề để thực hiện tốt các hoạt động tố tụng ở giai đoạn tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bên cạnh đó, một yếu tố tác động không nhỏ vào kết quả xét xử được chính xác, thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật đó là việc nghiên cứu hồ sơ của Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa và các vị Hội thẩm nhân dân. Bởi vì chỉ thông qua việc nghiên cứu hồ sơ mới biết được hồ sơ vụ án đã đầy đủ các tài liệu hay chưa, nếu phạm tội thì phạm tội gì được quy định trong Bộ luật hình sự, bản án hoặc quyết định của Tòa án các cấp có đúng pháp luật hay không, trên cơ sở nghiên cứu mới có căn cứ để có quyết định đưa vụ án ra xét xử hay không, trả lời đơn khiếu nại, tố cáo để hướng dẫn Tòa án cấp dưới áp dụng pháp luật, để kháng nghị hoặc trình Ủy ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán về kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm…

 

I. THỤ LÝ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1. Nhận hồ sơ vụ án

VBQPPL:

- BLTTHS (khoản 1 và 3 Điều 166)

- Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP (tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I)

- Khi Viện kiểm sát chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án, Thư ký cần kiểm tra số bút lục có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu bản kê tài liệu so với các tài liệu có trong hồ sơ xem đã đầy đủ hay chưa. Nếu chưa đầy đủ thì không nhận hồ sơ vụ án.

- Kiểm tra bản cáo trạng đã được giao cho bị can theo đúng quy định tại đoạn 3 khoản 1 Điều 166 của BLTTHS hay chưa. Nếu bản cáo trạng chưa được giao cho bị can thì không nhận hồ sơ vụ án.

- Trường hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đầy đủ so với bản kê tài liệu và bản cáo trạng đã được giao cho bị can thì căn cứ vào hướng dẫn tại điểm A tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP quy định:

“1.1. Nhận hồ sơ vụ án và thụ lý vụ án.

Khi nhận hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến, người nhận hồ sơ phải đối chiếu bản kê tài liệu và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xem đã đầy đủ hay chưa; kiểm tra bản cáo trạng đã được giao cho bị can theo đúng quy định tại đoạn 3 khoản 1 Điều 166 BLTTHS hay chưa và xử lý như sau:

A. Nếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án chưa đầy đủ so với bản kê tài liệu hoặc bản cáo trạng chưa được giao cho bị can, thì không nhận hồ sơ vụ án vì chưa đúng quy định của BLTTHS”.

Theo đó, Thư ký tiến hành nhận hồ sơ vụ án, lập biên bản giao nhận hồ sơ vụ án và lưu vào hồ sơ. Biên bản giao nhận hồ sơ vụ án cần có các nội dung chính sau: Thời gian giao nhận hồ sơ, địa điểm giao nhận, những người tiến hành giao nhận, thực hiện việc tiến hành giao nhận hồ sơ vụ án: tên bị can - loại hồ sơ vụ án (nếu có đồng phạm thì ghi thêm “và đồng phạm” sau tên của bị can đầu vụ), số bút lục có trong hồ sơ, lý do giao nhận hồ sơ, ngày giờ kết thúc việc giao nhận...

Lưu ý, khi kiểm tra các tài liệu có trong hồ sơ, Thư ký cần chú ý trong bản kê tài liệu thể hiện có các bản tài liệu gốc hay chỉ là các bản sao tài liệu để khi lập biên bản giao nhận hồ sơ vụ án cần ghi chú bản gốc cho chính xác.

Ví dụ: Trong hồ sơ vụ án tai nạn giao thông thường có bản chính giấy phép lái xe của bị can hoặc có khi chỉ là bản sao chụp giấy phép lái xe, thư ký cần lưu ý kiểm tra nếu là bản chính thì phải ghi rõ trong biên bản giao nhận hồ sơ vụ án là bản chính giấy phép lái xe của bị can.

Sau khi nhận được hồ sơ vụ án hình sự từ Viện kiểm sát chuyển sang, thì bộ phận nhận hồ sơ và thụ lý vụ án cấp huyện và cấp tỉnh là thư ký thường trực Tòa hình sự, cần kiểm tra danh mục tài liệu có trong hồ sơ, đối chiếu với các tài liệu có trong hồ sơ, xem có đầy đủ các bút lục như đã được liệt kê hay không. Các lệnh tạm giam có còn hay đã hết thời hạn tạm giam, các thủ tục tố tụng như biên bản giao nhận Kết luận điều tra, biên bản giao nhận Cáo trạng đã có hay chưa? Có biên bản giao nhận vật chứng hay không?

2. Thụ lý vụ án hình sự

VBQPPL:

-     BLTTHS (khoản 1 Điều 38)

-     Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP (tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I)

Tại điểm B tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP quy định:

“ 1.1. Nhận hồ sơ vụ án và thụ lý vụ án.

Khi nhận hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến, người nhận hồ sơ phải đối chiếu bản kê tài liệu và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xem đã đầy đủ hay chưa; kiểm tra bản cáo trạng đã được giao cho bị can theo đúng quy định tại đoạn 3 khoản 1 Điều 166 BLTTHS hay chưa và xử lý như sau:

B. Nếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ so với bản kê tài liệu và bản cáo trạng đã được giao cho bị can, thì nhận và vào ngay sổ thụ lý hồ sơ vụ án. Sau khi hồ sơ vụ án đã được thụ lý, Chánh án Tòa án phân công ngay Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa”.

- Theo đó, ngay sau khi nhận hồ sơ vụ án, Thư ký phải ghi vào sổ thụ lý hồ sơ gồm số thụ lý, ngày, tháng, năm thụ lý... theo mẫu sổ thụ lý hồ sơ do Tòa án nhân dân tối cao ban hành.

Tiến hành lập bìa hồ sơ theo mẫu quy định sau đó chuyển hồ sơ cho Chánh án hoặc Phó Chánh án được Chánh án ủy quyền phân công Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa.

Nếu các thủ tục này đã được thực hiện đầy đủ thì vào sổ thụ lý, ghi đầy đủ số thụ lý, ngày thụ lý, tên các bị cáo, số ký hiệu, ngày của Cáo trạng truy tố. Sau khi đã thụ lý hồ sơ thì báo cáo chuyển hồ sơ cho Chánh án hoặc Phó chánh án được Chánh án ủy quyền để phân công Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa[1].

3. Giải quyết những tình huống phát sinh khi thụ lý hồ sơ vụ án hình sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 166 BLTTHS thì trong thời hạn ba ngày kể từ ngày ban hành Cáo trạng, Viện kiểm sát phải thông báo và giao cho bị can, người bào chữa bản Cáo trạng truy tố bị can ra trước Tòa án... do vậy, khi hồ sơ vụ án hình sự do Viện kiểm sát chuyển sang, nếu chưa có biên bản giao nhận Cáo trạng thì không nhận hồ sơ vụ án. Tuy nhiên, thực tế hiện nay có rất nhiều trường hợp khi hồ sơ vụ án chuyển sang cho Tòa án nhưng chưa có biên bản giao nhận Cáo trạng, biên bản giao nhận vật chứng. Trong trường hợp này, Tòa án vẫn nhận hồ sơ vụ án nhưng chưa vào sổ thụ lý mà chỉ vào sổ để theo dõi và cần thông báo cho Viện kiểm sát biết trong thời hạn bao nhiêu ngày thì Viện kiểm sát phải hoàn thành việc giao bản Cáo trạng cho bị can, nếu hết thời hạn đã định mà Viện kiểm sát vẫn chưa chuyển biên bản giao nhận Cáo trạng thì trả lại hồ sơ[2]. Nếu khi chuyển hồ sơ sang Tòa án mà lệnh tạm giam của Viện kiểm sát đã hết và biên bản giao nhận Cáo trạng chưa có thì kiên quyết không nhận mà yêu cầu Viện kiểm sát phải ra lệnh tạm giam tiếp theo.

Đối với việc giao nhận vật chứng hiện cũng chưa có hướng dẫn cụ thể, tại điểm đ khoản 2 Điều 75 BLTTHS cũng chỉ quy định “... Đối với vật chứng đưa về cơ quan tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan Công an có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố; cơ quan Thi hành án có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn xét xử và thi hành án”.

Tuy nhiên, thực tế khi hồ sơ vụ án hình sự được chuyển sang Tòa án thì thường chưa có biên bản giao, nhận vật chứng. Bởi lẽ, tại điểm a mục 3 Thông tư số 06/2003/TT-BCA ngày 12/3/2003 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn là: “Sau khi vụ án có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì vật chứng, đồ vật, tài liệu khác của vụ án đang được bảo quản tại kho vật chứng của cơ quan Công an phải được chuyển sang kho vật chứng của cơ quan Thi hành án...”. Do vậy, chỉ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án thì cơ quan Công an mới chuyển vật chứng của vụ án sang cơ quan Thi hành án theo như quy định của BLTTHS. Hướng dẫn như vậy là không hợp lý vì Thông tư 06/2003/TT-BCA chỉ có giá trị trong ngành Công an chứ không thể buộc Viện kiểm sát và Tòa án phải tuân thủ theo, song hiện cũng chưa có hướng dẫn nào khác. Đây là tình trạng chung của Tòa án các tỉnh trong cả nước về vấn đề giao nhận vật chứng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hiện nay mà chưa có cách giải quyết thống nhất. Ví dụ như tại tỉnh Bắc Ninh đã có sự thống nhất tạm thời giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tỉnh Bắc Ninh là: khi có quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử thì Viện kiểm sát sẽ có Công văn yêu cầu cơ quan Điều tra chuyển vật chứng sang cơ quan Thi hành án và sẽ giao lại cho Tòa án biên bản giao, nhận vật chứng. Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp xử lý tạm thời, về nguyên tắc phải kiên quyết yêu cầu Viện kiểm sát khi chuyển hồ sơ phải có đầy đủ cả biên bản giao, nhận vật chứng. Vì thực tế quá trình nghiên cứu hồ sơ có những trường hợp phải xem xét cả vật chứng mà không có biên bản giao, nhận thì không thể xem xét được, không bảo đảm quy định khi phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Bởi lẽ, nếu đợi có quyết định đưa vụ án ra xét xử mới chuyển biên bản giao, nhận vật chứng, thì lại phải khai mạc phiên tòa rồi làm thủ tục hoãn phiên tòa, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, như vậy rất mất thời gian và không đúng trình tự tố tụng.

Nếu khi nhận hồ sơ vụ án mà trong hồ sơ thiếu một hoặc nhiều bút lục hoặc bút lục đánh số nhảy cóc mà trong bản thống kê tài liệu lưu trong hồ sơ vụ án không thể hiện điều này, thì cần phải thông báo cho Viện kiểm sát biết để Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan Điều tra làm công văn giải trình về việc thiếu bút lục hoặc bút lục đánh nhảy cóc.

II. KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1. Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự

1.1. Mục đích, yêu cầu, nội dung nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự

- Mục đích: Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự nhằm giúp cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nắm vững được nội dung vụ án, để từ đó có hướng giải quyết vụ án hình sự một cách đúng đắn và chính xác nhất, trong đó người Thẩm phán phải xác định được:

+ Vụ án đã đủ điều kiện để đưa ra xét xử hay chưa;

+ Có đúng thẩm quyền xét xử không;

+ Có cần phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay không;

+ Có căn cứ để áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn chặn hay không;

+ Có căn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án hay không?

Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự cũng là cơ sở để Thẩm phán lên kế hoạch xét hỏi một cách chủ động nhất, chủ động giải quyết các tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa, định hình được nội dung của bản án cũng như làm các công việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa.

- Yêu cầu: Trong hoạt động tố tụng hình sự thì các tình tiết trong vụ án luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Vì vậy, để nắm được nội dung vụ án một cách chắc chắn cũng như chủ động trong quá trình xét xử đòi hỏi người Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, có hệ thống và khoa học nhất toàn bộ các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra đã có trong hồ sơ. Trước hết, Thẩm phán cần nghiên cứu từng tài liệu riêng lẻ kết hợp so sánh chúng với các tài liệu, chứng cứ khác để tìm ra mối liên hệ giữa chúng. Từ đó, tổng hợp lại để phát hiện sự hợp lý hoặc những điểm mâu thuẫn giữa các tài liệu, chứng cứ nhằm đánh giá sự tin cậy của các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập. Đây chính là cơ sở để Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể ra một trong các quyết định được quy định tại Điều 176 BLTTHS như: đưa vụ án ra xét xử; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

- Nội dung nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự: Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự phải làm sáng tỏ những vấn đề sau:

+ Vụ án có thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp mình xét xử hay không?

+ Các thủ tục trong điều tra, truy tố đã đảm bảo đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật hay không?

+ Có cần thiết áp dụng, thay đổi, hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo (các bị cáo) hay không?

+ Hành vi của bị cáo (các bị cáo) có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm không; tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố có phù hợp không?

+ Có cần xử lý vật chứng hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm việc bồi thường thiệt hại trước khi xét xử không?

+ Có căn cứ để đưa vụ án ra xét xử; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án không?

1.2. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự

Có nhiều phương pháp để nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự. Việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu nào phụ thuộc vào từng vụ án cụ thể và kinh nghiệm thực tiễn của từng Thẩm phán. Thông thường hiện có hai phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự phổ biến nhất đó là:

Phương pháp thứ nhất: Nghiên cứu hồ sơ vụ án theo trình tự tố tụng tức là bắt đầu nghiên cứu từ các tài liệu tố tụng gồm:

+ Quyết định khởi tố vụ án;

+ Quyết định khởi tố bị can;

+ Các quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát;

+ Các quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn;

+ Kết luận điều tra;

+ Bản Cáo trạng...

Nghiên cứu theo phương pháp này có ưu điểm là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thái độ khách quan hơn, không bị chi phối và phụ thuộc vào quan điểm của cơ quan Điều tra và Cáo trạng của Viện kiểm sát, song lại có nhược điểm mất nhiều thời gian mới nắm vững được các tình tiết của vụ án cũng như quan điểm của cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát.

Phương pháp thứ hai: Là nghiên cứu hồ sơ không theo trình tự tố tụng, bắt đầu từ bản Cáo trạng rồi đến các tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án theo trình tự ngược lại về mặt thời gian để kiểm tra tính xác thực và đúng đắn của quyết định truy tố. Phương pháp này có ưu điểm về mặt thời gian song cũng có nhược điểm là nếu không cẩn thận Thẩm phán dễ bị ảnh hưởng bởi quan điểm của cơ quan Điều tra cũng như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát dẫn đến có định kiến và hay áp đặt ý thức chủ quan vào việc giải quyết vụ án, kể cả việc định tội danh và quyết định hình phạt.

2. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự

Sau khi nhận hồ sơ vụ án hình sự, Thẩm phán được phân công xét xử vụ án hình sự và các Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử cần phải kiểm tra xem hồ sơ đã đảm bảo về thủ tục tố tụng và đủ số lượng bút lục theo danh mục thống kê tài liệu có trong hồ sơ không, nếu phát hiện thiếu tài liệu nào thì phải kiểm tra để giải quyết ngay.

Khi nghiên cứu bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có trong hồ sơ cũng phải kiểm tra để đánh giá về tính hợp pháp, tính khách quan và tính liên quan của chúng. Việc đánh giá tổng hợp các chứng cứ về vụ án chỉ được tiến hành sau khi đã nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Thông thường khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự theo phương pháp nghiên cứu thứ hai cần tiến hành theo trình tự các nhóm tài liệu sau:

2.1. Nghiên cứu Cáo trạng

Như chúng ta đã biết Cáo trạng là cơ sở pháp lý để Tòa án xét xử vụ án. Vì vậy, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các Hội thẩm nhân dân cần nghiên cứu kỹ bản Cáo trạng để nắm vững nội dung vụ án và xác định rõ giới hạn xét xử cụ thể là:

+ Các hành vi phạm tội cụ thể của từng bị cáo mà Viện kiểm sát đã xác định trong Cáo trạng (kể cả hành vi không truy tố).

+ Các chứng cứ mà Viện kiểm sát dùng làm căn cứ xác định tội phạm và người phạm tội.

+ Tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố các bị can.

+ Những tình tiết định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị can.

+ Mức độ thiệt hại và yêu cầu cụ thể về bồi thường thiệt hại (nếu có).

2.2. Nghiên cứu kết luận điều tra

Sau khi nghiên cứu cáo trạng, cần nghiên cứu kết luận điều tra. Việc nghiên cứu kết luận điều tra và đối chiếu, so sánh với Cáo trạng giúp Thẩm phán nắm được diễn biến của hành vi phạm tội, các chứng cứ mà Cơ quan điều tra sử dụng để chứng minh tội phạm và người phạm tội, kết luận và đề nghị của cơ quan điều tra về hướng giải quyết vụ án. Cần so sánh những điểm khác nhau giữa Kết luận điều tra và bản Cáo trạng (về các hành vi phạm tội, diện truy tố, các tội danh, điều khoản áp dụng của Bộ luật hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng đối với từng bị can và lý do của sự khác nhau đó trong các vụ án có đồng phạm) để có hướng giải quyết các mâu thuẫn khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu khác.

2.3. Nghiên cứu các tài liệu về lời khai của những người tham gia tố tụng

Sau khi nghiên cứu Cáo trạng và Kết luận điều tra, chúng ta nghiên cứu đến các tài liệu về lời khai của những người tham gia tố tụng như: Biên bản ghi lời khai của người bị tạm giữ, bị can, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người đại diện hợp pháp của bị can, người bị hại (nếu có), biên bản đối chất và các tài liệu khác.

Lưu ý, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự đối với các chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của một người nào đó, chúng ta cần phải chứng minh rõ những vấn đề quy định tại Điều 63 BLTTHS đó là:

Một là: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

Hai là: Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;

Ba là: Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

Bốn là: Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Theo quy định tại Điều 64 BLTTHS thì: chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo một trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Chứng cứ được xác định bằng vật chứng; lời khai của những người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, bị can, bị cáo; kết luận giám định; biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

Chính vì vậy khi nghiên cứu các chứng cứ này chúng ta cần phải nghiên cứu hết sức cẩn thận, theo một trình tự nhất định như sau:

Cần xác định lời khai của bị can là một trong những chứng cứ trực tiếp để xác định sự thật về vụ án. Việc nghiên cứu lời khai, bản tường trình của các bị can cần tiến hành theo trình tự thời gian lấy lời khai và cần xác định rõ những hành vi phạm tội nào nêu trong Cáo trạng mà bị can thừa nhận, hành vi nào mà bị can không thừa nhận và lý do của việc thừa nhận hay không thừa nhận hoặc thay đổi lời khai là gì; động cơ, mục đích thực hiện hành vi phạm tội; mức độ ăn năn hối hận và thái độ khai báo của bị can trong quá trình điều tra. Các lý lẽ, chứng cứ mà bị can đưa ra để bào chữa cho mình cũng như những điểm mâu thuẫn trong các lời khai của bị can.

 

2.4. Về giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can

Trong quá trình nghiên cứu lời khai của bị can, cần kiểm tra việc tuân thủ tố tụng của cơ quan điều tra khi lấy lời khai để bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ như: Bị can có được giải thích đầy đủ về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 49 BLTTHS hay không (đặc biệt là quyền bào chữa của bị can trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội hoặc người phạm tội bị truy tố theo khung hình phạt cao nhất là tử hình theo quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS)? Việc ký xác nhận của bị can có đúng quy định không? Việc sửa chữa, tẩy xóa biên bản hỏi cung bị can có chữ ký xác nhận của bị can hay không?

Ví dụ: Nghiên cứu và tham khảo luật của Mỹ thì thấy theo quy định tại Tu chính án thứ 5 trong Hiến pháp Mỹ đã khẳng định: Không người nào bị bắt buộc phải làm nhân chứng chống lại chính mình trong bất cứ vụ án hình sự nào. Người ta gọi nội dung trên là quy tắc Miranda. Theo quy tắc này thì trước khi thẩm vấn, nhân viên điều tra “Cảnh sát” phải đọc và giải thích cho bị can biết quyền lợi của họ bằng những câu sau:

1. Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời. Anh có hiểu không?

2. Bất cứ những gì anh nói đều có thể được sử dụng để chống lại anh trước tòa. Anh có hiểu không?

3. Anh có quyền trao đổi với Luật sư trước khi trả lời cho cảnh sát và có quyền có Luật sư hiện diện trong quá trình thẩm vấn ngay từ bây giờ và sau này. Anh có hiểu không?

4. Nếu anh không có khả năng thuê Luật sư thì anh sẽ được quyền yêu cầu tòa chỉ định Luật sư cho mình trước khi thẩm vấn. Anh có hiểu không?

5. Nếu anh quyết định trả lời bây giờ mà không cần có Luật sư hiện diện thì anh có quyền ngừng trả lời vào bất cứ lúc nào cho tới lúc anh được nói chuyện với Luật sư. Anh có hiểu không?

6. Bây giờ anh đã biết và hiểu được quyền lợi của anh như tôi đã giải thích cho anh, anh có sẵn sàng trả lời câu hỏi của tôi mà không có Luật sư hiện diện không?

Nếu Điều tra viên không đặt ra những câu hỏi nêu trên và không có biên bản ghi lại có chữ ký của người bị xét hỏi, là vi phạm và những lời khai của bị can cho dù đó là lời khai tự nguyện cũng bị Tòa án bác bỏ.

So sánh với quyền của bị can, bị cáo được quy định tại Điều 49, 50 BLTTHS thì thấy:

Qua thực tiễn xét xử nhận thấy, trong các biên bản ghi lời khai, có ghi việc giải thích quyền cho bị can biết theo Điều 49, nhưng thực chất việc giải thích của Điều tra viên như thế nào, có đầy đủ, để cho bị can hiểu và thực hiện quyền của mình hay không thì không thấy có văn bản nào thể hiện. Vậy việc ghi vài dòng tại biên bản ghi lời khai như vậy có bảo đảm tính khách quan hay không? Do đó, để bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, BLTTHS cần phải có quy định rằng việc giải thích quyền và nghĩa vụ của họ phải được lập thành biên bản và nêu đầy đủ nội dung quyền và nghĩa vụ.

2.5. Nghiên cứu lời khai của người làm chứng

Cần tiến hành nghiên cứu theo trình tự thời gian để xác định:

- Độ tin cậy, tính chính xác trong lời khai của người làm chứng và cần xác định họ khai về những tình tiết cụ thể nào trong vụ án và tại sao họ biết;

- Họ trực tiếp chứng kiến sự việc hay gián tiếp biết về vụ việc thông qua nguồn tin nào khác;

- Mối quan hệ giữa người làm chứng với người phạm tội và người bị hại;

- Điều kiện khách quan (không gian, thời gian, địa điểm) và điều kiện chủ quan (tinh thần, tuổi tác, nghề nghiệp, khả năng tiếp thu thông tin và nhận thức...) của người làm chứng khi tiếp nhận thông tin. Các điểm mâu thuẫn giữa các lời khai trước và lời khai sau của người làm chứng (để đối chiếu với các chứng cứ khác có trong vụ án). Nếu cần thiết, phải cho đối chất giữa người làm chứng và bị can, bị cáo hoặc thực nghiệm điều tra.

Ví dụ: Trong thực tiễn có nhiều vụ tai nạn giao thông, khi khám nghiệm hiện trường chữ ký trong biên bản không phải là của người có mặt từ đầu khi xảy ra tai nạn mà chỉ là những người ra sau, nhìn thấy hiện trường như vậy chứ không phải là người chứng kiến việc va chạm dẫn đến tai nạn, do vậy việc trình bày của họ với cơ quan Điều tra chỉ là theo cảm tính.

2.6. Nghiên cứu biên bản đối chất

Biên bản đối chất giữa các bị can với nhau, giữa bị can và người bị hại, giữa bị can và người làm chứng, giữa người bị hại và người làm chứng cũng hết sức quan trọng, giúp cho Thẩm phán có thêm cơ sở để đánh giá độ tin cậy trong các lời khai còn mâu thuẫn để từ đó xác định được chứng cứ nào là khách quan, chứng cứ nào là không khách quan. Trên cơ sở đó rút ra được những điểm đã thống nhất giữa những người đối chất và những điểm còn mâu thuẫn cần tiếp tục khắc phục bằng các chứng cứ tài liệu khác.

2.7. Nghiên cứu lời khai của người bị hại

Trong các vụ án hình sự, đa số người bị hại là người trực tiếp chứng kiến hành vi phạm tội. Do vậy, việc nghiên cứu lời khai của họ sẽ giúp cho Thẩm phán nắm vững được diễn biến của vụ án cũng như các hành vi phạm tội mà bị can đã thực hiện, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra và yêu cầu bồi thường của họ. Khi nghiên cứu lời khai của người bị hại, Thẩm phán cần nghiên cứu theo trình tự thời gian mà họ trình bày, xem có sự mâu thuẫn hay không, thái độ tâm lý, mối quan hệ của họ đối với người phạm tội như thế nào để có hướng giải quyết đúng đắn vụ án, tránh để lọt tội phạm hoặc gây oan sai.

2.8. Nghiên cứu lời khai của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của bị can, bị hại.

Việc nghiên cứu lời khai của những người tham gia tố tụng này cũng tương tự như nghiên cứu lời khai của người bị hại, song Thẩm phán cần xác định rõ quyền lợi và trách nhiệm của họ trong vụ án, các chứng cứ để xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của họ, để có cơ sở giải quyết các vấn đề liên quan đến việc bồi thường trách nhiệm dân sự trong vụ án.

2.9. Nghiên cứu về tài liệu về nhân thân bị can

- Lý lịch bị can;

- Thông báo kết quả tra cứu (tàng thư);

- Các tài liệu về tiền án, tiền sự, giấy ra trại (nếu có);

- Bản sao giấy khai sinh hoặc tài liệu xác minh độ tuổi nếu bị can là người chưa thành niên;

- Giấy khai sinh của đứa trẻ hoặc giấy chứng nhận tình trạng thai nghén do cơ quan y tế cấp (nếu bị can là phụ nữ đang trong thời kỳ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi).

Nhân thân của bị can, người bị hại là một trong những căn cứ để xác định khung hình phạt và quyết định hình phạt. Do vậy, trong từng vụ án cụ thể, nếu trong hồ sơ không có đủ các tài liệu này hoặc không có tài liệu phản ánh kết quả xác minh của cơ quan điều tra về những đặc điểm nhân thân của bị can, bị hại thì cần yêu cầu cơ quan điều tra làm rõ.

Ví dụ 1: Bị can là người chưa thành niên, Luật hình sự nước nào cũng đều có quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhưng không phải nước nào cũng giống nhau mà phải tùy thuộc vào sự phát triển về sinh học của con người ở mỗi quốc gia khác nhau như ở Anh Quốc là 08 tuổi, Hoa Kỳ là 07 tuổi, Thụy Điển là 15 tuổi, Nga là 14 tuổi, Cộng hòa Pháp 13 tuổi,... Ở Việt Nam là từ đủ 14 tuổi (Điều 12 BLHS). Việc xác định tuổi của bị can, bị cáo là hết sức quan trọng vì liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự, do vậy khi tính tuổi phải tính theo tuổi tròn.

Ví dụ 2: Một người sinh ngày 1/1/1990 thì tới ngày 1/1/2004 mới đủ 14 tuổi và tới 1/1/2006 mới đủ 16 tuổi. Trong trường hợp, không có đủ điều kiện xác định chính xác ngày sinh thì tính ngày sinh theo ngày cuối cùng của tháng sinh. Ví dụ chỉ biết sinh tháng 5/1990 mà không biết ngày thì lấy ngày 31/5/1990. Nếu không xác định được chính xác tháng sinh thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng làm ngày, tháng, năm sinh. Ví dụ chỉ biết sinh năm 1990 thì lấy ngày 31/12/1990.

2.10. Nghiên cứu các tài liệu về nhân thân người bị hại

- Giấy khai sinh hoặc tài liệu chứng minh về độ tuổi của người bị hại chưa thành niên;

- Giấy chứng nhận của cơ quan y tế về tình trạng thai nghén nếu người bị hại là phụ nữ có thai.

Ví dụ: Xác định độ tuổi người bị hại trong vụ án hiếp dâm, cũng phải tính tròn như cách tính tuổi của bị cáo, nếu trường hợp không xác định được chính xác ngày sinh của họ thì phải lấy ngày đầu tiên của tháng để tính. Nếu xác định tháng 2/1990 thì lấy ngày 1/2/1990 để tính, nếu không xác định được cả tháng sinh mà chỉ xác định được năm sinh thì lấy ngày đầu tiên của tháng đầu tiên của năm. Ví dụ chỉ xác định được năm 1990 thì lấy ngày 1/1/1990 để tính tuổi.

2.11. Nghiên cứu các tài liệu về khởi tố vụ án, khởi tố bị can

- Tài liệu nguồn tin về tội phạm (tố giác của công dân, tin báo của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội). Biên bản tự thú của người có hành vi phạm tội, các biên bản xác minh của cơ quan điều tra;

- Quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can;

- Quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can (nếu có) các quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát;

- Quyết định tách, nhập vụ án (nếu có).

2.12. Nghiên cứu các văn bản về việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn như:

Biên bản bắt người phạm tội quả tang; lệnh tạm giữ, gia hạn tạm giữ, lệnh tạm giam, gia hạn tạm giam, các quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát, quyết định truy nã, quyết định đình nã, công văn đề nghị hủy bỏ biện pháp tạm giam,...

2.13. Nghiên cứu các tài liệu về kết quả điều tra như

- Lệnh khám xét; các biên bản khám xét, thu giữ vật chứng, bản giao vật chứng, khám nghiệm hiện trường, nhận dạng, thực nghiệm điều tra;

- Sơ đồ hiện trường;

- Lệnh kê biên và các biên bản kê biên tài sản, niêm phong và mở niêm phong lấy mẫu giám định;

- Biên bản bàn giao mẫu giám định, quyết định trưng cầu giám định;

- Kết luận giám định;

- Quyết định trả lại tài sản;

- Biên bản giao nhận tài sản;

- Bản ảnh hiện trường;

- Sơ đồ hiện trường.

Đối với các tài liệu này, trước hết cần phải kiểm tra việc tuân thủ các quy định của BLTTHS về trình tự, thủ tục lập biên bản và tiến hành các hoạt động tố tụng này của cơ quan điều tra như: thời gian, địa điểm, thành phần tham gia, việc ký xác nhận vào biên bản.

Ví dụ 1: Khám nghiệm hiện trường vụ án tai nạn giao thông thì những người chứng kiến ký vào biên bản có phải là những người có mặt chứng kiến từ đầu vụ tai nạn hay không? Những người, ảnh hoặc đồ vật được đưa ra nhận dạng, bị thu giữ, niêm phong.... Đối với các vật chứng được thu giữ thì cần chú ý nơi và cách thức tìm ra vật chứng (do khám xét, khám nghiệm hiện trường, bị can khai ra nơi cất giữ hay do người nào mang đến nộp). Các đặc điểm riêng của vật chứng: cần so sánh vật chứng với các chứng cứ khác để xác định sự thật của vụ án.

Ví dụ 2: Tại hiện trường thu được một chiếc gậy bằng gỗ lim và theo kết luận của cơ quan điều tra thì bị can đã dùng chiếc gậy này đập nhiều nhát vào mặt nạn nhân, nhưng dấu vết trên mặt nạn nhận theo kết luận giám định thì chỉ là sây sát ở mặt do va chạm nhẹ, răng vẫn còn nguyên vẹn... và như vậy rõ ràng chiếc gậy không thể là hung khí để gây án như kết luận của cơ quan điều tra được.

2.14. Nghiên cứu kết luận giám định

- Trước hết cần kiểm tra các tài liệu, đồ vật (số lượng, chất lượng các đồ vật, tài liệu Cơ quan điều tra gửi đi) mà cơ quan giám định đã xem xét để đưa ra kết luận giám định;

- Thẩm quyền của tổ chức (Hội đồng) giám định và tính hợp pháp của kết luận giám định. Cần so sánh kết luận giám định với các nội dung yêu cầu giám định và chứng cứ, tài liệu khác của vụ án để xác định độ chính xác, khách quan của kết luận giám định. Trong trường hợp cần thiết phải quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại.

Trong các vụ án gây thương tích thì phải xem chứng thương của bệnh viện mô tả thương tích của người bị hại khi vào viện như thế nào để xác định được cơ chế hình thành vết thương có phù hợp với hung khí gây án không? Kết luận giám định đã giám định đầy đủ các vết thương trên người nạn nhân chưa.

Bên cạnh việc nghiên cứu những tài liệu chính liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự, Thẩm phán cũng cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc các nhóm tài liệu khác như:

+ Các tài liệu về đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra;

+ Quyết định trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần;

+ Quyết định truy nã;

+ Tài liệu về việc điều trị của bị can;

+ Quyết định tạm đình chỉ vụ án (trường hợp bị can trốn hoặc bị bắt buộc chữa bệnh);

+ Quyết định tách vụ án (trường hợp bị can bỏ trốn trong quá trình điều tra);

+ Quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án (đối với bị can trong vụ án có đồng phạm);

+ Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;

+ Quyết định phục hồi điều tra (trong trường hợp hủy bỏ quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra).

Cùng các tài liệu kết thúc điều tra như:

+ Kết luận điều tra vụ án;

+ Biên bản giao nhận kết luận điều tra cho bị can;

+ Thông báo kết quả điều tra cho đương sự; thống kê tài liệu có trong hồ sơ và biên bản giao nhận hồ sơ giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát.

Các tài liệu về truy tố như:

+ Các tài liệu bổ sung của Viện kiểm sát (các biên bản phúc cung...);

+ Quyết định thay đổi, bổ sung khởi tố vụ án, khởi tố bị can (nếu có);

+ Cáo trạng, biên bản giao nhận Cáo trạng;

+ Biên bản giao nhận hồ sơ giữa Viện kiểm sát và Tòa án.

Ngoài ra, trong trường hợp Tòa án cấp trên hủy bản án để điều tra lại hoặc xét xử lại thì hồ sơ vụ án bao gồm toàn bộ hồ sơ vụ án đã xét xử lần 1; các tài liệu phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm (như kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại, bản án, biên bản phiên tòa của cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm).

3. Những tình huống thường gặp khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự

3.1. Về thẩm quyền giải quyết

Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự, Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa được giao nhiệm vụ xét xử vụ án đó xét thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử thì phải báo cáo Chánh án để chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử theo quy định tại Điều 174 BLTTHS:

Khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử. Việc chuyển vụ án cho Tòa án ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu do Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu quyết định. Chỉ được chuyển vụ án cho Tòa án khác khi vụ án chưa được xét xử. Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Chánh án Tòa án quyết định. Nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự hoặc Tòa án cấp trên thì vụ án đã được đưa ra xét xử vẫn phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền. Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Hội đồng xét xử quyết định. Trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án, Tòa án phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, báo cho bị cáo và những người có liên quan trong vụ án”.

Còn lại các trường hợp xác định thẩm quyền khác đều phải căn cứ vào quy định tại các Điều từ 170 đến 173 của BLTTHS.

3.2. Về vấn đề trả hồ sơ điều tra bổ sung

Thực tế hiện nay có rất nhiều trường hợp Viện kiểm sát không hề muốn Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung kể cả trường hợp Tòa án trả hồ sơ là hoàn toàn đúng và có căn cứ. Để khắc phục vấn đề này, theo quan điểm của tôi khi trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Thẩm phán cần tuân thủ các trường hợp quy định tại Điều 179 BLTTHS để trả hồ sơ, tránh trường hợp chuyển hồ sơ đi, chuyển hồ sơ lại mà kết quả là không điều tra thêm được gì, thậm chí còn gây căng thẳng trong mối quan hệ giữa hai cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp khi phát hiện ra những vi phạm theo Điều 179 BLTTHS quy định thì nhất thiết phải trả hồ sơ và nêu rõ những nội dung cần điều tra bổ sung, nếu Viện kiểm sát không làm theo những nội dung mà Tòa án yêu cầu thì chúng ta vẫn đưa ra xét xử. Trong trường hợp này nếu cấp phúc thẩm có hủy án yêu cầu điều tra lại thì cũng không phải là lỗi của Thẩm phán, nếu vì lý do khác mà chúng ta không trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung mà bản án bị hủy thì đó là lỗi chủ quan của Thẩm phán. Do giới hạn của việc xét xử theo quy định tại Điều 196 BLTTHS có những trường hợp Thẩm phán vẫn phải xử theo Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, rồi sau đó lại phải kiến nghị ngay trong bản án đề nghị cấp phúc thẩm hủy chính bản án của mình. Đây chính là những bất cập, đang có nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi Điều 196 BLTTHS.

3.3. Trích tiểu hồ sơ và lập kế hoạch xét hỏi

Lập kế hoạch xét hỏi là hết sức cần thiết, đặc biệt đối với những vụ án đồng phạm lớn, có nhiều bị cáo hoặc những vụ án kinh tế lớn phải xét xử nhiều ngày. Việc Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa và các vị Hội thẩm nhân dân có chủ động được trong việc điều hành phiên tòa và giải quyết tốt các tình huống phát sinh tại phiên tòa hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc nghiên cứu hồ sơ, trích tiểu hồ sơ và lập kế hoạch xét hỏi. Do vậy, sau khi nghiên cứu hồ sơ xong, Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa cũng như các vị Hội thẩm nhân dân cần trích một tiểu hồ sơ phục vụ cho công tác thẩm vấn tại phiên tòa. Trong tiểu hồ sơ cần thể hiện rõ:

- Tóm tắt nội dung vụ án, tội danh và điều luật mà Cáo trạng đã truy tố, những mâu thuẫn trong lời khai với cáo trạng của Viện kiểm sát.

- Tóm tắt lời khai của từng bị cáo phù hợp với nội dung của Cáo trạng và diễn biến của vụ án, được sử dụng như là những chứng cứ buộc tội có các bút lục cụ thể, dùng để đấu tranh kịp thời với bị cáo tại phiên tòa, có thể dùng ngay lời khai của bị cáo này để đấu tranh với các bị cáo khác, nếu vì lý do nào đó mà bị cáo lại chối bỏ lời khai của mình như đã trình bày tại cơ quan điều tra.

- Tóm tắt các bút lục chứa đựng các chứng cứ buộc tội như biên bản giám định, giấy chứng thương, sổ sách, chứng từ…

- Tóm tắt các bút lục ghi lời khai của người bị hại, nhân chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bao gồm cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội.

Khi lập kế hoạch xét hỏi, Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa và các vị Hội thẩm nhân dân thông qua quá trình nghiên cứu hồ sơ, phải phân loại các bị cáo và cần lưu ý các tình huống có thể xảy ra, kể cả trong trường hợp hồ sơ thể hiện các bị cáo khai rất thành khẩn, cần xác định các tình huống như:

- Các bị cáo có thể sẽ phản cung, tại cơ quan điều tra các bị cáo đã khai báo thành khẩn nhưng ra tới phiên tòa khi nhìn thấy tên cầm đầu của bọn chúng lại chối bỏ lời khai của mình nên các bị cáo khác cũng theo đó mà chối bỏ lời khai của mình.

- Cần phân loại và đánh giá xem bị cáo nào khi ra Tòa sẽ khai thành khẩn thì hỏi trước, đôi khi không nên hỏi bị cáo đầu vụ mà có kế hoạch hỏi tất cả các bị cáo có vai trò thứ yếu trước rồi mới có kế hoạch xét hỏi bị cáo đầu vụ sau.

- Cần phải có những câu hỏi trọng tâm, gợi mở để bị cáo tự khai ra những hành vi phạm tội của mình.

- Khi đặt câu hỏi cũng cần có kế hoạch đưa ra các tài liệu, chứng cứ ra để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nếu bị cáo cố tình ngoan cố không chịu khai báo thành khẩn.

Tóm lại để hoàn thiện hơn các kỹ năng trong việc nhận, thụ lý, nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự thì đòi hỏi mỗi cán bộ Tòa án, Thẩm phán một mặt phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn để áp dụng triệt để vào công việc và nhiệm vụ được giao như nhận, thụ lý, nghiên cứu và tiến tới nhằm mục đích xét xử, giải quyết vụ án được chính xác và tuân thủ theo quy định của pháp luật. Mặt khác yêu cầu mỗi cán bộ Tòa án, Thẩm phán phải luôn luôn cải tiến phong cách làm việc, không nhừng học tập kinh nghiệm của những người đi trước cùng với việc nắm rõ nội dung quy định của các văn bản quy phạm pháp luật, các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao.

Bên cạnh đó các Tòa án cần thường xuyên tổ chức những buổi trao đổi kinh nghiệm về việc nhận, thụ lý, nghiên cứu vụ án hình sự; để tránh việc hiểu và áp dụng khác nhau của mỗi địa phương, của Tòa án các cấp trong tỉnh nên cần kiến nghị lên Tòa án nhân dân tối cao mở những lớp tuận huấn nâng cao nghiệp vụ về nội dung này để tạo nên sự thống nhất trên phạm vi toàn quốc về kỹ năng nhận, thụ lý và nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự được đúng đắn, chính xác, đảm bảo tuân theo những quy định của pháp luật hiện hành, tiến tới đáp ứng với tinh thần của Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra trong giai đoạn hiện nay.


BÀI 2:

KỸ NĂNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

                                                                                                                

Trong lộ trình của cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết số 08/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị, thì Tòa án được xác định là trung tâm của cải cách tư pháp, hoạt động xét xử là trọng tâm. Để nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa hình sự thì cần “bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Hoạt động của Tòa án tại phiên tòa là để xem xét các chứng cứ và căn cứ vào pháp luật, xử lý vụ án bằng việc ra bản án và các quyết định của Tòa án. Xét xử là một dạng đặc biệt của hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước, do Tòa án, mà cụ thể là Hội đồng xét xử tiến hành công khai.

Chính vì vậy, một phiên tòa hình sự có bảo đảm tính chất tranh tụng hay không phụ thuộc nhiều vào yếu tố, trong đó vai trò của chủ tọa phiên tòa có thể nói là quan trọng nhất. Kết quả của phiên tòa như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào vai trò của chủ tọa phiên tòa. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử hiện nay, một số Thẩm phán vẫn chưa thực hiện đúng tinh thần của Nghị quyết số 08, nên đã có không ít phiên tòa chưa thể hiện tinh thần tranh tụng, phán quyết của Tòa án chưa căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Việc vẫn còn những tình trạng này cũng có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thuộc về các Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa chưa nắm vững các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và tinh thần của Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, thì Chủ tọa phiên tòa vừa là người tiến hành tố tụng, vừa là người điều khiển toàn bộ hoạt động tố tụng tại phiên tòa của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Chính vì vậy, để việc tổ chức và điều khiển tốt phiên tòa theo đúng tinh thần của cải cách tư pháp và các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì chủ tọa phải thực hiện nhiều việc ngoài những công việc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cần chú ý, thực hiện tốt những công việc cụ thể như:

1. Những công việc chuẩn bị để Hội đồng xét xử vào phòng xử án

- Đối với các vụ án phức tạp, đông bị cáo Thẩm phán chủ toạ cần có sự trao đổi thống nhất nội dung thẩm vấn với Hội thẩm về kế hoạch thẩm vấn. Thẩm phán có thể phân công từng Hội thẩm phụ trách một phần thẩm vấn cụ thể hoặc người tham gia tố tụng cụ thể để tránh việc câu hỏi lặp đi lặp lại, không đúng trọng tâm giữa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các Hội thẩm nhân dân.

- Yêu cầu Thư ký kiểm tra sự có mặt của Kiểm sát viên, bị cáo, những người tham gia tố tụng được triệu tập, phổ biến nội quy phiên toà rồi mời Hội đồng xét xử vào phòng xử án.

2. Thủ tục bắt đầu đầu phiên toà

2.1. Khai mạc phiên toà

- Khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án, Thư ký yêu cầu tất cả mọi người có mặt trong phòng xử án đứng dậy. Lưu ý, về tác phong Thẩm phán chủ tọa phiên toà nên có động tác quan sát toàn bộ phòng xử án rồi mới khai mạc phiên tòa, sau đó mời mọi người ngồi xuống. Tránh trường hợp Thẩm phán chủ tọa vào chưa nhìn ai cả đã khai mạc rồi mời mọi người ngồi xuống, như vậy mất đi tính uy nghiêm của phiên toà.

- Thay mặt Hội đồng xét xử Thẩm phán chủ tọa phiên tòa công bố Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử. Khi đọc quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử Chủ toạ nên đọc to, dõng dạc, chậm rãi để tăng tính trang nghiêm của phiên toà.

Lưu ý, khi công bố quyết định đưa vụ án ra xét xử Chủ tọa phiên toà nên yêu cầu bị cáo đứng vào vành móng ngựa và những người tham gia tố tụng có giấy triệu tập của Toà án phải đứng dậy để nghe quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử, không nên để như hiện nay nhiều phiên tòa khi công bố quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử Chủ tọa vẫn để tất cả mọi người ngồi nghe là không bảo đảm tính uy nghiêm của phiên tòa.

Sau khi công bố quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử, Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Thư ký phiên tòa báo cáo sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng được triệu tập đến phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa cần căn cứ vào đề cương điều khiển phiên tòa để thực hiện các thủ tục cần thiết. Cần lưu ý, phần mở đầu phiên tòa là rất quan trọng, nếu diễn ra suôn sẻ thì các phần sau sẽ rất thuận lợi và giúp cho Thẩm phán chủ tạo phiên tòa tự tin và chủ động hơn trong việc điều khiển phiên tòa.

2.2. Kiểm tra căn cước những người được triệu tập đến phiên toà

a. Đối với bị cáo

Chủ tọa phiên tòa cần hỏi kỹ về tên, tuổi, thành phần xã hội, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú, nơi làm việc, trình độ học vấn, họ tên cha, mẹ, hoàn cảnh gia đình. Kiểm tra nhân thân của bị cáo đã bị kết án lần nào chưa? Nếu có thì bị kết án về tội gì, Tòa án nào xử, thời gian xử, tù giam hay án treo, đã chấp hành hình phạt xong chưa, trong vụ án này có bị tạm giam, tạm giữ không, thời gian bao lâu hoặc có bị xử lý hành chính không, nếu có thì bị xử lý về hành vi gì, thời gian xử lý? Để có cơ sở xác định về tiền án, tiền sự làm cơ sở cho việc định tội, định khung hình phạt hoặc tổng hợp hình phạt. Khi hỏi, Chủ tọa cần đối chiếu với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xem có giống nhau không, nếu khác nhau thì phải làm rõ vì sao khác nhau.

Lưu ý, nếu trước đó bị cáo được hưởng án treo, thì cần hỏi xem tại bản án trước đó bị cáo có bị tạm giam, tạm giữ ngày nào không và thời gian bao lâu để trừ cho bị cáo nếu vụ án phải tổng hợp hình phạt của hai bản án. Đây là trường hợp rất dễ quên và nhầm lẫn.

Hỏi bị cáo đã nhận được bản Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử chưa. Nếu bị cáo chưa nhận được hoặc đã nhận được nhưng dưới 10 ngày và yêu cầu hoãn xử thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên toà, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử thì mới được xét xử và cần phải có biên bản ghi lại sự tự nguyện đó.

b. Đối với người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Chủ toạ chỉ cần hỏi về tên tuổi, nghề nghiệp và nơi ở của họ.

Lưu ý, đối với người đại diện hợp pháp của người bị hại, khi nghiên cứu hồ sơ thấy, đối với người bị hại bị chết mà có thể có nhiều người có tư cách để là người đại diện hợp pháp, như đã phân tích ở phần trên, thì tại phiên tòa chủ tọa cần hỏi xem họ có được những người khác uỷ quyền hay không? Nếu không, mà tại phiên toà những người khác có đến thì cần hỏi luôn tại phiên toà xem họ có đồng ý để người đó làm người đại diện hợp pháp hay không? Đặc biệt là các vụ án người bị hại chết thì thường có sự tranh chấp về tư cách tham gia tố tụng có thể là cha, mẹ, vợ, anh chị em ruột…

2.3. Giải thích quyền và nghĩa vụ của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác

Về vấn đề này, hiện cũng có những quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng khi phổ biến quyền và nghĩa vụ thì Chủ tọa phải phổ biến quyền và nghĩa vụ cho từng người tham gia tố tụng một.

Quan điểm thứ hai cho rằng nên phổ biến gộp theo nhóm những người tham gia tố tụng có chung quyền và nghĩa vụ khi tham gia phiên toà.

Hiện tại, vấn đề này đã có quy định của Bộ luật tố tụng hình sự do vậy, khi phổ biến quyền và nghĩa vụ thì nên căn cứ vào quy định tại các Điều 50, 51, 52, 53, 54, 55, 58, 59, 60, 61 để phổ biến đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng. Song để việc điều hành phiên tòa được khoa học, ngắn gọn, dễ hiểu, Thẩm phán nên phổ biến theo nhóm quyền hoặc nghĩa vụ mà những người tham gia tố tụng được hưởng hoặc phải chấp hành.

Ví dụ: Ngoài những quyền và nghĩa vụ riêng thì những người tham gia tố tụng có những quyền chung như quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu bao gồm bị cáo; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại; người bào chữa; người có quyền liên quan. Quyền thay đổi người tiến hành tố tụng thì chỉ có người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người giám định, phiên dịch là không có quyền này, còn lại đều có quyền xin thay đổi người tiến hành tố tụng…

Khi phổ biến, phải giải thích các quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng hiểu. Đối với một số quyền, khi phổ biến có thể hỏi ngay việc thực hiện quyền đó. Ví dụ: Quyền được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, nếu bị cáo đã nhờ người bào chữa thì phải hỏi xem tại phiên toà bị cáo có đồng ý để Luật sư bị cáo mời bào chữa cho mình không, nếu bị cáo không mời người bào chữa thì giải thích cho bị cáo quyền tự bào chữa, hoặc nếu Toà án chỉ định người bào chữa trong những trường hợp bắt buộc thì cũng hỏi xem bị cáo có đồng ý không…

2.4. Giải quyết việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, Thư ký Tòa án

Đây là tình huống hay xảy ra, đòi hỏi Chủ toạ phiên tòa phải hết sức bình tĩnh để xử lý. Cụ thể, sau khi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa công bố các thành viên của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký, nếu có người giám định, phiên dịch thì chủ tọa cũng cần giới thiệu tên, chức vụ của những người đó và phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyền xin thay đổi người tiến hành tố tụng, xem có ai xin thay đổi người tiến hành tố tụng hay không? Nếu có người xin thay đổi thì yêu cầu họ nói rõ lý do họ xin thay đổi. Sau khi nghe họ nêu lý do xin thay đổi, có thể là họ xin thay đổi chính chủ tọa phiên tòa vì cho rằng chủ tọa phiên tòa sẽ không khách quan, vô tư khi xét xử, nhưng không đưa ra được lý do, thì cũng không vì thế mà chủ tọa phiên tòa nổi nóng, có những lời lẽ gay gắt, hay lời lẽ mang tính giáo dục, răn đe mà phải bình tĩnh, nhẹ nhàng, phân tích những căn cứ của việc xin thay đổi người tiến hành tố tụng tại phiên tòa. Trong mọi trường hợp nếu có người tham gia tố tụng xin thay đổi người tiến hành tố tụng tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử cũng phải tuyên bố tạm dừng phiên toà để vào phòng nghị án để thảo luận. Giải quyết vấn đề này, có thể xảy ra hai trường hợp đó là:

- Trường hợp thứ nhất, sau khi người bị yêu cầu thay đổi là thành viên của Hội đồng xét xử trình bày ý kiến về việc bị xin thay đổi, sau đó Hội đồng xét xử biểu quyết và quyết định theo đa số. Nếu quyết định không chấp nhận đề nghị thay đổi thì Hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử và tuyên bố không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu xin thay đổi thành phần Hội đồng xét xử của người tham gia tố tụng.

- Trường hợp thứ hai: Nếu quyết định chấp nhận đề nghị thay đổi thành viên của Hội đồng xét xử theo yêu cầu của người tham gia tố tụng, thì phải xem xét xem có người thay thế không. Nếu không có người thay thế thì phải hoãn phiên tòa.

Lưu ý: Nếu người bị thay đổi là Chủ tọa, Hội thẩm, Kiểm sát viên mà không có người thay thế thì phải hoãn, nếu có Chủ tọa, Hội thẩm, Kiểm sát viên dự khuyết thì những người này phải được nghiên cứu hồ sơ vụ án rồi và có mặt từ đầu tại phiên tòa thì  mới được thay thế. Nếu là Thư ký Tòa án thì Chánh án hoặc Phó chánh án Tòa án sẽ cử người khác thay thế và phiên tòa sẽ xét xử bình thường. Nếu người bị yêu cầu thay thế là người giám định, phiên dịch thì ngoài việc yêu cầu người đề nghị thay thế phải trình bày lý do xin thay thế và người bị đề nghị thay đổi phải trình bày ý kiến của mình về việc bị xin thay đổi, sau đó Hội đồng xét xử sẽ vào phòng nghị án để thảo luận và quyết định.

2.5. Giải quyết những yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên toà khi có người vắng mặt

Tại phiên tòa sau khi giải thích quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng xong, Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, đưa thêm tài liệu, vật chứng ra xem xét tại phiên tòa hay không?

Nếu có người yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, đưa thêm vật chứng ra xem xét thì Hội đồng xét xử xem xét và quyết định tại phòng xử án. Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt thì Hội đồng xét xử chủ động hoặc theo yêu cầu của Kiểm sát viên và yêu cầu của những người tham gia tố tụng quyết định có hoãn phiên tòa hay không. Tuỳ theo trường hợp Hội đồng xét xử xem xét và quyết định như sau:

- Nếu vắng mặt bị cáo mà có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa, nếu bị cáo vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự đó là:

Bị cáo trốn tránh và việc truy nã không có kết quả;

Bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên toà;

Nếu sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và họ đã được giao giấy triệu tập hợp lệ.

Lưu ý: Trong trường hợp thứ nhất cần áp dụng đúng theo thông tư liên ngành số 03/TT/BNV (C11) ngày 11/4/1997 của Bộ Nội vụ “hướng dẫn việc truy nã người bị phạt tù và bị cáo đang được tại ngoại bỏ trốn”. Đó là nếu bị cáo trốn tránh Tòa án hoặc Hội đồng xét xử phải ra quyết định bắt tạm giam gửi cho Cơ quan Công an và yêu cầu phải báo lại cho Tòa án kết quả bắt tạm giam. Nếu không bắt được bị cáo thì Tòa án phải làm Công văn yêu cầu Cơ quan Công an ra lệnh truy nã đối với bị cáo đồng thời tạm đình chỉ nếu thời hạn chuẩn bị xét xử đã hết. Sau một tháng, kể từ khi có lệnh truy nã mà vẫn chưa bắt được, cơ quan Công an phải báo cáo lại và Tòa án sẽ xét xử vắng mặt bị cáo.

Trường hợp vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị cáo trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên hoặc có nhược điểm về thể chất, tâm thần thì phải hoãn phiên tòa. Nếu người chưa thành niên không khai báo về địa chỉ, Cơ quan điều tra đã xác minh làm hết trách nhiệm, nhưng bị cáo cố tình giấu địa chỉ, không xác minh được người đại diện hợp pháp hoặc các tổ chức tham gia phiên tòa thì không cần phải có người đại diện hợp pháp theo hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 03 ngày 20/06/1992 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an).

- Vắng mặt người bào chữa: Trong những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo khoản 2 Điều 57 thì phải hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, trong trường hợp bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không nhờ người bào chữa và đều từ chối việc Đoàn luật sư cử người bào chữa thì vẫn xét xử. Cần chú ý thực hiện theo đúng hướng dẫn tại điều 2 mục II Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” đó là:

a. Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì họ hoặc người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền được lựa chọn người bào chữa;

b. Đối với bị can, bị cáo là người từ đủ 18 tuổi trở lên không có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, thì chỉ họ mới có quyền lựa chọn người bào chữa; do đó, trong trường hợp người thân thích của họ hoặc người khác lựa chọn (mời) người bào chữa cho họ thì cần phân biệt như sau:

b1. Nếu việc lựa chọn (mời) người bào chữa đã có sự đồng ý (hoặc có sự ủy quyền của bị can, bị cáo thì Tòa án cấp giấy chứng nhận bào chữa để họ thực hiện bào chữa;

b2. Nếu việc lựa chọn (mời) người bào chữa chưa có sự đồng ý (hoặc chưa có sự ủy quyền) của bị can, bị cáo thì Tòa án yêu cầu người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người khác thực hiện việc lựa chọn người bào chữa phải hỏi ý kiến của bị can, bị cáo đang bị tạm giam biết việc người thân thích của họ hoặc người khác đã lựa chọn (nhờ) người bào chữa cho họ và hỏi họ có đồng ý hay không. Nếu họ đồng ý thì cấp giấy chứng nhận cho người bào chữa để người bào chữa thực hiện việc bào chữa.

Tại Điều 3 có quy định như sau:

a.“…Trường hợp khi phạm tội, người phạm tội là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố, truy tố, xét xử họ đã đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự.”

d2. Trường hợp yêu cầu từ chối người bào chữa (kể cả trường hợp đã có yêu cầu từ chối người bào chữa trước khi mở phiên tòa), thì Hội đồng xét xử cần phải giải thích cho họ biết người bào chữa sẽ giúp cho bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị cáo và chi phí cho người bào chữa do Tòa án thanh toán.

Trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần và thể chất mà cả bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo vẫn giữ nguyên ý kiến từ chối người bào chữa thì cần phải ghi vào biên bản phiên tòa và tiến hành xét xử theo thủ tục chung mà không có sự tham gia của người bào chữa đã được cử. Nếu chỉ có bị cáo từ chối người bào chữa, còn người đại diện hợp pháp của bị cáo không từ chối người bào chữa hoặc chỉ có người đại diện hợp pháp của bị cáo từ chối người bào chữa còn bị cáo không từ chối người bào chữa, thì tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung, có sự tham gia của người bào chữa đã được cử”.

Còn nếu vắng mặt người bào chữa trong các trường hợp khác thì tuỳ trường hợp cụ thể Tòa án có thể vẫn xét xử hoặc hoãn phiên tòa, tuy nhiên các Thẩm phán cần nghiên cứu và nắm chắc các quy định tại các Điều 56, 57, 58 và 190 Bộ luật tố tụng hình sự. Đặc biệt, cần lưu ý quy định bổ sung tại Điều 190 Bộ luật Tố tụng hình sự về việc nếu người bào chữa vắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử, trừ trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự. Thông thường trong các trường hợp vụ án nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp; hồ sơ vụ án có những điểm chưa thật rõ ràng; việc buộc tội bị cáo có những ý kiến khác nhau… và bị cáo yêu cầu mà người bào chữa vắng mặt có lý do chính đáng thì Toà án hoãn phiên toà.

 Lưu ý, việc bào chữa của luật sư do bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo mời thì nghĩa vụ của luật sư phải có mặt tại phiên tòa, song Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng cần chú ý tới việc gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho người bào chữa chậm nhất là mười ngày trước khi mở phiên tòa theo đúng quy định tại Điều 182 Bộ luật tố tụng hình sự, tránh trường hợp người bào chữa lấy lý do không nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử để xin hoãn phiên tòa.

- Trường hợp vắng mặt người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc những người đại diện hợp pháp của họ.

Trong trường hợp, cần phải có lời khai của những người này tại phiên toà mới giải quyết đúng đắn vụ án hình sự thì Hội đồng xét xử cần phải hoãn phiên toà.

Nếu người bị hại, nguyên đơn đân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ của vụ án đã rõ ràng, đầy đủ, sự vắng mặt của họ không trở ngại gì cho việc xét xử thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

Nếu thấy sự vắng mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự chỉ trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thì Hội đồng xét xử có thể tách việc bồi thường để xét xử sau theo thủ tục tố tụng dân sự (khoản 2 Điều 191 Bộ luật tố tụng hình sự).

- Trường hợp vắng mặt người làm chứng:

Trong những vụ án mang tính điều tra truy xét mà cần phải có những lời khai của người làm chứng tại phiên tòa, mới làm sáng tỏ được những tình tiết quan trọng của vụ án mà người làm chứng vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa.

Lưu ý, những trường hợp muốn áp dụng biện pháp dẫn giải người làm chứng theo quy định tại Điều 192 Bộ luật tố tụng hình sự thì cần phải có các căn cứ sau:

+ Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ có giấy giao giấy triệu tập lưu trong hồ sơ;

+ Trong giấy triệu tập đã thông báo rõ là nếu cố ý không có mặt theo giấy triệu tập mà không có lý do chính đáng thì có thể bị dẫn giải, mà họ vẫn cố tình không đến phiên toà theo giấy triệu tập;

+ Phải thuộc trường hợp nếu vắng mặt người làm chứng sẽ gây trở ngại cho việc xét xử hoặc phải hoãn phiên toà.

- Trường hợp vắng mặt người giám định: Nếu trong trường hợp kết luận giám định đã rõ ràng, không có mâu thuẫn với các chứng cứ khác thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người giám định.

Nếu vụ án có tính chất phức tạp, kết luận giám định còn có những điểm chưa rõ, cần phải hỏi thêm người giám định tại phiên toà thì phải hoãn phiên toà.

3. Xét hỏi tại phiên toà hình sự sơ thẩm

Xét hỏi tại phiên tòa, hay như nhiều người thường gọi là “thẩm vấn”, chính là một phần của quá trình xét xử, trong đó Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự phải kiểm tra các chứng cứ, kết luận điều tra, bản Cáo trạng một cách công khai về những tình tiết của vụ án, cũng như phải trực tiếp xét hỏi bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, nghe kết luận của người giám định, xem xét các vật chứng, đọc biên bản, công bố lời khai, công bố các tài liệu, xem xét tại chỗ… Xét hỏi là giai đoạn trung tâm của hoạt động xét xử và cũng là giai đoạn quan trọng nhất để xác định sự thật của vụ án, cũng như là những căn cứ để xác định tội danh và quyết định hình phạt. Tuy những câu hỏi và trả lời tại phiên tòa, không khác nhiều so với những câu hỏi và trả lời trong quá trình điều tra, nhưng nó lại có ý nghĩa quan trọng vì việc hỏi và trả lời tại phiên tòa được diễn ra một cách công khai, là hình thức kiểm nghiệm kết quả điều tra của cơ quan Điều tra.

Xét hỏi tại phiên tòa là một hoạt động tố tụng rất quan trọng, được quy định từ Điều 206 đến Điều 216 Bộ luật tố tụng hình sự. Đây là thủ tục có ý nghĩa quan trọng, quyết định đối với việc chứng minh vụ án vì ở thủ tục này mọi chứng cứ đều được xem xét, thẩm tra công khai, những mâu thuẫn giữa các lời khai, giữa lời khai với vật chứng… được làm sáng tỏ để khẳng định giá trị chứng minh của từng chứng cứ. Đây cũng chính là cơ sở của hoạt động tranh tụng như tinh thần của Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị. Ở Việt Nam, tranh tụng tại phiên tòa chỉ là một trong những hoạt động tố tụng chứ không bao trùm lên toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự. Đây là điều hoàn toàn khác với “tố tụng tranh tụng” của nhiều nước trên thế giới. Tranh tụng tại phiên tòa nhưng vẫn giữ được bản chất của tố tụng xét hỏi, trên cơ sở kết quả điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Tuy là Tố tụng xét hỏi, nhưng tính chất tranh tụng tại phiên tòa vẫn là sự tranh luận giữa những người có quyền và lợi ích đối lập nhau như Kiểm sát viên với bị cáo và người bào chữa, giữa người bị hại với bị cáo và người bào chữa, trong một s trường hợp còn có giữa Kiểm sát viên với người bị hại, giữa những người tham gia tố tụng khác với nhau. Hội đồng xét xử  không phải là những người tham gia tranh tụng, nhưng lại giữ vai trò vô cùng quan trọng đó là vai trò tổ chức, điều khiển việc tranh tụng tại phiên tòa giữa những người có quyền và lợi ích đối lập nhau. Với vai trò quan trọng của Hội đồng xét xử trong hoạt động xét hỏi và tổ chức, điều khiển tranh tụng tại phiên tòa, và để phiên tòa đúng với yêu cầu của cải cách tư pháp thì cần phải chú ý những vấn đề sau:

3.1. Thủ tục xét hỏi chung

Sau khi Chủ tọa phiên tòa đã làm xong phần thủ tục, Chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc phần thủ tục phiên toà, chuyển sang phần xét hỏi, yêu cầu đại diện Viện kiểm sát công bố bản Cáo trạng. Theo quy định tại Điều 206 BLTTHS thì trước khi tiến hành xét hỏi, kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày những ý kiến bổ sung nếu có. Khi kiểm sát viên trình bày ý kiến bổ sung vào bản cáo trạng, về nguyên tắc, kiểm sát viên phải đọc nguyên văn bản cáo trạng đă được giao cho bị cáo. Tuy nhiên, Điều 206 BLTTHS lại quy định kiểm sát viên sau khi đọc bản cáo trạng có thể “trình bày ý kiến bổ sung, nếu có”. Đến nay, các cơ quan có thẩm quyền chưa có hướng dẫn cụ thể nào về quy định này nên đã dẫn tới những cách hiểu khác nhau. Có ý kiến cho rằng Điều 206 BLTTHS quy định Kiểm sát viên có quyền trình bày ý kiến bổ sung sau khi đọc bản cáo trạng là không phù hợp. Vì bất kỳ sự bổ sung nào vào bản cáo trạng trước khi bắt đầu phiên tòa đều phải được giao cho bị cáo và nếu Viện kiểm sát không giao cho bị cáo thì nhất thiết phải hoãn phiên tòa.

Quan điểm khác lại cho rằng “điều luật nói đến ý kiến bổ sung về bản cáo trạng, chứ không phải là bổ sung cáo trạng. Vì vậy, ý kiến bổ sung của viện kiểm sát là nhằm để làm rõ hơn nội dung cáo trạng chứ không thay đổi, bổ sung cáo trạng”.

Lưu ý, như quan điểm trên thì trong khi trình bày bản Cáo trạng, Kiểm sát viên có thể trình bày ý kiến bổ sung về bản Cáo trạng, nếu có trường hợp này thì phải hiểu Kiểm sát viên chỉ trình bày ý kiến bổ sung về bản Cáo trạng, chứ không phải bổ sung Cáo trạng. Tức là, Kiểm sát viên chỉ trình bày làm rõ thêm nội dung của bản Cáo trạng chứ không phải thêm hoặc bớt nội dung của bản Cáo trạng (nếu có việc thêm hoặc bớt nội dung của bản Cáo trạng là vi phạm, nhất là trong trường hợp gây bất lợi cho bị cáo). Việc rút quyết định truy tố tại phiên toà chỉ được thực hiện trong lời luận tội của Kiểm sát viên theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Để việc xét hỏi đạt kết quả tốt, Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của bị cáo bằng cách đặt câu hỏi và nghe ý kiến trình bày của bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác, đặc biệt là ý kiến của người làm chứng trong các vụ án có tính điều tra truy xét, ý kiến của người giám định đối với vụ án hình sự mà kết luận giám định có chỗ chưa rõ ràng hoặc có sự thắc mắc của những người tham gia tố tụng.

Nếu cần thiết cần phải xem xét vật chứng và các tài liệu khác và phải xem xét tại chỗ. Mọi chứng cứ làm cơ sở cho Hội đồng xét xử kết luận đều phải được xem xét tại phiên tòa theo nguyên tắc “Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa” theo đúng quy định tại Điều 184 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Việc xem xét vật chứng hoặc công bố các tài liệu có trong hồ sơ có thể sử dụng bất cứ lúc nào trong quá trình xét hỏi, để chứng minh các tình tiết của vụ án một cách đúng đắn nhất. Ví dụ: Đối với các vụ án Cố ý gây thương tích, khi xét hỏi về hành vi và hậu quả xảy ra, nếu có mâu thuẫn thì Hội đồng xét xử có thể công bố ngày kết luận giám định pháp y, chứng thương của Bệnh viện về nguyên nhân và cơ chế hình thành vết thương, tỷ lệ thương tích mà bị cáo gây ra cho người bị hại.

Đối với vật chứng cần xem xét tại chỗ, cần yêu cầu người có liên quan đến vật chứng, bị cáo phải trình bày, mô tả vật chứng trước rồi mới đưa vật chứng ra. Ví dụ: Yêu cầu bị cáo mô tả con dao đã dùng để gây án như kích thước, hình dáng, màu sắc… sau đó đưa vật chứng ra và đặt câu hỏi làm rõ các đặc tính khách quan và hợp pháp của vật chứng, làm rõ những vấn đề liên quan đến vật chứng, đối với những vật chứng không thể đưa ra phiên tòa được thì cần công bố ảnh của vật chứng và biên bản thu giữ.

- Xem xét tại chỗ: Trường hợp cần xem xét địa điểm xảy ra tội phạm cũng như các địa điểm khác có liên quan đến vụ án hoặc cần xem xét vật chứng cồng kềnh không thể đưa đến phiên tòa được thì Hội đồng xét xử quyết định xem xét tại chỗ. Tùy thuộc vào địa điểm cần xem xét, Chủ tọa quyết định thành phần những người tham gia xem xét tại chỗ. Thông thường thành phần gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa và người có liên quan đến vật chứng hoặc địa điểm cần xem xét. Quá trình xem xét Hội đồng xét xử có thể đặt câu hỏi để làm rõ những thắc mắc liên quan đến vật chứng, địa điểm cần xem xét.

Trong thực tế xét xử, trường hợp này ít xảy ra tại phiên toà vì trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nếu thấy cần thiết phải xem xét tại chỗ hiện trường nơi xảy ra tội phạm thì Hội đồng xét xử đã cùng với Kiểm sát viên tiến hành xem xét. Tuy vậy, cũng có trường hợp tại phiên toà sau khi công bố biên bản về hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, bị cáo, người bị hại, người làm chứng hoặc người có liên quan mới phát hiện ra những điểm mô tả trong biên bản không đúng với thực tế thì Hội đồng xét xử vẫn cần phải quyết định xem xét tại chỗ. Ví dụ: như vụ Dâm ô tại Từ Sơn, Hội đồng xét xử cũng phải xuống tận hiện trường để xem xét tại chỗ.

3.2. Về trình tự xét hỏi đối với từng người

Bộ luật tố tụng hình sự không quy định phải hỏi ai trước, ai sau. Tuỳ thuộc vào vụ án hình sự cụ thể, khi nghiên cứu hồ sơ Chủ tọa phiên tòa có kế hoạch xét hỏi sao cho hợp lý. Thứ tự xét hỏi hợp lý không phải là thứ tự bất biến, phù hợp với tất cả các vụ án mà là thứ tự được xác định một cách hợp lý trên cơ sở nội dung từng vụ án cụ thể cũng như thái độ khai báo của những người tham gia tố tụng trong vụ án đó. Xác định thứ tự xét hỏi hợp lý thực sự là công việc không đơn giản, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm, kĩ năng của người xét hỏi. Về nguyên tắc chung, theo chúng tôi, việc xác định thứ tự xét hỏi phải xuất phát từ nội dung xét hỏi (các vấn đề cần được làm rõ) trong từng vụ án, từ đặc điểm của những người tham gia tố tụng và phải đảm bảo nguyên tắc xác định sự thật vụ án. Về nội dung xét hỏi, trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa cần lập kế hoạch xét hỏi trong đó nêu rõ những vấn đề cần làm sáng tỏ bao gồm các tình tiết định tội; các tình tiết định khung hình phạt; các tình tiết có ý nghĩa đối với việc quyết định hình phạt như tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các đặc điểm về nhân thân của bị cáo; các tình tiết liên quan đến việc giải quyết vấn đề dân sự, xử lý vật chứng, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Trên cơ sở những vấn đề cơ bản đó, tùy từng vụ án cụ thể, thẩm phán cần xác định được một cách chính xác những điểm mấu chốt cần làm rõ tại phiên tòa sơ thẩm. Từ nội dung các vấn đề cần xét hỏi, thẩm phán xác định thứ tự xét hỏi đối với từng vấn đề một. Cách thức xét hỏi theo vấn đề như vậy sẽ giúp quá trình xét hỏi được mạch lạc, rõ ràng, tránh sự trùng lặp, hỏi đi hỏi lại về cùng một vấn đề.

Khi hỏi bị cáo, đối với vụ án đồng phạm thì cần phải hỏi riêng từng bị cáo, nếu thấy lời khai của bị cáo này có thể ảnh hưởng đến lời khai của bị cáo khác thì cần cách ly các bị cáo. Bị cáo bị cách ly, được thông báo lại nội dung lời khai của bị cáo trước. Đối với vụ án có đồng phạm, Hội đồng xét xử thường chọn bị cáo chính để hỏi trước, bị cáo khác hỏi sau hoặc hỏi bị cáo khai nhận tội rõ ràng trước với hi vọng bị cáo này sẽ cung cấp những tài liệu, chứng cứ quan trọng làm sáng tỏ ngay từ đầu hành vi phạm tội của bị cáo chính. Thứ tự xét hỏi này không vi phạm quy định của BLTTHS và trên thực tế đã phát huy tác dụng, giúp việc xét hỏi không bị kéo dài mà vẫn làm rõ được nội dung vụ án. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, việc xét hỏi bị cáo trước (nhất là bị cáo nhận tội) dễ tạo cảm giác không khách quan, khiến người tham gia tố tụng và những người tham dự phiên tòa cho rằng mọi việc xét hỏi sau đó chỉ nhằm củng cố lời nhận tội của bị cáo; bản thân hội đồng xét xử cũng khó tránh khỏi định kiến là bị cáo đã có tội và chỉ cần củng cố chứng cứ để kết tội.

Ví dụ: Trong vụ án đồng phạm, nếu bị cáo có vai trò đầu vụ mà thái độ khai báo thành khẩn thì hỏi trước, nếu bị cáo đầu vụ có thái độ khai báo thiếu thành khẩn hoặc có khả năng sẽ phản cung trước phiên tòa thì không nên hỏi trước mà hỏi các bị cáo có vai trò thứ yếu, quá trình hỏi nên dùng ngay lời khai của các bị cáo này để đấu tranh với bị cáo đầu vụ làm sáng tỏ ngay từ đầu hành vi phạm tội của bị cáo chính.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 209 Bộ luật tố tụng hình sự, thì trước khi hỏi bị cáo, phải để bị cáo trình bày ý kiến của họ về bản Cáo trạng và những tình tiết của vụ án, sau đó mới hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc còn mâu thuẫn.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 209 Bộ luật tố tụng hình sự, thì Kiểm sát viên hỏi về những tình tiết của vụ án có liên quan đến việc buộc tội và gỡ tội đối với bị cáo. Đây là quy định mới và rất quan trọng đối với Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, do đó tại phiên tòa nếu có những lời khai mâu thuẫn hoặc các bị cáo không thừa nhận bản Cáo trạng thì Kiểm sát viên phải có trách nhiệm chứng minh để bảo vệ bản Cáo trạng của mình, trong bản luận tội của Kiểm sát viên không phải chỉ nêu các tình tiết, chứng cứ buộc tội bị cáo mà còn phải nêu đầy đủ cả các tình tiết, chứng cứ gỡ tội cho bị cáo (nếu có). Nếu thông qua phần xét hỏi mà chứng minh bị cáo không phạm tội thì Kiểm sát viên còn phải rút quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ vụ án.

Trong vụ án có nhiều hành vi phạm tội hay có nhiều tội bị truy tố, Chủ tọa phiên tòa nên lựa chọn những hành vi cụ thể rõ ràng để hỏi trước. Tùy theo từng trường hợp cụ thể Hội đồng xét xử quyết định trình tự xét hỏi đối với từng người, đối với từng hành vi hoặc từng tội. Đối với hành vi hoặc tội phạm này thì hỏi bị cáo là người thực hành trước; nhưng đối với hành vi hoặc tội phạm khác thì có thể hỏi người tổ chức, người giúp sức, người xúi giục trước…

Tuy Điều 207 Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định về trình tự xét hỏi. Song thực tế, việc xét hỏi đa phần do Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa hỏi là chính và để xác định sự thật khách quan của vụ án có thể phải xét hỏi nhiều lần, cùng một lúc có thể xét hỏi nhiều người để kiểm tra tính xác thực của vụ án.

Ví dụ: Trong khi xét hỏi bị cáo, chủ tọa có thể yêu cầu người làm chứng, người bị hại hoặc các bị cáo khác trong cùng vụ án, khai báo để kiểm tra, đối chứng ngay tính khách quan, đúng đắn trong các câu trả lời của bị cáo. Điều này, giúp cho người xét hỏi xác định sự thật khách quan của vụ án toàn diện hơn.

Lưu ý, chỉ được công bố lời khai của người bị xét hỏi tại cơ quan điều tra, trong các trường hợp sau:

+ Lời khai của người được xét hỏi tại phiên tòa có mâu thuẫn với lời khai của họ tại cơ quan điều tra.

+ Người được xét hỏi không khai tại phiên tòa (từ chối khai báo tại tòa).

+ Người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết.

Khi công bố lời khai của họ, Chủ tọa phiên tòa cần hỏi xem họ có còn nhớ lời khai của họ tại cơ quan điều tra hay không, rồi mới công bố lời khai, sau khi công bố lời khai cần yêu cầu họ khẳng định lời khai của họ. Nếu họ chối bỏ cần cho họ xem và xác nhận chữ ký của họ tại biên bản hỏi cung bị can hoặc biên bản ghi lời khai.

* Mục đích, ý nghĩa và yêu cầu của việc đặt câu hỏi.

Việc đặt câu hỏi, có vai trò rất quan trọng trong quá trình xét hỏi, xác định sự thật của vụ án. Câu hỏi được đưa ra phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Thứ nhất: Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng về nội dung và xác định được đối tượng cần được làm rõ. Tránh trường hợp đặt câu hỏi dài dòng, vòng vo làm cho người được xét hỏi khó nắm bắt để trả lời. Trong quá trình đặt câu hỏi, có thể đặt ra các câu hỏi không trực tiếp liên quan đến đối tượng nhằm kiểm tra các chứng cứ, lời khai. Tuyệt đối không được đưa ra các câu hỏi mang tính đánh đố hoặc “mớm” cho người được xét hỏi  trả lời theo hướng đã định sẵn.

Thứ hai: Không nên đặt câu hỏi và yêu cầu người được xét hỏi chỉ trả lời “có” hoặc “không”. Với tâm lý sợ hãi, mất bình tĩnh của người được xét hỏi tại phiên toà, nhất là các bị cáo thì việc đặt câu hỏi như vậy rất thiếu khách quan.

Ví dụ: Có vụ án về tội giết người xảy ra vào hồi 21h ngày 25/9/2009 tại nhà nghỉ A và bị cáo bị truy tố về tội giết người với vai trò là người thực hành. Để kiểm tra xem bị cáo có chứng cứ ngoại phạm không thì không được đặt câu hỏi “vào 21h ngày 25/9/2009 bị cáo có mặt ở nhà nghỉ A phải không?” để bị cáo trả lời “có” hoặc “không”; mà phải đặt câu hỏi “vào 21h ngày 25/9/2009, bị cáo đang ở đâu và làm gì?”. Hỏi như vậy để bị cáo nhớ lại và trả lời khi đó bị cáo đang ở đâu và làm gì. Câu trả lời của bị cáo đối với câu hỏi sẽ bảo đảm tính khách quan hơn vì đã huy động được tư duy khách quan của bị cáo.

Trong quá trình xét hỏi tránh trường hợp đôi co với người được xét hỏi. Trong vụ án có đồng phạm, cần xác định hỏi bị cáo nào trước, bị cáo nào sau, làm sao cho việc xét hỏi được thuận lợi nhất và làm sáng tỏ được sự thật khách quan của vụ án. Đôi khi không nhất thiết phải buộc các bị cáo đều phải trình bày lại các tình tiết của vụ án, khi hỏi bị cáo đầu tiên về các tình tiết của vụ án, nên kết hợp việc dùng các bị cáo khác, xác định lời khai của bị cáo đang được xét hỏi, khẳng định về các tình tiết của vụ án. Nếu có sự mâu thuẫn giữa lời khai của các bị cáo, cần tiến hành đối chất ngay tại phiên toà.

Lưu ý một số tình huống thường gặp khi xét hỏi:

- Đối với trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, mà có khó khăn trong việc khai báo thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu cha mẹ, người giám hộ của họ giúp đỡ để hỏi bị cáo. Nếu thấy có mặt của những người này làm cho bị cáo không dám khai, thì mời họ tạm rời khỏi phòng xử án. Sau khi bị cáo đã khai thì lại mời họ vào phòng xử án và nhắc lại nội dung mà bị cáo vừa khai báo để họ được biết.

- Đối với những trường hợp bị cáo nhận tội:

Trong trường hợp bị cáo nhận tội thành khẩn, thì Chủ tọa phiên tòa cũng không được chủ quan tin vào lời khai của bị cáo ngay, mà cần cho bị cáo trình bày đầy đủ các hành vi phạm tội và tình tiết của vụ án. Các tình tiết này phải thể hiện rõ các yếu tố cấu thành tội phạm, cần dùng các chứng cứ khác để kiểm tra, chứng minh lời nhận tội của bị cáo là đúng. Cần xác định động cơ nhận tội của bị cáo để có phương án giải quyết vụ án thích hợp. Động cơ nhận tội của bị cáo có thể bao gồm:

Nhận tội do thực sự thành khẩn;

Nhận tội nhẹ để che giấu một tội khác nặng hơn;

Nhận tội thay người khác;

Nhận tội do bức xúc hay bất cần vì quá mệt mỏi trong quá trình điều tra và bị giam giữ lâu ngày nên nhận bừa cho xong;

Tại cơ quan Điều tra bị cáo không nhận tội, nhưng tại phiên toà lại nhận tội để mong được giảm nhẹ.

Vì việc nhận tội của bị cáo có thể do nhiều động cơ khác nhau, do vậy chỉ có thể kết luận bị cáo phạm tội khi lời nhận tội của họ phù hợp với các chứng cứ khác có trong vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị cáo là chứng cứ duy nhất để kết tội (Điều 72 BLTTHS).

- Đối với trường hợp bị cáo đổ lỗi cho người khác, chỉ nhận một phần về mình.

Trong trường hợp này, Chủ tọa phiên tòa phải hỏi những người tham gia tố tụng khác, kết hợp xem xét vật chứng, tài liệu khác có trong hồ sơ, kết hợp với xét hỏi các bị cáo khác, người làm chứng, bị hại, tiến hành đối chất, yêu cầu bị cáo giải thích… để xác định sự thật khách quan của vụ án, tìm những mâu thuẫn trong lời khai của bị cáo và trong lời khai của bị cáo với những lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Đặc biệt là đối với người mà bị cáo đổ lỗi sang cho họ. Nếu bị cáo khai có người khác cùng phạm tội với bị cáo mà chưa bị truy tố, Hội đồng xét xử cần xem xét kỹ lưỡng nếu lời khai của bị cáo có cơ sở thì tuỳ theo từng trường hợp có thể hoãn phiên toà để trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung hoặc vẫn xét xử và kiển nghị Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án mới.

- Trường hợp bị cáo không nhận tội hoặc không khai báo: Bị cáo không nhận tội, do nhiều nguyên nhân, động cơ khác nhau. Trong mọi trường hợp thì Hội đồng xét xử vẫn phải xét hỏi đầy đủ, khách quan, toàn diện về vụ án. Khi gặp trường hợp này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải hết sức bình tĩnh, song vẫn phải cứng rắn thể hiện sự uy nghiêm của pháp luật, không để bị cáo lợi dụng sự dân chủ ở phiên tòa để đổ lỗi cho cơ quan Điều tra. Đồng thời, người xét hỏi cũng không được dụ cung, bức cung hoặc lợi dụng sự hiểu biết pháp luật hạn chế của bị cáo để buộc bị cáo khai báo không phù hợp với sự thật khách quan của vụ án.

Trong trường hợp này Hội đồng xét xử, phải sử dụng phương pháp xét hỏi hợp lý để xác định sự thật của vụ án như xét hỏi xen kẽ, xem xét vật chứng, công bố tài liệu, đối chất. Đặc biệt, cần tập trung làm sáng tỏ lý do mà bị cáo không nhận tội. Hội đồng xét xử cần chú ý, khai báo không phải là nghĩa vụ của bị cáo, vì vậy không nên có thái độ khó chịu, bức xúc nóng nảy khi bị cáo không khai báo.

- Trường hợp bị cáo phản cung:

Trường hợp bị cáo phản cung là trường hợp bị cáo khai ngược hẳn lại với nội dung đã khai báo tại cơ quan Điều tra. Hội đồng xét xử phải tuỳ trường hợp (phản cung nhận tội hay chối tội) để thực hiện việc xét hỏi cho hợp lý. Trong trường hợp này, Hội đồng xét xử cần làm rõ động cơ phản cung của bị cáo, để từ đó tiến hành xét hỏi. Trong mọi trường hợp, Hội đồng xét xử vẫn phải chú trọng đến việc xét hỏi bị cáo và người tham gia tố tụng khác, công bố lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, yêu cầu bị cáo trả lời lý do tại sao lại khai báo khác với lời khai tại cơ quan Điều tra. Tránh trường hợp khi bị cáo phản cung theo hướng nhận tội tại phiên toà thì Hội đồng xét xử cho rằng như vậy là bị cáo thật thà khai báo mà không xét hỏi gì thêm; còn phản cung chối tội thì cho rằng bị cáo ngoan cố, không thật thà khai báo để truy bức, ép cung. Bởi vì như vậy, nguy cơ xét xử oan người vô tội là rất cao. Trong mọi trường hợp, đặc biệt khi bị cáo chối tội, không khai báo hay phản cung chối tội thì Chủ tọa phiên tòa cần yêu cầu đại diện Viện kiểm sát thực hiện việc xét hỏi để bảo vệ bản Cáo trạng, bởi vì Tòa án, không phải là cơ quan có chức năng buộc tội mà chỉ làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án tại phiên tòa. Việc buộc tội là chức năng của Viện kiểm sát. Cho nên, trong trường hợp bị cáo không khai báo, không nhận tội bị truy tố, phản cung khai báo khác với nội dung đã nêu thì đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa có trách nhiệm xét hỏi để bảo vệ Cáo trạng.

Sau khi xét hỏi bị cáo xong, Hội đồng xét xử tiếp tục xét hỏi những người tham gia tố tụng khác như: người làm chứng, người bị hại, người giám định… tuỳ theo từng vụ án và diễn biến của phiên toà mà đặt câu hỏi cho hợp lý.

Những tình huống cần xử lý khi xét hỏi những người tham gia tố tụng:

- Có những trường hợp vì quá bực tức, xúc động, người bị hại yêu cầu “máu phải trả bằng máu” (các vụ án giết người), mà không khai về bồi thường thiệt hại. Hoặc có trường hợp họ xỉ vả, mắng nhiếc bị cáo, trách móc gia đình bị cáo gây nên không khí căng thẳng ở phiên tòa. Trong những trường hợp này Chủ tọa phiên tòa cần giải thích pháp luật cho người bị hại hiểu và nhắc nhở họ tôn trọng nội quy phiên tòa với thái độ mềm mỏng, không nên nóng nảy cắt lời khai của người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại. Trường hợp người bị hại khai không đúng về mức độ thiệt hại để được bồi thường nhiều, Chủ tọa phiên tòa cần hỏi kỹ người bị hại về sự thiệt hại và việc chi phí nhằm chỉ rõ những điểm không hợp lý trong lời khai và yêu cầu của họ.

- Trong khi xét hỏi các nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bị hại. Có thể các đương sự đã thoả thuận việc bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa; cũng có thể các đương sự thể hiện mong muốn thoả thuận bồi thường tại phiên tòa… Trong các trường hợp đó Chủ tọa phiên tòa cần chấp nhận cho họ tự thoả thuận với nhau và công bố kết quả thoả thuận của các đương sự để họ xác nhận công khai. Trường hợp các đương sự đã tự thoả thuận bồi thường trước khi mở phiên toà thì cần công bố bản thoả thuận để họ xác nhận và thể hiện ý chí tại phiên toà.

3.3. Kết thúc xét hỏi                    

Sau khi Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, luật sư… đã xét hỏi xong vụ án theo trình tự luật định, nếu thấy cần thiết phải làm sáng tỏ thêm một số tình tiết của vụ án làm cơ sở cho việc quyết định của Hội đồng xét xử, Chủ tọa phiên tòa có thể tiếp tục xét hỏi thêm. Bởi vì, thông qua việc xét hỏi có thể mang tính để buộc tội hoặc gỡ tội của Kiểm sát viên, xét hỏi mang tính buộc tội hoặc gỡ tội của người bào chữa… có thể xuất hiện thêm các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án mà Hội đồng xét xử chưa lường hết được trong phần xét hỏi của mình.

Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì Chủ tọa phiên toà yêu cầu người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội. Chúng ta phải hiểu là người bị hại chỉ trình bày lời buộc tội chứ không phải là luận tội. Do vậy, khi phát biểu họ chỉ đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo hoặc không kết tội bị cáo, nếu kết tội thì là tội gì và hình phạt như thế nào là đủ, mà không yêu cầu họ phải phân tích chứng cứ, pháp luật áp dụng như trong lời luận tội của Kiểm sát viên được.

Nếu nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xét hỏi đầy đủ và không ai đề nghị xét hỏi thêm Chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc thủ tục xét hỏi tại phiên tòa chuyển sang phần tranh luận.

4. Kỹ năng điều khiển phần tranh luận tại phiên tòa

4.1. Kỹ năng điều khiển trình tự phát biểu khi tranh luận

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội.

Sau khi kết thúc phần xét hỏi, Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên trình bày lời luận tội.

Trong phần này cần lưu ý:

Chủ tọa phiên tòa không hạn chế thời gian luận tội của Kiểm sát viên. Trong quá trình Kiểm sát viên luận tội, Hội đồng xét xử phải chú ý lắng nghe và ghi chép để nắm được nội dung luận tội thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát làm cơ sở cho việc điểu khiển tranh luận tiếp theo và thảo luận khi nghị án.

Nếu Kiểm sát viên, đề nghị kết tội bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử cần nắm được các căn cứ xác định bị cáo có tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ Trách nhiệm hình sự của bị cáo và các đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt, giải quyết bồi thường, xử lý vật chứng của vụ án.

Nếu Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng tại phiên tòa trình bày ý kiến của họ về việc rút truy tố đó (khoản 2 Điều 221 BLTTHS). Nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì Thẩm phán phải ghi lại các căn cứ mà Kiểm sát viên xác định bị cáo không phạm tội, Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội; nếu thấy việc rút truy tố không có căn cứ thì ra quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp (khoản 2 Điều 222 BLTTHS).

Trường hợp Tòa án quyết định xét xử bị cáo theo khung hình phạt nặng hơn khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố và trong lời luận tội Kiểm sát viên chưa đề cập đến khung hình phạt nặng hơn đó, thì Chủ tọa phiên tòa cần đề nghị Kiểm sát viên tỏ thái độ về việc xử lý bị cáo theo khung hình phạt nặng hơn đó hay không.

Nếu quá trình Kiểm sát viên luận tội, Hội đồng xét xử không tập trung lắng nghe sẽ không nắm được đầy đủ chính xác nội dung lời luận tội, sẽ khó có thể ra một bản án đúng đắn. Thậm chí, không xác định được những tình tiết quan trọng của vụ án mà Kiểm sát viên chưa đề cập đến trong phần luận tội để yêu cầu Kiểm sát viên bổ sung những điểm thiếu trong phần luận tội.

- Những người tham gia tố tụng phát biểu khi tranh luận.

Sau khi phần luận tội của Kiểm sát viên xong, Chủ tọa phiên tòa yêu cầu bị cáo trình bày lời báo chữa nếu bị cáo không có Luật sư, nếu bị cáo có luật sư thì yêu cầu Luật sư của bị cáo trình bày bài báo chữa trước, bị cáo bổ sung sau.

Lưu ý, trong vụ án đồng phạm có nhiều bị cáo, nhiều Luật sư thì Chủ tọa phiên tòa nên yêu cầu người bào chữa cho bị cáo có vai trò chính bào chữa trước, sau đó đến những người bào chữa cho các bị cáo đồng phạm khác theo thứ tự vai trò của các bị cáo trong vụ án.

Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào nội dung từng vụ án, có thể có một số vụ án, một số bị cáo cùng thực hiện một hành vi phạm tội, thì Chủ tọa để những người bào chữa cho các bị cáo cùng thực hiện một tội phạm bào chữa xong mới yêu cầu người bào chữa cho bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khác bào chữa. Ví dụ: Trong vụ án ma tuý có những bị cáo làm nhiệm vụ vận chuyển, có những bị cáo làm nhiệm vụ mua bán…

Chủ tọa phiên tòa nên hướng người bào chữa, bào chữa đúng trọng tâm mà họ nhận bào chữa, nếu họ bào chữa cả những vấn đề không liên quan đến bị cáo mà mình nhận bào chữa thì Chủ tọa phiên tòa có quyền cắt ý kiến của người bào chữa.

Hội đồng xét xử cần lưu ý những vấn đề người bào chữa đưa ra như:

Người bào chữa khẳng định, phủ định những vấn đề gì;

Người bào chữa đề nghị những vấn đề gì;

Các chứng cứ và căn cứ pháp lý mà người bào chữa đưa ra để bào chữa cho bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo không có người bào chữa và tự bào chữa, nhưng do áp lực về tâm lý, do nhận thức pháp luật hạn chế mà không xác định được nội dung bào chữa thì Chủ tọa phiên tòa cần gợi ý cho bị cáo thể hiện quan điểm về tội danh, về hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị.

Sau phần bào chữa của bị cáo thì Chủ tọa yêu cầu người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, trình bày ý kiến để bảo vệ quyền lợi cho họ. Chủ tọa lưu ý họ chỉ trình bày những ý chính, tránh để họ trình bày lan man, không liên quan đến vụ án hoặc quyền lợi của họ.

4.2. Điều khiển trong phần đối đáp

Chủ tọa phiên tòa điều khiển phần đối đáp theo trình tự yêu cầu Kiểm sát viên đáp lại ý kiến của người bào chữa, và những người tham gia tố tụng khác và phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến, phải có quan điểm chấp nhận hay không chấp nhận các quan điểm của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. Nếu Kiểm sát viên, không trả lời hoặc trả lời không đầy đủ thì Chủ tọa phiên tòa cần nhắc Kiểm sát viên phải trả lời đầy đủ những ý kiến của những người tham gia tố tụng. Sau khi Kiểm sát viên, đối đáp xong thì Chủ tọa phiên toà, yêu cầu người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác trình bày những ý kiến đáp lại.

Lưu ý, tất cả những người tham gia tranh luận đều có quyền đáp lại ý kiến của người khác và Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận.

4.3. Giải quyết việc trở lại xét hỏi

Qua tranh luận, nếu thấy có những vấn đề chưa rõ, cần phải xem xét thêm mới có thể kết luận được thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại phần xét hỏi, khi đã hỏi rõ những vấn đề cần hỏi thêm, Chủ tọa phiên tòa tiếp tục cho tranh luận theo trình tự chung.

4.4. Bị cáo nói lời sau cùng

Sau khi kết thúc phần tranh luận, Chủ tọa hỏi xem có ai có ý kiến gì thêm không. Nếu không có ai cần trình bày thêm, Chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phần tranh luận, chuyển sang phần Nghị án. Chủ tọa phiên tòa cho bị cáo nói lời sau cùng.

Hội đồng xét xử không được hạn chế thời gian trình bày của bị cáo khi nói lời sau cùng. Hội đồng xét xử cần chú ý lắng nghe để nắm bắt được những điểm quan trọng nhất, không được đặt câu hỏi để yêu cầu bị cáo trả lời.

 Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm những tình tiết có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án mà chưa được làm sáng tỏ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại xét hỏi để xác định cho rõ.

Sau khi bị cáo đã trình bày xong lời nói sau cùng, Chủ tọa phiên tòa tuyên bố nghỉ nghị án. Nếu dự kiến việc nghị án kéo dài sang ngày khác thì Chủ tọa cần tuyên bố rõ thời gian tuyên án.

Lưu ý, trong thực tiễn có vụ án trong biên bản phiên tòa không thể hiện phần bị cáo được nói lời sau cùng do vậy Luật sư cho rằng đó là vi phạm nghiêm trọng tố tụng và vụ án đã bị huỷ. Ví dụ như vụ “Nguyễn Đăng Khoa Cố ý gây thương tích”.

5. Nghị án và tuyên án:

5.1. Nghị án

Không ai được vào phòng nghị án khi Hội đồng xét xử đang nghị án. Khi bắt đầu, Chủ tọa phiên tòa, phải phổ biến nội dung nghị án với đầy đủ các nội dung cần nghị án thông qua diễn biến của phiên tòa. Khi nghị án, chủ tọa phiên tòa cần nêu rõ từng vấn đề nghị án như:

- Tội danh;

- Điều khoản áp dụng;

- Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng;

- Hình phạt, vấn đề bồi thường thiệt hại;

- Xử lý vật chứng của vụ án;

- Án phí và quyền kháng cáo bản án.

Lưu ý, đối với mỗi vấn đề, Chủ tọa nêu nội dung cần thảo luận. Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự chỉ quy định Thẩm phán biểu quyết sau cùng, chứ không quy định Chủ tọa phiên tòa phát biểu thảo luận sau cùng. Vì vậy, Chủ tọa phiên tòa có thể nêu quan điểm của mình trước hoặc sau khi Hội thẩm có ý kiến. Khi có vấn đề thảo luận chưa thống nhất, thì cần thẳng thắn trao đổi, Chủ tọa phải có trách nhiệm giải thích các quy định của pháp luật đối với các hội thẩm.

Cùng với việc chuẩn bị nội dung và chương trình nghị án, Chủ tọa cần chuẩn bị các văn bản pháp luật cần thiết có liên quan đến nội dung vụ án, để nếu cần thiết thì có thể tra cứu ngay phục vụ cho việc nghị án.

Một số tình huống có thể gặp khi nghị án:

- Nếu qua xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra, thì Hội đồng xét xử phải thảo luận về việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (nếu căn cứ khởi tố đã rõ) hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án (nếu căn cứ khởi tố vụ án chưa rõ, cần xác minh thêm). Nếu ra quyết định khởi tố vụ án, về hình thức phải ghi là quyết định khởi tố vụ án, nhưng trong quyết định có thể ghi là để điều tra về hành vi phạm tội cụ thể của một người nào đó.

- Giải quyết việc Viện kiểm sát rút quyết định truy tố tại phiên tòa: Sau khi xét hỏi, Kiểm sát viên có thể rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn, Hội đồng xét xử vẫn thảo luận toàn bộ vụ án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận một phần việc rút truy tố đó. Viện kiểm sát rút quyết định truy tố hoặc quyết định truy tố về tội danh nhẹ hơn thường thể hiện ở một số trường hợp sau:

+ Vụ án có một bị cáo và một hành vi phạm tội, tại phiên tòa Viện kiểm sát kết luận về tội danh nhẹ hơn;

+ Một bị cáo có nhiều hành vi phạm một tội, Viện kiểm sát rút bớt các hành vi bị truy tố;

+ Một bị cáo phạm nhiều tội, Viện kiểm sát rút truy tố về một tội;

+ Vụ án có nhiều bị cáo, Viện kiểm sát rút quyết định truy tố đối với một vài bị cáo;

+ Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố, tức là rút toàn bộ Cáo trạng trước khi nghị án.

Trong những trường hợp trên, đặc biệt là trong trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng (người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự…) trình bày ý kiến của mình về việc rút quyết định truy tố của đại diện Viện kiểm sát. Khi nghị án Hội đồng xét xử vẫn phải giải quyết tất cả những vấn đề của vụ án. Nếu việc rút một phần bản Cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở thì Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Nếu việc rút toàn bộ quyết định truy tố là có cơ sở thì Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội. Nếu việc rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố là không có cơ sở thì Hội đồng xét xử cần quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên để xem xét việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới. Nếu Viện kiểm sát cấp trên vẫn đồng ý với việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới thì Viện kiểm sát cấp trên sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án. Nếu Viện kiểm sát  cấp trên đồng ý với kiến nghị của Toà án thì sẽ ra quyết định huỷ bỏ quyết định rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố của Viện kiểm sát  cấp dưới và chuyển lại hồ sơ cho Toà án đã tạm đình chỉ vụ án. Toà án thụ lý và xét xử trong thời hạn 30 ngày theo thủ tục chung.

- Giải quyết trường hợp hoãn phiên tòa để trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung.

+ Khi cần xem xét những chứng cứ quan trọng mà không thể bổ sung tại phiên toà được. Ví dụ: Tại phiên tòa, người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại xuất trình các chứng cứ, tài liệu chưa được cơ quan Điều tra thu thập, các chứng cứ này có thể làm thay đổi nội dung cơ bản của vụ án nhưng Viện kiểm sát không chấp nhận, Hội đồng xét xử phải thảo luận và quyết định hoãn phiên tòa để yêu cầu điều tra bổ sung.

+ Khi có căn cứ cho rằng bị cáo phạm một tội khác nặng hơn hoặc có đồng phạm khác:

 Theo Điều 196 Bộ luật hình sự, thì Tòa án không được xét xử về tội nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát  đã  truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử. Cho nên, thông qua việc xét hỏi tại phiên toà, có căn cứ cho rằng bị cáo phạm một tội khác nặng hơn hoặc phát hiện đồng phạm khác trong một số trường hợp cần phải truy tố trong cùng một vụ án thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa và yêu cầu điều tra bổ sung.

+ Khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng:

Đây là những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố. Ví dụ: Sau khi kết thúc điều tra, hồ sơ vụ án được chuyển sang Viện kiểm sát để truy tố, Viện kiểm sát đã khởi tố thêm tội và truy tố luôn. Trong trường hợp này lẽ ra Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ lại cơ quan Điều tra để điều tra và kết luận điều tra bổ sung về hành vi bị khởi tố thêm sau đó hồ sơ mới được chuyển lại Viện kiểm sát để làm Cáo trạng truy tố. Đây là những vấn đề bắt buộc mà các cơ quan tiến hành tố tụng không thực hiện thì coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Trong các trường hợp nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định yêu cầu điều tra bổ sung. Hồ sơ được chuyển cho Viện kiểm sát để quyết định việc điều tra bổ sung. Việc yêu cầu điều tra bổ sung phải được lập biên bản tại phòng nghị án như biên bản nghị án. Nếu thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án mình mà thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự hoặc Tòa án cấp trên thì Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án, quyết định chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

- Các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

Hội đồng xét xử cần thảo luận xem xét trong vụ án các bị cáo có những tình tiết tăng nặng ngoài các tình tiết định khung hình phạt hay không và gồm những tình tiết nào? Cần lưu ý theo quy định tại khoản 2 Điều 48 BLHS thì “những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng khi quyết định hình phạt”.

Đối với các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét kỹ càng bảo đảm nguyên tắc “có lợi cho bị cáo”, ngoài những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 thì cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ khác như quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS, nhưng phải được ghi nhận cụ thể trong bản án. Cũng cần lưu ý theo quy định tại khoản 3 Điều 46 “Những tình tiết giảm nhẹ được BLHS quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt”.

- Việc quyết định hình phạt:

Việc quyết định hình phạt, cần phải căn cứ vào các quy định tại Điều 45 Bộ luật hình sự đó là: căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự; tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân vị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Nếu bị cáo phạm nhiều tội hoặc ngoài tội phạm bị xét xử đối với bị cáo còn có bản án khác có hiệu lực pháp luật thì Hội đồng xét xử thảo luận và biểu quyết hình phạt của từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt của nhiều tội hoặc nhiều bản án theo quy định chung. Nếu vụ án có nhiều bị cáo, Hội đồng xét xử phải thảo luận và biểu quyết hình phạt cụ thể đối với từng bị cáo.

Cần chú ý quy định tại Điều 53 “Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm” là:

“Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.”

Việc quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự, phải có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự. Nếu cho bị cáo hưởng án treo, cũng cần xem xét thoả mãn các quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự.

Sau khi quyết định hình phạt tù, Hội đồng xét xử phải tính thời hạn chấp hành hình phạt tù. Nếu bị cáo đang bị tạm giam thì quyết định tiếp tục giam để bảo đảm thi hành án. Nếu bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách, khi tổng hợp hình phạt cần lưu ý xem bị cáo có bị tạm giam ở vụ án trước hay không để trừ thời gian tạm giam ở vụ án trước cho bị cáo. Nếu bị cáo được hưởng án treo cần lưu ý tính thời gian thử thách đối với bị cáo đã bị tạm giam thì phải áp dụng như hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 6.4 mục 6 Nghị quyết số 01/2009/NQ-HĐTP ngày 02 tháng 10 năm 2007 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao và công văn số 99 ngày 01/07/2009 của TAND tối cao. Ví dụ: Bị cáo đã bị tạm giam sáu tháng. Tòa án xử phạt bị cáo hai năm tù và xét thấy có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 60 BLHS để cho hưởng án treo. Khi ấn định thời gian thử thách trong trường hợp này là ba năm [(02 năm - 06 tháng) x 2]. Khi quyết định, Tòa án ghi: “… xử phạt bị cáo hai năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là ba năm, kể từ ngày…”. Nếu bị cáo đang tại ngoại mà cần phải bắt giam bị cáo thì Hội đồng xét xử quyết định bắt tạm giam bị cáo theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự và được ghi trong biên bản nghị án và thực hiện bằng một quyết định riêng. Nếu trả tự do cho bị cáo cần tuân thủ đúng các quy định tại Điều 227 Bộ luật tó tụng hình sự.

Ngoài ra Hội đồng xét xử cần xem xét các vấn đề bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo đúng các quy định của pháp luật.

- Lập biên bản nghị án:

Sau khi đã thảo luận Hội đồng xét xử quyết định bằng cách biểu quyết từng vấn đề như:

+ Tội danh;

+ Điều luật áp dụng;

+ Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Trách nhiệm hình sự;

+ Hình phạt;

+ Vấn đề bồi thường thiệt hại;

+ Xử lý vật chứng, án phí…

 Về nguyên tắc khi biểu quyết Hội thẩm biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng và các vấn đề được quyết định theo đa số. Nếu thành viên nào có ý kiến thiểu số thì ý kiến đó được đưa ghi vào biên bản nghị án hoặc người đó có thể trình bày bằng văn bản lưu trong hồ sơ.

Biên bản nghị án phải ghi rõ:

+ Tên vụ án, tội danh Viện kiểm sát truy tố, theo điều khoản, điều nào của Bộ luật hình sự;

+ Ghi rõ họ tên của thành phần Hội đồng xét xử theo thứ tự Chủ tọa, Hội thẩm. Phải ghi rõ đầy đủ kết quả biểu quyết về từng vấn đề như:

+ Tội danh, điểm, khoản, điều luật áp dụng;

+ Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;

+ Nếu bị cáo không phạm tội thì ghi rõ ý kiến thảo luận về chứng cứ xác định bị cáo không phạm tội và khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo;

+ Hình phạt áp dụng, cách tính thời hạn tù, việc bắt giam hay trả tự do cho bị cáo ngay sau khi tuyên án;

+ Vấn đề bồi thường thiệt hại;

+ Xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và các đương sự. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải ký đầy đủ vào biên bản nghị án.

Lưu ý, việc ghi đầy đủ nội dung trong biên bản nghị án có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì các quyết định trong bản án thực chất là sao chép lại của quyết định nghị án. Do vậy, nếu trong Biên bản nghị án không ghi đầy đủ mà phần quyết định của bản án có sai sót thì không thể khắc phục sửa chữa được. Nếu thiếu một trong các chữ ký của thành viên Hội đồng xét xử thì bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Trong trường hợp thông qua nghị án, Hội đồng xét xử phải ra bản án theo ý kiến đa số của Hội đồng xét xử, nếu Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa đã làm hết trách nhiệm mà đa số Hội thẩm vẫn quyết định mà Thẩm phán cho là không đúng pháp luật không thuyết phục được… thì cũng phải ghi rõ trong biên bản nghị án hoặc bằng văn bản riêng đưa vào hồ sơ vụ án. Ngay sau khi tuyên án xong, phải báo cáo ngay với Chánh án để trao đổi với Viện kiểm sát để kháng nghị. Nếu Viện kiểm sát cùng cấp không kháng nghị thì Toà án hoặc Thẩm phán xử vụ án đó phải báo cáo lên Tòa án cấp trên, Viện kiểm sát cấp trên để kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm để khắc phục sai lầm đó.

5.2. Tuyên án

Việc tuyên án là nhằm công bố bản án và các quyết định khác của Hội đồng xét xử một cách công khai trước phiên toà. Qua đó bị cáo và những người tham gia tố tụng khác biết được bản án hoặc những quyết định khác của Hội đồng xét xử về những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trên cơ sở đó họ có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Khi tuyên án Chủ tọa hoặc có thể một thành viên của Hội đồng xét xử tuyên đọc nguyên văn bản án. Nếu bản án dài có thể các thành viên Hội đồng xét xử thay nhau đọc. Về nguyên tắc mọi người có mặt trong phòng xử án phải đứng dậy nghe tuyên đọc bản án, nếu bản án dài thì sau phần mở đầu Hội đồng xét xử có thể cho mọi người ngồi để nghe bản án, riêng các bị cáo vẫn phải đứng nghe tuyên toàn bộ bản án.

Lưu ý, khi tuyên án, người đọc bản án phải thể hiện sự đàng hoàng, trang nghiêm, đọc bản án cần dõng dạc, dứt khoát, phản ánh chính xác nội dung của bản án và các quyết định của Hội đồng xét xử. Sau khi tuyên án xong, Chủ tọa phiên tòa nên giải thích cho bị cáo và những người tham gia tố tụng biết quyền kháng cáo, thể thức kháng cáo, việc chấp hành bản án, giải thích về chế định án treo, nghĩa vụ của người được hưởng án treo trong thời gian thử thách… Nếu Hội đồng xét xử ra quyết định bắt giam bị cáo hay trả tự do cho bị cáo ngay sau khi tuyên án, Chủ tọa phiên tòa cũng phải công bố và cho thi hành ngay những quyết định đó đối với bị cáo.

Chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phiên tòa, yêu cầu Công an dẫn giải các bị cáo về trại giam nếu bị cáo bị tạm giam hoặc bị bắt tạm giam tại phiên tòa. Nếu bị cáo được trả tự do ngay thì cần giải thích họ phải quay lại trại giam để làm các thủ tục cần thiết và nhận lại tài sản lưu ký nếu có.

Để thống nhất trong quá trình điều khiển phiên tòa, cũng như cách viết bản án hình sự sơ thẩm, qua nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự cũng như tham khảo ý kiến của một số tác giả có kinh nghiệm trong công tác xét xử, chúng tôi nêu nội dung Đề cương điều khiển phiên tòa như sau:

Về đề cương điều khiển phiên tòa:

1- Phần thủ tục bắt đầu xét xử

- Thư ký bấm chuông hoặc mời Hội đồng xét xử vào phòng xử án.

- Hội đồng xét xử vào phòng xử án (nên nhắc Kiểm sát viên phải vào trước chứ không vào cùng Hội đồng xét xử).

- Thư ký phiên tòa yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy.

- Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và mời mọi người trong hội trường xét xử ngồi xuống.

- Chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử (khi đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, yêu cầu các bị cáo đứng dậy). Nếu vụ án có các phóng viên, báo đài đến dự và đưa tin phiên tòa thì Chủ tọa phiên tòa phải yêu cầu phóng viên xuất trình thẻ nhà báo, giấy giới thiệu cử đi công tác và phải hoạt động theo Luật báo chí, Hội đồng xét xử tạo điều kiện cho các phóng viên tác nghiệp nhưng phải tôn trọng nội quy của phiên tòa.

- Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Thư ký phiên tòa, báo cáo danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa, cùng sự vắng mặt và có mặt của họ, lý do của sự vắng mặt.

- Chủ tọa phiên tòa kiểm tra căn cước, lý lịch của bị cáo cùng những người tham gia tố tụng khác được triệu tập đến phiên tòa.

*Giải thích quyền và nghĩa vụ của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

+ Đối với bị cáo, theo Điều 50 và 188 BLTTHS thì bị cáo có quyền và nghĩa vụ sau:

Về quyền bao gồm các quyền:

- Được nhận bản kết luận điều tra, bản Cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập của Tòa án. (Các quyền này, các bị cáo phải được nhận trong giai đoạn điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử). Khi giới thiệu phần này cần hỏi luôn bị cáo xem họ đã nhận được các văn bản, quyết định trên hay chưa?;

- Được tham gia phiên tòa;

- Được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Được đưa ra các tài liệu, đồ vật, yêu cầu liên quan đến vụ án để bảo vệ quyền lợi của chính mình;

- Tự bào chữa, hoặc nhờ người bào chữa (Trong trường hợp có người bào chữa thì bị cáo (các bị cáo) vẫn  có quyền bổ sung hoặc từ chối nội dung mà  người bào chữa  đã bào chữa cho mình);

- Giới thiệu người bào chữa cho bị cáo biết và hỏi bị cáo xem có tiếp tục nhờ người bào chữa cho mình do Tòa án chỉ định hoặc do bị cáo hay gia đình bị cáo đã mời;

- Trình bày ý kiến tranh luận tại phiên tòa;

- Được nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án;

- Kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

- Được khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Về nghĩa vụ của bị cáo tại phiên tòa xét xử:

- Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án;

- Bị cáo đang bị tạm giam khi ra phiên tòa chỉ được tiếp xúc với người bào chữa. Việc tiếp xúc với những người khác phải được sự đồng ý của Chủ tọa phiên tòa;

- Bị cáo không bị tạm giam phải có mặt tại phiên tòa trong suốt thời gian xét xử vụ án;

- Bị cáo phải tôn trọng nội quy của phiên tòa;

- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

* Đối với những người tham gia tố tụng khác:

- Căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét xử và danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa, chủ tọa phiên tòa lần lượt giải thích quyền và nghĩa vụ của họ theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự như: Người bị hại (Điều 51); Nguyên đơn dân sự (Điều 52); Bị đơn dân sự (Điều 53); Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Điều 54); Người làm chứng (Điều 55) (Lưu ý đối với người làm chứng bao giờ cũng yêu cầu họ có lời cam đoan trước phiên tòa về lời khai của mình); Người giám định (Điều 60); Người phiên dịch (điều 61).

* Hết phần giải thích quyền và nghĩa vụ, Chủ tọa phiên tòa  giới thiệu thành phần của Hội đồng xét xử (nếu có Thẩm phán và Hội thẩm dự khuyết thì giới thiệu và quy định chỗ ngồi của họ vì họ cần phải có mặt trong suốt thời gian xét xử);

- Giới thiệu Kiểm sát viên tham gia phiên tòa (nếu có Kiểm sát viên dự khuyết thì giới thiệu và quy định chỗ ngồi của họ, vì họ cũng cần phải có mặt trong suốt thời gian xét xử);

- Giới thiệu Thư ký Tòa án;

- Sau khi giới thiệu xong cần hỏi các bị cáo, và những người tham gia phiên tòa được triệu tập, xem có ai xin thay đổi Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa hay không? Nếu có thì hỏi rõ lý do xin thay đổi (Lưu ý không phải người tham gia tố tụng nào cũng được quyền xin thay đổi thành phần Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa. Theo quy định của BLTTHS chỉ có Người bị hại; Nguyên đơn dân sự; Bị đơn dân sự; Người bào chữa; Người bảo vệ quyền lợi của đương sự);

- Hỏi Kiểm sát viên, người bào chữa có đề nghị thay đổi ai trong những người tiến hành tố tụng không?

- Hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem ai có yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra để xem xét hay không?

- Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt, thì Chủ tọa phiên tòa cũng phải hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên tòa hay không. Nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem xét và quyết định.

Nếu trường hợp có người xin thay đổi thành viên của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký hoặc xin hoãn phiên tòa, thì Hội đồng phải vào hội ý, yêu cầu người bị xin thay đổi trình bày quan điểm của mình về việc bị đề nghị thay đổi, nếu thấy lý do xin thay đổi và xin hoãn phiên tòa không có căn cứ  thì Hội đồng xét xử vào công bố việc không chấp nhận lý do xin thay đổi người tiến hành tố tụng hay việc xin hoãn phiên tòa, và phiên tòa vẫn tiếp tục thì Chủ tọa phiên tòa tuyên bố chuyển sang phần xét hỏi. Nếu chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người tiến hành tố tụng hoặc yêu cầu xin hoãn phiên tòa thì phải tuyên bố hoãn phiên tòa. Thời gian hoãn phiên tòa theo quy định tại Điều 194 BLTTHS là không quá 30 ngày.

2- Phần xét hỏi tại phiên tòa

- Đề nghị Kiểm sát viên đọc bản Cáo trạng;

- Tiến hành xét hỏi (theo đề cương xét hỏi đã chuẩn bị);

- Nếu việc xét hỏi đã đầy đủ thì Chủ tọa phiên tòa vẫn cần phải hỏi Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác xem họ có cần hỏi thêm vấn đề gì nữa không. Nếu có người đề nghị mà Hội đồng xét xử thấy việc xét hỏi thêm là cần thiết thì Chủ tọa phiên tòa cho xét hỏi tiếp. Nếu không có ai đề nghị xét hỏi thêm thì Chủ tọa phiên tòa tuyên bố chuyển sang phần tranh luận.

3- Tranh luận tại phiên tòa

- Đề nghị Kiểm sát viên trình bày lời luận tội;

- Đề nghị người bào chữa trình bày lời bào chữa. Nếu có nhiều luật sư cùng bào chữa cho một bị cáo thì thường họ có sự phân công ai bào chữa trước, ai bào chữa sau, Hội đồng xét xử nên chấp nhận sự phân công của họ. Nếu vụ án có nhiều bị cáo, có nhiều luật sư thì việc yêu cầu ai bào chữa trước, ai bào chữa sau, do Chủ tọa phiên tòa quyết định. Nên để cho tất cả người bào chữa trình bày hết lời bào chữa cho tất cả các bị cáo, sau đó Chủ tọa phiên tòa hỏi từng bị cáo xem họ có bổ sung gì thêm không.

- Bị cáo không có người bào chữa thì tự mình trình bày lời bào chữa;

- Những người tham gia tố tụng khác được triệu tập đến phiên tòa, nếu có người bảo vệ quyền lợi của cho họ thì người này được trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích cho họ, còn họ có quyền trình bày, bổ sung ý kiến.

* Đối đáp:

- Đề nghị Kiểm sát viên đáp lại ý kiến bào chữa của người bào chữa, của bị cáo. Nếu Kiểm sát viên từ chối đáp lại ý kiến bào chữa thì Chủ tọa phiên tòa phải nhắc và yêu cầu Kiểm sát viên thực hiện theo đúng quy định tại Điều 218 BLHS và theo tinh thần tranh tụng như Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị đã yêu cầu, không được hạn chế thời gian tranh tụng.

- Người bào chữa đáp lại ý kiến của Kiểm sát viên;

- Những người tham gia tố tụng khác được triệu tập đến phiên tòa hoặc người đại diện hợp pháp của họ đáp lại ý kiến của Kiểm sát viên về những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích của mình.

- Sau khi Kiểm sát viên, người bào chữa và những người tham gia tranh luận không trình bày gì thêm, thì Chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phần tranh luận.

Tuy nhiên, trong trường hợp qua tranh luận, mà thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại việc xét hỏi. Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận.

* Bị cáo nói lời sau cùng. Chủ tọa không hạn chế thời gian, nhưng cần nhắc bị cáo nói ngắn gọn, đúng trọng tâm. Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng trong việc xét xử vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại phần xét hỏi.

4- Nghị án

Hội đồng xét xử phải tuyên bố thời gian nghị án, ngày giờ tuyên án để những người tham gia phiên tòa biết (Nội dung của nghị án đã được phân tích tại phần trên).

5- Tuyên án

Cần thực hiện theo đúng quy định tại Điều 226 Bộ luật tố tụng hình sự là:

“Khi tuyên án mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy. Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử đọc bản án và sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo.

Nếu bị cáo không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch đọc lại cho bị cáo nghe toàn bộ bản án sang thứ tiếng mà bị cáo biết”.

 

 


BÀI 3:

KỸ NĂNG ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

                                                                                                                     

I. ĐỊNH TỘI DANH

1.1. Khái niệm định tội danh

Trong lý luận hình sự, việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự được hiểu là một quá trình đa dạng và phức tạp được tiến hành qua các giai đoạn nhất định như: giải thích pháp luật hình sự, xác định hiệu lực của văn bản pháp luật về không gian và thời gian, định tội danh, quyết định hình phạt… Trong đó, định tội danh là một trong những giai đoạn cơ bản, một trong những nội dung của quá trình áp dụng pháp luật. Định tội danh còn là tiền đề, cơ sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự khác và pháp luật tố tụng hình sự.

Nếu chúng ta hiểu rằng BLHS đánh giá về mặt pháp lý của Nhà nước đối những hành vi nguy hiểm cho xã hội, việc thực hiện tội phạm là thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã bị pháp luật hình sự cấm, thì định tội danh chính là xác định sự phù hợp của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong pháp luật hình sự. Như vậy, định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự.

Có nhiều dạng định tội danh khác nhau: chính thức và không chính thức; trong khoa học và trong hoạt động thực tiễn; định tội danh của những người thực hiện chức năng tố tụng khác nhau. Tuy nhiên, định tội danh của người có chức năng pháp lý, làm phát sinh hậu quả pháp lý nhất định đối với cá nhân hoặc tổ chức là quan trọng nhất. Vì vậy, trong trường hợp này, định tội phải được thực hiện trong phạm vi và giới hạn do luật quy định.

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng định tội danh là hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự được thể hiện trên cơ sở xác định đầy đủ, chính xác, khách quan các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm nhất định với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn do pháp luật quy định.

Từ khái niệm định tội danh trên, có thể xác định việc định tội danh bao gồm ba quá trình sau:

1- Xác định đầy đủ, chính xác, khách quan các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện trên thực tế. Quá trình này bao gồm các hoạt động chứng minh và thực hiện các biện pháp tố tụng khác theo quy định của BLTTHS;

2- Nhận thức đúng đắn quy định của BLHS về cấu thành tội phạm tương ứng bao gồm cả các yếu tố khách quan và chủ quan của tội phạm. Để thực hiện được tốt hơn quá trình này, chủ thể định tội danh phải được đào tạo, bồi dưỡng về mặt pháp luật, có kinh nghiệm thực tiễn và nhận thức xã hội sâu sắc;

3- Xác định sự phù hợp giữa hành vi phạm tội cụ thể được thực hiện và cấu thành tội phạm tương ứng.

Ba quá trình trên được phân tích độc lập với nhau về mặt lý thuyết; nhưng trong thực tế nó liên quan chặt chẽ với nhau, quan hệ qua lại và hòa quyện với nhau thành một quá trình thống nhất được đồng thời thực hiện trong cả quá trình định tội danh mà không tách rời nhau.

1.2. Nội dung định tội danh

Áp dụng pháp luật là một quá trình gồm nhiều giai đoạn khác nhau. Trong áp dụng pháp luật hình sự, định tội danh và quyết định hình phạt là các giai đoạn quan trọng, cơ bản của quá trình đó. Vậy việc định tội danh bao gồm những nội dung gì là một câu hỏi cần được xác định cụ thể.

Việc thực hiện đồng thời cả ba quá trình trong việc định tội danh nhằm đi đến những quyết định sau đây:

- Hành vi được thực hiện có cấu thành tội phạm hay không. Hay nói cách khác, người bị truy cứu trách nhiệm hình sự có phạm tội hay không. Để trả lời câu hỏi này, ngoài các yếu tố khác, chủ thể định tội danh phải căn cứ vào khái niệm chung của tội phạm cũng như các quy phạm cụ thể quy định về tội phạm. Thông thường trong các trường hợp này, cần phải căn cứ vào đường lối xử lý (Điều 3); các trường hợp hành vi có tính nguy hiểm không đáng kể (khoản 3 Điều 8 BLHS); quy định về miễn trách nhiệm hình sự (Điều 25, Điều 69 BLHS)...

- Xác định tội danh đối với hành vi phạm tội. Hay nói cách khác, xác định xem người bị truy cứu trách nhiệm hình sự phạm tội gì, điều luật nào của BLHS  quy định về tội đó.

Thông thường, một hành vi cấu thành một tội phạm nhưng cũng có trường hợp một hành vi cấu thành nhiều tội phạm. Cũng có những trường hợp có sự tranh chấp về các cấu thành khác nhau về hành vi phạm tội thì chủ thể định tội danh cần xác định cụ thể cấu thành tội phạm nào phù hợp nhất với hành vi phạm tội được thực hiện để xác định tội danh cho chính xác. Trong lý luận về Luật Hình sự, thông thường sự tranh chấp về tội danh được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

+ Nếu đó là quan hệ giữa cấu thành chung và cấu thành riêng thì xác định tội danh theo cấu thành riêng. Ví dụ: hành vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây chết người (Điều 202) là trường hợp riêng của hành vi vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc hành chính (Điều 90). Hành vi này được định tội danh theo cấu thành riêng, tức tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ;

+ Nếu có sự tranh chấp giữa các cấu thành riêng với nhau cùng có dấu hiệu tăng nặng (hoặc cùng có dấu hiệu giảm nhẹ) đặc biệt thì xác định tội danh theo cấu thành nặng nhất (hoặc nhẹ nhất). Ví dụ: hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95) trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96) thì xác định hành vi cấu thành tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

+ Nếu có sự tranh chấp giữa cấu thành riêng với nhau vừa có dấu hiệu tăng nặng đặc biệt, vừa có dấu hiệu giảm nhẹ đặc biệt thì xác định tội danh theo cấu thành giảm nhẹ hơn. Ví dụ: hành vi giết trẻ em (điểm e khoản 1 Điều 93) trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95) cấu thành tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95) v.v…

Đồng thời với việc xác định tội danh, chủ thể xác định điều luật nào của BLHS quy định về trường hợp phạm tội đó. Thông thường tội phạm do các điều luật tương ứng của phần các tội phạm quy định. Nhưng cũng có những trường hợp còn do các quy định ở phần chung quy định như chuẩn bị phạm tội (Điều 17), phạm tội chưa đạt (Điều 18), đồng phạm (Điều 20) v.v…

- Xác định khung hình phạt: sau khi xác định tội danh, tức là xác định tội phạm được thực hiện được điều luật nào của BLHS quy định, chủ thể định tội danh tiếp tục xác định khung hình phạt cần áp dụng đối với người phạm tội. Để xác định khung hình phạt tăng nặng hay giảm nhẹ, trước hết hành vi của người phạm tội phải thoả mãn các dấu hiệu đặc trưng của cấu thành cơ bản được quy định trong điều luật. Thông thường các cấu thành cơ bản được quy định trong khung 1 của điều luật. Nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ. Ví dụ: cấu thành cơ bản của tội giết người được quy định tại khoản 2 Điều 93 BLHS, còn khung tăng nặng được quy định tại khoản 1 điều luật đó; cấu thành một số tội xâm phạm an ninh quốc gia.

Một điều cần chú ý là khi xác định khung hình phạt, việc định tội danh bao gồm cả việc xác định các điểm cụ thể được nhà làm luật quy định trong khung đó hình phạt đó.

1.3. Ý nghĩa của việc định tội danh

Định tội danh là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng pháp luật hình sự. Việc định tội danh đúng có ý nghĩa  chính trị - xã hội, đạo đức và pháp lý rất lớn.

- Đạo luật hình sự thể hiện ý chí về mặt Nhà nước của nhân dân ta đối với vấn đề đấu tranh với tình hình phạm tội. Việc tuân thủ nghiêm chỉnh đạo luật hình sự trong khi định tội danh là điều kiện cần thiết và quan trọng của việc thực hiện chính sách của Nhà nước trong phòng chống tội phạm.

Do vậy, việc định tội danh đúng là biểu hiện của việc thực hiện đúng biện pháp chính trị, thực thi đúng chính trị, thực thi đúng ý chí của dân đã được thể hiện trong luật, bảo vệ có hiệu quả các lợi ích của xã hội, của Nhà nước và công dân.

Định tội danh thể hiện việc đánh giá chính trị - xã hội và pháp lý đối với những hành vi nhất định. Định tội danh đúng sẽ loại trừ việc kết án vô căn cứ những người có hành vi không nguy hiểm cho xã hội, không trái pháp luật hình sự và tạo tiền đề pháp lý cho việc quyết định hình phạt công bằng đối với những người phạm tội.

- Hậu quả của việc định tội danh rất phức tạp. Nhưng  hậu quả cơ bản nhất trong số đó là việc áp dụng hình phạt hoặc những biện pháp tác động khác do luật quy định. Do đó, việc định tội danh ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Việc định tội danh sai không chỉ làm cho việc quyết định hình phạt không đúng, không công bằng, mà còn áp dụng không có căn cứ, hoặc không áp dụng một loạt các hạn chế pháp lý khác (quyết định hình phạt bổ sung), áp dụng hoặc không áp dụng đặc xá, miễn trách nhiệm hình sự, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tính toán không đúng thời hiệu, án tích… Cần phải lưu ý rằng nếu do sai lầm trong việc định tội danh và sai lầm đó làm cho việc quyết định hình phạt không phù hợp với hành vi đã thực hiện, làm cho bị cáo phải gánh chịu, nếu có việc định tội danh đúng, thì sai lầm đó đã vi phạm một cách thô bạo các lợi ích hợp pháp của người bị kết án.

Cũng không kém phần nguy hại trong những trường hợp ngược lại, khi hành vi của người có lỗi cấu thành tội phạm nghiêm trọng hơn nhưng lại định tội danh theo tội nhẹ hơn. Trong trường hợp đó người có lỗi chịu hình phạt ít nghiêm khắc hơn hình phạt đáng lẽ người đó phải chịu theo luật, còn tội phạm lại được đánh giá nhẹ về đạo đức, chính trị và pháp lý một cách thiếu cơ sở. Điều đó làm giảm nhẹ hiệu quả của công tác đấu tranh với tình hình tội phạm và cùng lúc gây ra sự căm phẫn hợp pháp của nhân dân, làm nảy sinh những quan niệm không đúng về thực trạng và các biện pháp đấu tranh với tội phạm, làm giảm uy tín của các cơ quan tư pháp. Rõ ràng đó là những vi phạm nghiêm trọng các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng, pháp chế.

- Việc định tội danh đúng cũng có ý nghĩa tố tụng hình sự quan trọng. Định tội danh đúng làm cơ sở cho việc kết thúc điều tra, truy tố có cơ sở; là cơ sở để xác định các loại thẩm quyền; áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng (biện pháp ngăn chặn); áp dụng các thời hạn tố tụng… giúp cho các hoạt động tố tụng được thực hiện đúng đắn, bảo đảm lợi ích công dân.

- Từ góc độ tội phạm học, định tội danh đúng giúp cho việc thống kê, xác định chính xác tình hình tội phạm để trên cơ sở đó đánh giá chính xác tình hình tội phạm và có biện pháp phòng ngừa phù hợp.

1.4. Cơ sở pháp lý của việc định tội danh

1.4.1. Bộ luật hình sự

Pháp luật hình sự có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình định tội danh. Trước hết, pháp luật hình sự là cơ sở pháp lý của việc định tội danh. Bởi vì bản chất của quá trình định tội danh là quá trình tìm sự giống nhau giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được xác định với các dấu hiệu tương ứng của cấu thành tội phạm do BLHS quy định. Như vậy, pháp luật hình sự là cơ sở pháp lý của việc xác định một hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra trong thực tế là tội phạm; hay nói cách khác, pháp luật hình sự là cơ sở pháp lý của việc định tội vì pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm  mà nhờ đó ta xác định được sự phù hợp của các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể được coi là cơ sở thực tế của việc định tội danh.

Với ý nghĩa là cơ sở pháp lý của việc định tội danh, pháp luật hình sự quy định, liệt kê tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội được đánh giá là hành vi phạm tội trong BLHS. Đó là sự liệt kê đầy đủ, thể hiện nguyên tắc “Chỉ người nào phạm tội đã được Luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Điều đó loại trừ khả năng cho phép bất kỳ một cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào được phép mở rộng, thu hẹp hay có bất cứ hành vi sửa đổi nào theo ý chí của cơ quan, tổ chức hay cá nhân đó.

Nói tóm lại, cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS là cơ sở pháp lý duy nhất của việc định tội danh. Khi định tội, chủ thể chỉ việc lấy các quy định của BLHS làm căn cứ duy nhất để so sánh với hành vi phạm tội đã được thực hiện trên thực tế.

1.4.2. Các quy định pháp luật hình sự được áp dụng khi định tội danh

Kết quả của việc định tội danh là rút ra kết luận rằng hành vi nguy hiểm cho xã hội đang xử lý được quy phạm nào của BLHS quy định. Kết quả của việc định tội danh cần phải có sự viện dẫn điều khoản cụ thể của BLHS .

BLHS nước ta gồm hai phần là quy phạm pháp luật phần chung và quy phạm pháp luật phần riêng. Trong đó phần chung nêu nhiệm vụ, nguyên tắc, chế định cơ bản của Luật Hình sự Việt Nam. Các quy định ở phần chung không nêu dấu hiệu cụ thể của bất kỳ hành vi phạm tội nào.

Phần các tội phạm nêu mô hình cụ thể của tội phạm và chế tài tương ứng đối với mỗi tội phạm được quy định đó. Phần chung và phần các tội phạm của BLHS có mối liên hệ mật thiết với nhau. Việc áp dụng phần các tội phạm phải dựa trên các luận điểm chung và nguyên tắc được quy định ở phần chung của BLHS. Tình tiết đó phải được cân nhắc khi tiến hành định tội danh đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội. Định tội danh có mục đích là trên cơ sở pháp lý cụ thể để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một con người về hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện. Trong lĩnh vực pháp luật, định tội danh có nghĩa là lựa chọn một quy phạm pháp luật mà nó đề cập tới trường hợp cụ thể nào đó. Quy phạm pháp luật hình sự phần các tội phạm quy định trách nhiệm hình sự đối với mỗi hành vi phạm tội. Nhưng những quy định này phải dựa trên những nguyên tắc, điều kiện được nêu ra trong các quy phạm phần chung. Còn bản thân quy phạm pháp luật phần chung lại không có ý nghĩa nếu thiếu quy phạm pháp luật phần riêng. Quy phạm pháp luật phần chung và quy phạm pháp luật phần riêng có mối quan hệ chặt chẽ, không thể thiếu trong định tội danh với ý nghĩa là cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Như vậy, khi tiến hành định tội danh đối với mỗi hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải căn cứ vào cả quy định phần chung và quy định phần các tội phạm của BLHS, đồng thời phải viện dẫn một cách chính xác và đầy đủ điều, khoản, điểm hay một số điều luật liên quan, bao quát được toàn bộ hành vi nguy hiểm cho xã hội được nêu trong phần các tội phạm của BLHS.

Khi áp dụng quy phạm pháp luật cần đặc biệt chú ý tới hiệu lực của điều khoản được viện dẫn về không gian và thời gian, trong đó có quy định về hiệu lực hồi tố của BLHS. Có vậy thì việc định tội mới đảm bảo có đủ cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi đó.

1.4.3. Cấu thành tội phạm - mô hình pháp lý của việc định tội danh

Định nghĩa về tội phạm cụ thể được nêu trong quy phạm pháp luật BLHS tồn tại như một mô hình về tội phạm làm cơ sở pháp lý cho việc định tội danh. Mô hình đó thể hiện dưới dạng một cấu thành cụ thể. Và sự đánh giá tội phạm về phương diện pháp lý của Nhà nước được thể hiện dưới dạng cấu thành tội phạm đó.

Cấu thành tội phạm bao gồm những dấu hiệu cần và đủ. Nó gồm những dấu hiệu cần vì nếu thiếu một trong các dấu hiệu đó thì cấu thành tội phạm không được xác định. Đồng thời đó cũng là những dấu hiệu đủ cho một cấu thành tội phạm vì không cần thêm một dấu hiệu nào cho bất cứ một cấu thành tội phạm nào vì nó đã được xác định và có đủ cơ sở để phân biệt với một cấu thành tội phạm cụ thể này với cấu thành tội phạm khác. Điều đó không loại trừ việc xác định các tình tiết thực tế khác nhau nhằm mục đích cá thể hoá hình phạt.

Cấu thành tội phạm là một sự trừu tượng mang tính khoa học, là mô hình chung nhất cho tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng loại. Bởi vậy, cấu thành tội phạm không đề cập tới tất cả các dấu hiệu, đặc điểm của tội phạm ấy, mà nó chỉ đề cập tới tất cả các dấu hiệu điển hình nhất, cần và đủ trong các hành vi tội phạm cùng loại đó và thể hiện bản chất của tội phạm đó. Đó là những dấu hiệu tối cần thiết cho những hành vi mà người làm luật dự trù cho mô hình tội phạm trong điều luật. Trong điều kiện đó, mô hình tội phạm phải đảm bảo tính dễ hiểu không chỉ đối với cán bộ pháp lý, mà còn đối với mọi công dân khác nhằm thực hiện nhiệm vụ của BLHS trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Điều đó cho chúng ta hiểu quan hệ giữa định nghĩa về một loại tội phạm với một loại tội phạm là quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái đơn nhất.

Như vậy làm rõ định nghĩa về cấu thành tội phạm cho chúng ta hiểu trong một vụ án việc xác định các dấu hiệu của cấu thành tội phạm là cần và đủ cho việc định tội danh. Bên cạnh đó, để giải quyết vụ án cụ thể còn có nhiều các tình tiết khác có ý nghĩa pháp lý như cá thể hoá hình phạt, xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội… Nhưng trong một vụ án việc xác định các dấu hiệu của cấu thành tội phạm là đủ cho việc định tội đối với một hành vi phạm tội cụ thể; việc làm sáng tỏ tình tiết khác sẽ nằm ngoài giai đoạn định tội danh.

Cấu thành tội phạm là mô hình pháp luật của các tội phạm thuộc một loại tội nhất định, vì nó bao gồm những dấu hiệu cần thiết điển hình và cơ bản nhất của tội phạm. Ở đây cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý duy nhất để truy cứu trách nhiệm hình sự; còn cơ sở thực tế để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người là việc thực hiện hành vi chứa dựng các yếu tố cấu thành tội phạm. Điều đó loại trừ nguyên tắc tương tự trong pháp luật hình sự, đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong pháp luật hình sự, đảm bảo cho việc xét xử được tiến hành trên cơ sở pháp luật, ý thức pháp luật, cho phép Toà án được xem xét đầy đủ các tình tiết của vụ án.

Như vậy, cấu thành tội phạm là cơ sở duy nhất của việc định tội danh, là mô hình pháp lý có các dấu hiệu cần và đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, từ góc độ lập pháp, người làm luật cần quy định chính xác, cụ thể, xác định rõ ràng các dấu hiệu của cấu thành tội phạm để có thể chứng minh được trong thực tế và phân biệt với các cấu thành khác; từ góc độ áp dụng pháp luật, người định tội danh cần nhận thức chính xác, đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm.

1.5. Định tội danh theo các yếu tố của cấu thành tội phạm

Tội phạm là một thể thống nhất gồm bốn yếu tố: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan. Các yếu tố này quan hệ chặt chẽ với nhau, thế nhưng mỗi yếu tố lại có ý nghĩa riêng và có thể tách ra nghiên cứu một cách độc lập tương đối trong mối quan hệ với các yếu tố khác. Vì vậy, trong khoa học pháp lý hình sự khi nghiên cứu quá trình định tội danh người ta tách riêng xem xét việc định tội danh theo từng nhóm dấu hiệu nêu trên của tội phạm.

Theo truyền thống, việc định tội danh được tiến hành theo các nhóm yếu tố đặc trưng của cấu thành tội phạm. Định tội danh theo các nhóm yếu tố khách quan của tội phạm (khách thể và mặt khách quan) và định tội danh theo các nhóm yếu tố chủ quan của tội phạm (chủ thể và mặt chủ quan). 

1.5.1. Định tội danh theo khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm có vai trò rất lớn trong quá trình định tội danh qua việc xác định khách thể chung, khách thể loại, khách thể trực tiếp. Nó cho ta định hướng tìm trong hệ thống pháp luật hình sự một quy phạm cần thiết.

- Khách thể chung của tội phạm là toàn bộ quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của hành vi phạm tội. Các thành phần cơ bản của khách thể chung của tội phạm được quy định trong Điều 8 BLHS. Đó là: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ Nhà nước, chế độ kinh tế và sở hữu xã hội chủ nghĩa, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Ý nghĩa pháp lý của khách thể chung đối với việc định tội danh thể hiện ở chỗ: căn cứ vào khách thể chung người định tội xác định người thực hiện hành vi có phạm tội hay không.

- Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ cùng tính chất được một nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm phạm của một nhóm tội phạm. Nó được xác định qua tên gọi của chương trong BLHS. Mỗi chương có thể là một khách thể cùng loại hay một số khách thể cùng loại. Ngoài tên gọi của chương, khách thể loại còn có thể được xác định qua việc chỉ dẫn các mục hoặc các quy định trong các điều luật cụ thể. Người làm luật của nước ta đã căn cứ vào khách thể loại để phân các tội phạm thành các chương trong phần các tội phạm.

Ý nghĩa pháp lý của khách thể loại đối với việc định tội thể hiện ở chỗ: căn cứ vào khách thể loại, người định tội danh xác định hành vi phạm tội được quy định ở chương nào của BLHS để làm cơ sở xác định cấu thành cụ thể ở bước tiếp theo. Trên thực tế, một hành vi phạm tội thường xâm phạm nhiều khách thể loại khác nhau và người làm luật cũng có cách xử lý khác nhau đối với trường hợp đó. Ví dụ rõ nhất là tội cướp tài sản: hành vi cướp cùng một lúc xâm hại hai khách thể loại tính mạng, sức khoẻ của con người và quan hệ sở hữu. Thế nên hành vi đó có thể phạm hai tội cướp tài sản và giết người (nếu là lỗi cố ý đối với cái chết hoặc hậu quả chỉ là gây thương tích, gây thiệt hại cho sức khoẻ). Vì vậy trong quá trình định tội danh việc xác định khách thể loại, khách thể nào là quan trọng, chủ yếu, thứ yếu để xác định nhóm tội phạm là cực kỳ quan trọng trong bước thứ hai của việc định tội theo khách thể của tội phạm.

- Khách thể trực tiếp là quan hệ xã hội cụ thể do hành vi phạm tội trực tiếp xâm phạm được Luật Hình sự bảo vệ. Căn cứ vào khách thể trực tiếp, người định tội xác định được cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng với hành vi phạm tội của người phạm tội.

Như vậy, từ góc độ định tội danh theo khách thể của tội phạm, quá trình xác định khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp của tội phạm là quá trình tìm câu trả lời cho các câu hỏi người thực hiện hành vi có phạm tội hay không? Nếu có thì phạm loại tội nào, cụ thể là tội gì và từ đó tìm ra điều luật cụ thể cần áp dụng đối với người phạm tội.

Khi định tội cần phân biệt khách thể tội phạm với đối tượng của sự xâm hại của hành vi phạm tội. Đối tượng của tội phạm là những vật thể cụ thể thuộc thế giới vật chất mà hành vi nguy hiểm cho xã hội của kẻ phạm tội tác động đến. Đối tượng của tội phạm thường được quy định trong phần quy định của quy phạm pháp luật hình sự. Trong nhiều trường hợp việc liệt kê đầy đủ, chính xác đối tượng của sự xâm hại được dùng làm cơ sở để phân biệt cấu thành tội phạm này với cấu thành tội phạm khác. Theo quy định của pháp luật hình sự, đối tượng của tội phạm có ý nghĩa pháp lý khác nhau được thể hiện ở ba cấp độ trong xử lý tội phạm.

Thứ nhất, đối tượng tác động của tội phạm là yếu tố có ý nghĩa định tội.

Thứ hai, một số trường hợp đối tượng phạm tội là tình tiết định khung của tội phạm.

Thứ ba, trong các trường hợp, nếu không phải là yếu tố định tội danh, định khung hình phạt, việc xác định đối tượng tác động của tội phạm có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt.

1.5.2. Định tội danh theo mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan là mặt bên ngoài của hành vi phạm tội do Luật Hình sự quy định. Theo quan điểm truyền thống, mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi phạm tội, hậu quả nguy hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra. Ngoài ra còn có một số dấu hiệu khác nhau của đặc trưng cho mặt khách quan của tội phạm, đó là hoàn cảnh, thời gian, công cụ, phương tiện phạm tội…

- Xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội trong quá trình định tội danh.

Hành vi phạm tội là hoạt động khách quan bên ngoài của người phạm tội. Hành vi được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động. Trong hành động, người phạm tội thực hiện những động tác cơ học của cơ thể mà luật cấm. Trong không hành động, người phạm tội không thực hiện những động tác mà mình có nghĩa vụ phải làm và có thể làm được.

Để định đúng tội danh việc xác định, phân loại được cấu thành tội phạm (cấu thành nào hành vi chỉ là hành động, cấu thành nào hành vi chỉ là không hành động, cấu thành nào là có cả hành động và không hành động) có ý nghĩa rất quan trọng.

Trong quá trình định tội danh, người tiến hành định tội danh phải chú ý, hành động tội phạm có thể là một động tác xảy ra một lần trong thời gian ngắn (như cướp giật tài sản của người khác trong khi đi đường) hoặc là tổng hợp các động tác như ở đa số các tội phạm. Nó có thể lặp đi lặp lại một thời gian kéo dài, hoặc cũng có thể là tác động trực tiếp của con người vào đối tượng của tội phạm, cũng có thể là tác động gián tiếp thông qua phương tiện kỹ thuật, máy móc, súc vật hay xử sự của người khác. Hành động có thể thể hiện qua lời nói hoặc việc làm.

- Xác định hậu quả của tội phạm trong quá trình định tội danh.

Hậu quả của tội phạm là những thay đổi trong thế giới khách quan do hành vi phạm tội gây ra đối với các quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ. Hậu quả của tội phạm có thể ở dạng vật chất tức là con người biết được bằng giác quan của mình như thiệt hại về tài sản, về tình trạng sức khoẻ… Hậu quả cũng ở dạng phi vật chất, con người có thể nhận thức được bằng con đường tư duy, như làm thiệt hại đến các quyền tự do công dân, gây mất trật tự, an ninh, làm ảnh hưởng đến an ninh…

Trong lý luận hình sự Việt Nam người ta căn cứ vào ý nghĩa của hậu quả phạm tội đối với việc định tội danh và hình thức cấu tạo của quy phạm pháp luật để phân chia thành các loại cấu thành tội phạm khác nhau:

Cấu thành vật chất, là cấu thành mà mặt khách quan bao gồm cả hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Để xác định là tội phạm hoàn thành khi định tội danh phải xác định tất cả các tình tiết đó.

Cấu thành hình thức là cấu thành có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Còn hậu quả của tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc đối với việc định tội danh, tức là để định tội danh chỉ cần xác định hành vi là đủ.

Trong luật hình sự người ta phân biệt 3 hậu quả của tội phạm:

+ Thứ nhất: Hậu quả được quy định với tính cách là một yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm. Hậu quả tội phạm trong trường hợp này có ý nghĩa định tội. Để định tội danh đúng bắt buộc phải xác định hậu quả của tội phạm.

+ Thứ hai: Hậu quả của tội phạm tuy không có ý nghĩa định tội danh nhưng lại có ý nghĩa định khung.

+ Thứ ba: Hậu quả không được luật quy định là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm và không có ý nghĩa định khung tăng nặng cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc quyết định hình phạt.

Từ cách phân chia đó, chúng ta thấy rằng để định tội danh người áp dụng luật chỉ cần xác định hậu quả thứ nhất và thứ hai. Thế nhưng để giải quyết đúng đắn toàn diện vụ án cần phải xác định mọi hậu quả của tội phạm. Bởi vì nếu không có ý nghĩa định tội danh thì ít nhất hậu quả của tội phạm cũng có ý nghĩa trong quyết định hình phạt, trong quyết định bồi thường thiệt hại.

- Xác định quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm trong quá trình định tội danh.

Để xác định quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả nguy hiểm xảy ra cần phải xác định được các dấu hiệu sau:

- Nguyên nhân bao giờ cũng có trước, hậu quả có sau. Không thể có nguyên nhân xảy ra sau hoặc đồng thời với hậu quả. Dấu hiệu này tuy không giữ vai trò quyết định, nhưng là dấu hiệu nhận biết đầu tiên cho việc kiểm tra sự tồn tại của quan hệ nhân quả. Nếu xác định dấu hiệu này không thoả mãn thì có thể loại trừ được sự tồn tại quan hệ nhân quả. Đây chính là ý nghĩa thực tiễn của việc xác định dấu hiệu về thời gian.

- Hành vi trái pháp luật độc lập hoặc tổng hợp với một hoặc nhiều hiện tượng khác đã làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Được coi là quan hệ có tính chất nội tại khi hậu quả nằm ngay trong hành vi, hành vi mang trong bản thân nó mầm mống sinh ra hậu quả. Chính hành vi, bằng sự vận động nội tại của nó trong những điều kiện nhất định sinh ra hậu quả.

Được coi là quan hệ có tính tất nhiên khi một hành vi, trong những điều kiện nhất định sẽ làm phát sinh hậu quả chứ không thể có hậu quả khác được. Toà án nhân dân tối cao qua việc tổng kết kinh nghiệm xét xử, đã hướng dẫn chỉ khi nào hành vi có nhiều khả năng đưa lại hậu quả, thì hậu quả ấy mới có tính tất nhiên, và giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra mới coi là có quan hệ nhân quả.

Hay nói cách khác, hậu quả nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hoá khả năng thực tế nói trên của hành vi trái pháp luật. Trong cùng điều kiện như những điều kiện của trường hợp cụ thể mà hậu quả đã xảy ra, khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả trở thành hiện thực là tất nhiên, không tránh khỏi. Trong thực tiễn xét xử, đôi khi dễ quên dấu hiệu thứ ba này. Việc xét đến dấu hiệu thứ ba này rất quan trọng vì thực tế có thể có trường hợp hành vi của một người tuy có khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng khả năng đó chưa phát huy, thì hành vi trái pháp luật của người khác đã xen vào và gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

- Hoàn cảnh, thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội và việc định tội danh.

Hành vi phạm tội nào cũng được thực hiện trong một địa điểm, thời gian, hoàn cảnh nhất định, bằng những phương tiện, công cụ này hoặc công cụ khác. Các yếu tố này đều thuộc mặt khách quan của tội phạm nhưng ý nghĩa pháp lý của chúng về mặt định tội danh có khác nhau với những dấu hiệu đã trình bày ở trên.

1.5.3. Định tội danh theo chủ thể của tội phạm

- Xác định trường hợp một người không có năng lực trách nhiệm hình sự

Xác định một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự gồm:

+ Người đó đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác;

+ Mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.

Người không có năng lực trách nhiệm hình sự phải có cả hai yếu tố trên. Thiếu một trong hai yếu tố thì người thực hiện hành vi nguy hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Xác định tuổi của người phạm tội trong quá trình định tội danh.

Pháp luật hình sự nước ta quy định lứa tuổi tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện. BLHS quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm (khoản 1 Điều 12). Đây là một nguyên tắc chung. Như vậy, theo nguyên tắc này, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về bất kỳ một hành vi phạm tội nào được quy định trong BLHS.

Tuy nhiên, về thực tế trách nhiệm hình sự về một số tội phạm chỉ xuất hiện khi người phạm tội ở vào lứa tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên, thí dụ về tội trốn nghĩa vụ quân sự (Điều 259), tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp (Điều 252) và một số các tội khác pháp luật hình sự quy định một ngoại lệ trong nguyên tắc chung về lứa tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Khoản 2 Điều 12 BLHS quy định người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Định tội danh đối với các tội phạm do chủ thể đặc biệt thực hiện.

Ngoài những đặc điểm đã nêu ở trên, trong quá trình định tội danh các hành vi nguy hiểm cho xã hội có một số đặc điểm cá nhân của người phạm tội có ý nghĩa rất quan trọng. Muốn định tội danh các hành vi nguy hiểm cho xã hội của một người theo các điều luật về các tội phạm về chức vụ, các tội xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm của quân nhân và một số tội phạm khác, ngoài đặc điểm có năng lực chịu trách nhiệm, lứa tuổi tối thiểu, chủ thể phải có một số những đặc điểm khác. Những đặc điểm này là cơ sở để coi bị cáo là một chủ thể đặc biệt của tội phạm. Như vậy, trong quá trình định tội danh các hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phân biệt những dấu hiệu đặc biệt chỉ có ở chủ thể của một số dạng tội phạm riêng biệt.

Trong pháp luật hình sự ở nước ta không có định nghĩa chung về chủ thể đặc biệt của tội phạm. Trong BLHS chỉ có những định nghĩa cụ thể về hai loại chủ thể đặc biệt của tội phạm: khái niệm người có chức vụ (Điều 277 BLHS) và khái niệm về những người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ và trách nhiệm của quân nhân (Điều 315 BLHS).

Trong các trường hợp khác, ở phần quy định của các điều luật thuộc phần các tội phạm của BLHS chỉ đề cập tới những dấu hiệu riêng biệt có tính chất điển hình của chủ thể đặc biệt này hay chủ thể đặc biệt khác.

Khi không có các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt của tội phạm thì xuất hiện một nguyên tắc khác: Trong một số trường hợp khi không có các dấu hiệu đó thì hoàn toàn loại trừ trách nhiệm hình sự; còn trong trường hợp khác lại chỉ thay đổi việc định tội danh.

1.5.4. Định tội danh theo mặt chủ quan của tội phạm

- Xác định hình thức lỗi trong quá trình định tội danh.

Nội dung của mặt chủ quan của tội phạm là quan hệ tâm lý của bị cáo đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà y thực hiện. Trong mặt chủ quan của tội phạm có lỗi (cố ý hoặc vô ý), động cơ và mục đích phạm tội. Mặt chủ quan phản ánh mối liên hệ giữa ý thức và ý chí của kẻ phạm tội với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà y thực hiện.

Hình thức lỗi cố ý hay vô ý là sự kết hợp giữa nhận thức và ý chí đối với hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm. Khi định tội danh theo mặt chủ quan cần xác định nội dung yếu tố lý trí và ý chí đối với loại hành vi phạm tội cụ thể.

Khi xây dựng cấu thành tội phạm loại này hay loại khác, người làm luật đưa vào trong nội dung mặt chủ quan của tội phạm quan hệ tâm lý của bị cáo đối với tất cả các tình tiết thực tế mà những tình tiết ấy cũng được người làm luật nêu trong nội dung của khách thể và mặt khách quan của tội phạm. Nếu khi định tội danh không có sự trùng hợp trên cơ sở ấy giữa các tình tiết thực tế của hành vi nguy hiểm cho xã hội với các dấu hiệu nói về mặt chủ quan của tội phạm thì không được định tội danh hành vi đó như một tội phạm thuộc dạng trên.

Nội dung của mặt chủ quan như một thành phần của tội phạm, hoàn toàn được quyết định bởi nội dung của khách thể và mặt khách quan của tội phạm. Tất cả những gì được nêu trong cơ cấu của khách thể và mặt khách quan tội phạm cần được phản ánh trong nội dung chủ quan của tội phạm. Mặt chủ quan của tội phạm được xác định thông qua yếu tố khách quan.

- Xác định động cơ và mục đích phạm tội trong quá trình định tội danh.

Mỗi một loại hành vi của con người trong xã hội đều do những động cơ hoặc mục đích nào đó quyết định. Là những dấu hiệu bắt buộc của một hành động có ý chí, động cơ và mục đích phạm tội là những yếu tố nằm trong nội dung của mặt chủ quan của tội phạm.

Động cơ, mục đích có ý nghĩa pháp lý khác nhau trong định tội danh. Đó có thể là dấu hiệu của tội phạm; cũng có thể chỉ là dấu hiệu định khung hay có ý nghĩa quyết định hình phạt. Vì vậy, dù thế nào thì xác định động cơ, mục đích phạm tội cũng có ý nghĩa pháp lý quan trọng.

1.6. Những sai sót thường gặp trong thực tiễn định tội danh ở các Tòa án

Nghiên cứu thực tiễn xét xử, ta thường thấy những sai sót phổ biến sau đây khi định tội danh:

- Một là, xác định không đúng hành vi phạm tội trên thực tế (do sai sót do chứng minh):

+ Thu thập chứng cứ không đầy đủ, thiếu khách quan, toàn diện;

+ Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong thu thập chứng cứ;

+ Đánh giá chứng cứ thiếu chính xác, thiếu khách quan, toàn diện;

+ Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong thu thập chứng cứ.

- Hai là, nhận thức không đúng hoặc không đầy đủ quy định pháp luật:

+ Nhận thức không đúng cấu thành tội phạm;

+ Nhận thức không chính xác các tình tiết cụ thể của cấu thành tội phạm.

- Ba là, so sánh không đúng sự tương quan giữa hành vi được xác định và các quy định của pháp luật về cấu thành tội phạm. Nhận định và kết luận thiếu thống nhất...

- Định tội danh sai quy trình: định tội, định khung nhẹ hơn để quyết định hình phạt nhẹ đối với bị cáo.

II. QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

2.1. Khái niệm quyết định hình phạt

Quyết định hình phạt là giai đoạn cuối cùng của áp dụng pháp luật hình sự, được Tòa án (với nghĩa là Hội đồng xét xử) thực hiện ngay sau việc định tội danh, định khung hình phạt. Quyết định hình phạt tức là việc Tòa án lựa chọn biện pháp trách nhiệm hình sự cụ thể để áp dụng đối với người phạm tội trên cơ sở các căn cứ pháp luật quy định nhằm đạt được mục đích quy định.

Quyết định hình phạt có những đặc điểm sau đây:

- Quyết định hình phạt là giai đoạn áp dụng pháp luật sau cùng, liền ngay sau khi định tội, định khung hình phạt. Do đó, định tội đúng là điều kiện rất quan trọng để quyết định hình phạt đúng;

- Tòa án là cơ quan có thẩm quyền duy nhất được quyết định hình phạt. Ngoài Tòa án, không ai có thể quyết định hình phạt đối với người phạm tội;

- Quyết định hình phạt được thực hiện trên cơ sở các căn cứ pháp luật quy định;

- Quyết định hình phạt mang tính tùy nghi cao: tùy nghi trong áp dụng (đối với hình phạt không bắt buộc); tùy nghi trong lựa chọn loại hình phạt áp dụng; tùy nghi trong quyết định mức hình phạt cụ thể; tùy nghi trong quyết định biện pháp chấp hành hình phạt…

2.2. Nội dung quyết định hình phạt

Quyết định hình phạt bao gồm các nội dung (các bước) sau:

- Có áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội hay hay miễn trách nhiệm hình sự theo các căn cứ quy định tại Điều 25, Điều 69 BLHS? Trong thực tiễn thường có nhận thức sai lầm khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án quyết định miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội khi chưa thực hiện việc định tội danh;

- Nếu quyết định người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự, thì quyết định người đó có phải chịu hình phạt hay miễn hình phạt đối với người đó theo quy định tại Điều 69 BLHS…;

- Lựa chọn loại và mức hình phạt theo chế tài quy phạm pháp luật quy định về tội phạm (các căn cứ quyết định hình phạt, các quy định đặc biệt bổ sung chế tài như chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, đồng phạm, hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội…);

- Quyết định biện pháp chấp hành hình phạt (án treo, giao cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án…).

Bốn giai đoạn trên là một quy trình hoàn chỉnh quyết định hình phạt. Tuy nhiên, tùy theo trường hợp phạm tội cụ thể mà quy trình đó có thể cắt giảm. Ví dụ: khi đã xác định trường phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thì nhìn chung không thể có các giai đoạn đầu; khi quyết định hình phạt tù trên 3 năm thì đương nhiên không có giai đoạn tiếp theo là quyết định biện pháp chấp hành hình phạt (án treo).

2.3. Các căn cứ quyết định hình phạt

Việc quyết định hình phạt phải được thực hiện theo các căn cứ được quy định trong BLHS. Những căn cứ đó bao gồm:

- Chế tài quy phạm pháp luật quy định về tội phạm. Trong đó chú ý: Chế tài lựa chọn và không lựa chọn (loại hình phạt); chế tài tùy nghi (tùy nghi áp dụng hay không, tùy nghi quyết định mức hình phạt trong khung…);

- Các căn cứ được quy định tại Điều 37 BLHS: tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân người phạm tội.

- Các căn cứ đặc biệt: đường lối xử lý (Điều 3 BLHS), miễn trách nhiệm hình sự (Điều 25 BLHS); miễn hình phạt (Điều 57 BLHS); chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 52 BLHS); đồng phạm (Điều 53 BLHS); quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên (Điều 69, Điều 74 BLHS); quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (Điều 47 BLHS)…

Khi quyết định hình phạt, các căn cứ quyết định hình phạt phải được xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng một cách đầy đủ, toàn diện và biện chứng (trong từng trường hợp, hoàn cảnh cụ thể), không được bỏ sót hoặc đánh giá thiếu chính xác. Cần chú ý rằng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là căn cứ quan trọng nhất của việc quyết định hình phạt; nhân thân người phạm tội cũng rất quan trọng.

2.4. Kỹ năng quyết định hình phạt

2.4.1. Quyết định hình phạt theo quy định chung

Cũng như định tội danh, để quyết định hình phạt, Tòa án cần thực hiện hai quy trình:

- Xác định các tình tiết của vụ án mà Tòa làm căn cứ quyết định hình phạt. Các tình tiết đó bao gồm các tình tiết liên quan đến tội phạm (cả các yếu tố khách quan và cả yếu tố chủ quan); liên quan đến nhân thân người phạm tội (thể hiện mức độ nguy hiểm cũng như khả năng cải tạo, giáo dục của họ);

- Nhận thức đúng đắn các quy định của pháp luật liên quan đến quyết định hình phạt như đã đề cập ở phần trên.

Tuy nhiên, việc thực hiện tốt hai quy trình trên chưa thể đảm bảo cho việc quyết định hình phạt đúng đắn, phù hợp. Để hình phạt được áp dụng đạt được các mục đích quy định, đòi hỏi người áp dụng có nhận thức tổng hợp về trường hợp phạm tội, về nhu cầu xã hội, yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của đơn vị, địa phương… Ngoài nguyên tắc pháp chế, cần tuân thủ các nguyên tắc quyết định hình phạt khác như cá thể hóa hình phạt, nhân đạo, tôn trọng quyền, lợi ích chính đáng của con người…

2.4.2. Quyết định hình phạt trong các trường hợp đặc biệt

- Trường hợp đồng phạm (Điều 53 BLHS): Điều luật không quy định giới hạn cứng, mà chỉ quy định nguyên tắc chung cho việc quyết định hình phạt; trong đó có nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự theo hai căn cứ riêng, đặc thù. Đó là: 1- Tính chất của đồng phạm (có tổ chức, đồng phạm thường, đồng phạm giản đơn, đồng phạm phức tạp…); 2- Mức độ tham gia phạm tội (vai trò tổ chức, chủ mưu, thực hành, xúi dục, giúp sức… của bị cáo trong vụ án).

Vì vậy, khi quyết định hình phạt, cần áp dụng các căn cứ chung và căn cứ riêng để quyết định cho phù hợp, hài hòa và hiệu quả.

- Trường hợp chuẩn bị phạm tội (khoản 1, 2 Điều 52 BLHS): Điều luật quy định mức hình phạt cao nhất đối với chuẩn bị phạm tội là 20 năm tù (nếu chế tài có hình phạt cao nhất là chung thân, tử hình) mà không quy định giới hạn tối thiểu hoặc bằng 1/2 mức phạt tù quy định (cả mức tối đa và tối thiểu, nếu là tù có thời hạn). Đây là giới hạn cao nhất mà luật định. Còn khi quyết định hình phạt Tòa án phải căn cứ cả vào các căn cứ chung, bao gồm cả quyết định hình phạt dưới khung.

Đề nghị lưu ý cân nhắc giới hạn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 17 BLHS (chỉ người chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng mới phải chịu trách nhiệm hình sự) và chế tài các quy phạm quy định về từng tội phạm cụ thể để quyết định hình phạt cho phù hợp với chính sách hình sự nước ta.

- Trường hợp phạm tội chưa đạt (khoản 1, 3 Điều 52 BLHS): BLHS hình sự không loại trừ hình phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người phạm tội chưa đạt, nhưng giới hạn ở những trường hợp đặc biệt. Ví dụ: định giết nhiều người nhưng chỉ chết một người hoặc rất nhiều người bị thương tích rất nặng.

Đối với trường hợp BLHS quy định chế tài là tù có thời hạn, thì mức hình phạt đối với phạm tội chưa đạt (cả mức tối đa và mức tối thiểu) là không quá 3/4 mức phạt mà điều luật quy định.

Khi quyết định hình phạt đối với từng trường hợp cụ thể, cần cân nhắc mức độ phạm tội chưa đạt (chưa đạt chưa hoàn thành, chưa đạt hoàn thành), nguyên nhân dẫn đến phạm tội chưa đạt. Ngoài ra cũng cần xem xét các căn cứ chung theo luật định.

2.4.3. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Do nguyên tắc quyết định hình phạt quy định trong BLHS nước ta là cộng toàn bộ các hình phạt mà không có thu hút (toàn bộ hay một phần). Cho nên, khi quyết định hình phạt, Tòa án cần chú ý cân nhắc các trường hợp cụ thể khác nhau để quyết định hình phạt đối với từng tội trước khi quyết định hình phạt chung.

Có thể phân biệt ba trường hợp như sau:

- Bị cáo thực hiện các hành vi phạm tội cấu thành các tội phạm khác nhau. Trường hợp này, việc quyết định hình phạt được thực hiện theo quy định chung;

- Bị cáo thực hiện một hành vi phạm tội cấu thành hai tội (ví dụ giết người để chiếm đoạt tài sản): cần cân nhắc quyết định hình phạt thông thường đối với tội nặng hơn; còn tội phạm đi kèm có thể cân nhắc để giảm nhẹ hơn;

- Thủ đoạn phạm tội đồng thời cấu thành một tội phạm khác. Ví dụ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng giết người cấu thành hai tội: tội giết người và tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Trong một số trường hợp, thậm chí thủ đoạn phạm tội còn đồng thời là tình tiết định khung hình phạt. Vì vậy, trong trường hợp này cũng cần cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với tội phạm do thủ đoạn phạm tội cấu thành nên trước khi tổng hợp hình phạt chung để hình phạt thực chất phù hợp với tính chất, mức độ của tội phạm được thực hiện và nhân thân người phạm tội, đáp ứng nguyên tắc nhân đạo, nhầm đạt được mục đích hình phạt.

2.5. Những sai sót phổ biến trong quyết định hình phạt

Thực tiễn xét xử của các Tòa án quân sự cho thấy, trong quyết định hình phạt thường có những sai sót phổ biến sau đây:

- Quyết định hình phạt không phù hợp do đánh giá sai tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm;

- Quyết định hình phạt không phù hợp do đánh giá không đúng các yếu tố nhân thân người phạm tội; nhiều khi coi đặc điểm nhân thân là yếu tố quyết định, quan trọng hơn tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm;

 

- Quyết định hình phạt không phù hợp do nhận thức không chính xác quy định về chế tài, nhất là trong các trường hợp đặc biệt; có trường hợp máy móc khi áp dụng các tình tiết này;

- Quyết định hình phạt không phù hợp do bỏ sót tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng không đúng các tình tiết đó;

- Quyết định hình phạt không phù hợp do xác định hoặc đánh giá sai các tình tiết khách quan của vụ án liên quan đến quyết định hình phạt.


BÀI 4:

KỸ NĂNG XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

 

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay thì Tòa án có một vai trò hết sức quan trọng mà ở đó hoạt động của Tòa án biểu hiện rõ nhất quyền lực Nhà nước thông qua việc xét xử các loại vụ án: Dân sự, hình sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính và các nhiệm vụ khác mà pháp luật quy định. Qua thực tiễn xét xử các vụ án hình sự chúng ta nhận thấy: quá trình giải quyết vụ án trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó hoạt động xét xử các vụ án hình sự là hoạt động rất khó khăn và phức tạp; có quan hệ trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và là một vấn đề nhạy cảm, được dư luận, xã hội quan tâm.

Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định trình tự và các bước xét xử vụ án hình sự kể cả giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Trong đó đã quy định rõ về thẩm quyền của Tòa án các cấp và các bước giải quyết vụ án hình sự. Muốn giải quyết đúng đắn vụ án hình sự đòi hỏi các Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa cũng như các Hội thẩm nhân dân phải tuyệt đối tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự cũng như các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để có thể đưa ra một phán quyết công bằng và đúng pháp luật trên cơ sở nghiên cứu khách quan, toàn diện từng vụ án cụ thể. Để giúp các đồng chí hiểu rõ hơn về quy trình và các vấn đề liên quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong phạm vi bài giảng này tôi muốn giới thiệu đến các đồng chí nội dung: “Kỹ năng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự”.

I. NHẬN, THỤ LÝ VÀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ.

1. Nhận đơn kháng cáo; hồ sơ có kháng cáo, kháng nghị.

VBQPPL:

- BLTTHS năm 2003 (các điều 231, 232, 234, 239)

- Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08-12-2005 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 05/2005) (các mục 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Phần I).

Việc nhận kháng cáo và xử lý kháng cáo tại Tòa án cấp phúc thẩm được thực hiện theo hướng dẫn tại tiểu mục 3.2 mục 3 Phần I của Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP như sau:

“3.2. Việc nhận đơn kháng cáo và xử lý kháng cáo tại Tòa án cấp phúc thẩm.

a, Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm nhận được đơn kháng cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) thì Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các công việc theo hướng dẫn tại tiểu mục 3.1 mục 3 này.

b, Trong trường hợp người kháng cáo đến Tòa án cấp phúc thẩm trình bày trực tiếp về việc kháng cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm giải thích cho họ biết là họ chỉ có quyền trình bày trực tiếp về việc kháng cáo với Tòa án cấp sơ thẩm”.

Trước hết, cán bộ thường trực Tòa hình sự - Tòa án cấp tỉnh khi nhận đơn kháng cáo cần nghiên cứu đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị để xác định xem kháng cáo, kháng nghị có hợp lệ không; chủ thể kháng cáo, kháng nghị có đúng không; thời gian kháng cáo, kháng nghị có đảm bảo không; lý do và yêu cầu kháng cáo, kháng nghị. Những công việc cần làm, kỹ năng thực hiện trong giai đoạn này như sau:

- Theo đó, trước tiên cần xác định chủ thể có quyền kháng cáo và giới hạn kháng cáo của mỗi loại chủ thể đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Để xác định đúng cần căn cứ vào Điều 231 BLTTHS; hướng dẫn tại mục 1 Phần I Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP:

 “1. Về Điều 231 của BLTTHS

Chủ thể có quyền kháng cáo và giới hạn kháng cáo của việc kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm được xác định như sau:

1.1. Bị cáo, người đại diện hợp pháp (đại diện hợp pháp theo pháp luật) của bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

1.2. Người bào chữa cho bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích cho bị cáo.

1.3. Người bị hại, người đại diện hợp pháp (hoặc đại diện theo pháp luật) của người bị hại trong trường hợp người bị hại chết hoặc trong trường hợp người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo hoặc theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo. Trong trường hợp người bị hại chỉ kháng cáo phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại, thì họ có thể ủy quyền cho người khác. Người được ủy quyền có các quyền và nghĩa vụ như người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự.

1.8. Người được Tòa án tuyên bố là không có tội có quyền kháng cáo phần lý do của bản án sơ thẩm đã tuyên là họ không có tội.”

- Tiếp theo xác định chủ thể có quyền kháng nghị của Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 232 BLTTHS. Về nguyên tắc chung Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Kháng nghị của Viện kiểm sát phải làm bằng văn bản, có nêu rõ lý do và được gửi đến Tòa án đã xử sơ thẩm vụ án (khoản 2 Điều 233 của BLTTHS). Thời hạn kháng nghị đối với các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười lăm ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định (khoản 1 Điều 239 của BLTTHS). Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với bản án là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án (khoản 1 Điều 234 BLTTHS).

Tuy nhiên, cần phân biệt kháng nghị đối với quyết định nào của Tòa án cấp sơ thẩm mới được xem xét ở Tòa án cấp phúc thẩm. Vì vậy cần nghiên cứu kỹ hướng dẫn tại mục 2 Phần I Nghị quyết số 05/2005 như sau:

“…

2.1. Trường hợp kháng nghị đối với quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, thì Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án và kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

2.2. Trường hợp Viện kiểm sát cùng cấp kháng nghị quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, thì căn cứ vào khoản 2 Điều 316 của BLTTHS, việc kháng nghị và xét kháng nghị được tiến hành như đối với bản án sơ thẩm.

2.3. Trường hợp kháng nghị đối với các quyết định khác, thì Tòa án cấp sơ thẩm phải căn cứ vào quy định của BLTTHS và các văn bản pháp luật liên quan quy định về thẩm quyền và thủ tục kháng nghị, giải quyết kháng nghị cụ thể đó”.

- Kiểm tra thủ tục kháng cáo đã hợp lệ hay chưa.

- Việc nhận kháng cáo và xử lý kháng cáo chủ yếu được thực hiện tại Tòa án cấp sơ thẩm. Cần nghiên cứu hướng dẫn tại mục 3 Phần I Nghị quyết số 05/2005 để kiểm tra việc nhận kháng cáo và xử lý kháng cáo tại Tòa án cấp sơ thẩm đã đúng và đầy đủ hay chưa để có quyết định tương ứng phù hợp.

- Khi Tòa án cấp phúc thẩm nhận được đơn kháng cáo và các tài liệu chứng cứ kèm theo (nếu có) thì phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các công việc theo thủ tục chung.

- Kiểm tra kháng cáo, kháng nghị có làm đúng trong thời hạn quy định tại Điều 234 và Điều 239 BLTTHS hay không? Để kết luận đúng, cần phải xác định đúng thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị và ngày kháng cáo theo hướng dẫn tại mục 4 Phần I Nghị quyết số 05/2005:

“4. Về Điều 234 của BLTTHS

4.1.Thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị

a, Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của ngày được xác định. Ngày được xác định là ngày Tòa án tuyên án hoặc ra quyết định trong trường hợp Viện kiểm sát, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa hoặc là ngày bản án, quyết định được giao hoặc được niêm yết trong trường hợp bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

b, Thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị là thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn. Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần (thứ bảy, chủ nhật) hoặc ngày nghỉ lễ, thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc đầu tiên tiếp theo ngày nghỉ đó. Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư giờ của ngày đó.

4.2. Xác định ngày kháng cáo

“...

c, Trong trường hợp người kháng cáo đến nộp đơn kháng cáo tại Tòa án hoặc trong trường hợp họ đến Tòa án cấp sơ thẩm trình bày trực tiếp về việc kháng cáo, thì ngày kháng cáo là ngày Tòa án nhận đơn hoặc là ngày Tòa án lập biên bản về việc kháng cáo”.

- Xem xét kháng cáo quá hạn: Thư ký Tòa án được phân công nhận hồ sơ có kháng cáo, kháng nghị cần kiểm tra có kháng cáo quá hạn hay không, nếu có thì báo cáo lãnh đạo Tòa án để xem xét kháng cáo quá hạn.

+ Khi có kháng cáo quá hạn, thì Tòa án cấp phúc thẩm phải thành lập Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán để xét lý do kháng cáo quá hạn. Việc xét lý do kháng cáo quá hạn phải được thực hiện trước khi mở phiên tòa;

+ Việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận, nếu có lý do chính đáng, tức là trong trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời hạn luật định. Ví dụ: do thiên tai, lũ lụt; do ốm đau, bị tai nạn phải nằm viện điều trị…

+ Để xét kháng cáo quá hạn đúng quy định tại điều 235 BLTTHS cần nghiên cứu kỹ hướng dẫn tại mục 5 Phần I Nghị quyết số 05/2005;

+ Quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn phải làm đúng theo mẫu số 01c và Quyết định không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn phải làm đúng theo mẫu số 01d (ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005).

   - Kiểm tra Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ việc thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị hay chưa? Để kết luận đúng phải căn cứ vào Điều 236 BLTTHS và hướng dẫn trong mục 6 Phần I Nghị quyết số 05/2005.

- Thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị phải làm đúng theo mẫu số 01đ (ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005).

- Xử lý việc bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị, việc rút kháng cáo, kháng nghị và để xử lý đúng việc rút kháng cáo, kháng nghị, ngoài việc căn cứ vào Điều 238 BLTTHS, cần nghiên cứu kỹ hướng dẫn tại mục 7 Phần I Nghị quyết số 05/2005.

- Cuối cùng là xem xét thông báo việc rút kháng cáo, kháng nghị có đúng theo mẫu số 01e (ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005).

2. Thụ lý vụ án

Sau khi xem xét đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về đơn kháng cáo, hồ sơ có kháng cáo, kháng nghị đã hợp lệ thì Thư ký Tòa án được phân công tiến hành thụ lý vụ án. Việc thụ lý vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm được thực hiện tương tự như tại Tòa án cấp sơ thẩm.

VBQPPL:

- BLTTHS (các điều 176, 238, 243)

- Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP (các mục 1, 2 Phần I)

- Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP (mục 2 Phần II, Phần III).

- Ngay sau khi nhận hồ sơ vụ án, phải vào sổ thụ lý và ghi số, ngày, tháng năm thụ lý hồ sơ vụ án vào bìa hồ sơ.

+ Nên ghi ở góc trên, bên trái của bìa hồ sơ vụ án. Nếu sau khi kết thúc việc nhận hồ sơ, đã hết giờ làm việc trong ngày thì việc vào sổ thụ lý mới được để chậm lại sang ngày làm việc tiếp theo.

+ Nội dung sổ thụ lý phải ghi đầy đủ các cột theo mẫu, chữ viết phải ngay ngắn, rõ ràng.

  


3. Gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp phúc thẩm nghiên cứu

VBQPPL:

- Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08-12-2005 của HĐTP TANDTC (trong mục này viết tắt là Nghị quyết số 05/2005) (Phần III).

   Việc gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp phúc thẩm phải được thực hiện trong thời hạn và trình tự được hướng dẫn tại Phần III Nghị quyết số 05/2005:

   “2. Ngay sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm cần kiểm tra tính hợp lệ của kháng cáo, kháng nghị và xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Khi chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, Tòa án cấp phúc thẩm cần yêu cầu Viện kiểm sát cùng cấp chuyển cho Tòa án cấp phúc thẩm chứng cứ mà Viện kiểm sát mới thu thập được và danh sách những người cần triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm (nếu có)…”.

Hết thời hạn mười ngày nghiên cứu, Viện kiểm sát hoàn trả lại hồ sơ cho Tòa án. Cán bộ Tòa án báo cáo Chánh án về việc Viện kiểm sát hoàn trả hồ sơ đã nghiên cứu để Chánh án hoặc Phó chánh án phụ trách phân công Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa trực tiếp xét xử, giải quyết vụ án đó.

   4. Xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn

VBQPPL:

- BLTTHS năm 2003 (Điều 243)

-  Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08-12-2005 của HĐTP TANDTC (trong mục này viết tắt là Nghị quyết số 05/2005) (mục 2 Phần II).

Sau khi nhận hồ sơ Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét có căn cứ áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn hay không? Để quyết định đúng cần căn cứ vào quy định tại Điều 243 BLTTHS và hướng dẫn tại mục 2 Phần II Nghị quyết số 05/2005.

Khi kiểm tra thấy cần thiết phải áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn thì cần phải dự thảo ngay các loại quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn phù hợp với từng hồ sơ vụ án để trình người có thẩm quyền ký.

5. Chuẩn bị xét xử phúc thẩm

   a. Nghiên cứu hồ sơ vụ án

VBQPPL:

-  BLTTHS năm 2003 (các Điều 207, 247)

- Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08-12-2005 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự (trong mục này viết tắt là Nghị quyết số 05/2005) (mẫu số 02a).

   Cũng như việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự ở cấp sơ thẩm, thì việc nghiên cứu hồ sơ ở giai đoạn phúc thẩm theo phương pháp nào phụ thuộc vào năng lực, sở trường và kinh nghiệm của từng Thẩm phán. Thể hiện qua hai phương pháp sau:

   *Phương pháp thứ nhất: Qua thực tiễn cho thấy, nếu hành vi phạm tội của bị cáo và vai trò của từng bị cáo đã rõ ràng thì nghiên cứu theo trình tự tố tụng (thời gian từ thời điểm ban đầu xây dựng hồ sơ đến khi kết thúc giai đoạn xét xử sơ thẩm) là hợp lý vì nghiên cứu theo trình tự thời gian như vậy thì có thể tránh được định kiến của mình dựa trên kết luận của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án cấp sơ thẩm nhưng sự chú ý lại dễ bị phân tán, việc ghi chép trích dẫn nhiều khi lại phải quay lại phần đã đọc, rất mất thời gian mới nắm vững được các tình tiết của vụ án cũng như quan điểm của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án cấp sơ thẩm.

*Phương pháp thứ hai: Thông thường phương pháp nghiên cứu theo trình tự ngược lại” được áp dụng nhiều hơn, cụ thể như sau:

- Trước tiên, Thẩm phán cần nghiên cứu bản án sơ thẩm để biết nội dung vụ án, phần nhận định, kết luận và quyết định của bản án hình sự sơ thẩm. Khi nghiên cứu bản án hình sự sơ thẩm cần chú ý đến tính hợp pháp và có căn cứ. Tính hợp pháp thể hiện ở chỗ bản án hình sự sơ thẩm phải phù hợp với các quy định của pháp luật hình sự trong việc định tội danh, định khung hình phạt, quyết định hình phạt và phải phù hợp với các quy định của BLTTHS. Tính có căn cứ thể hiện ở các chứng cứ dùng để chứng minh vụ án phải phù hợp với những sự kiện (tình tiết) thực tế của vụ án đã xảy ra.

- Sau đó, Thẩm phán nghiên cứu biên bản phiên tòa để nắm được nội dung diễn biến của phiên tòa, đối chiếu xem phần nhận định và quyết định của bản án hình sự sơ thẩm có dựa trên diễn biến và kết quả tranh tụng tại phiên tòa hay không? Xem xét phần thủ tục tố tụng như thành phần Hội đồng xét xử có đúng quy định của pháp luật không? Ví dụ: Trường hợp bị cáo là người chưa thành niên. Sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng có ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án tại phiên tòa không? Ví dụ: Như vắng mặt luật sư trong các vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên, bị cáo bị truy tố theo khung hình phạt cao nhất là tử hình theo quy định tại khoản 2 Điều 57. Các chứng cứ của vụ án có được thẩm tra đầy đủ tại phiên tòa sơ phẩm hay không.

- Tiếp theo, Thẩm phán nghiên cứu, xem xét đánh giá các tài liệu có trong hồ sơ, đối chiếu với nội dung bản án sơ thẩm để xác định: các chứng cứ trong hồ sơ đã đầy đủ chưa; sự việc, tình tiết nào có căn cứ; sự việc tình tiết nào chưa rõ, còn mâu thuẫn để từ đó kết luận bản án sơ thẩm có căn cứ và hợp lý chưa. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án để chuẩn bị xét xử phúc thẩm cần lưu ý:

+ Phải ghi chép tóm tắt nội dung vụ án, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

+ Đối với trường hợp bị cáo kháng cáo chối tội (kêu oan), thì Thẩm phán cần ghi rõ các tình tiết để chứng minh (căn cứ vào lời khai, các tài liệu khác thể hiện tại các bút lục trong hồ sơ), để tránh bị động lúng túng tại phiên tòa, đồng thời là cơ sở cho việc lập kế hoạch xét hỏi.

   Trong trường hợp hồ sơ dày, tính chất vụ án phức tạp, có nhiều bị cáo thì Thẩm phán cần nghiên cứu những tình tiết chính, trọng tâm và bị cáo có vai trò chính trước, sau đó nghiên cứu những bị cáo khác. Nếu vụ án có nhiều bị cáo mà bị xét xử về nhiều tội khác nhau thì có thể nghiên cứu theo từng nhóm bị cáo phạm cùng một tội. Khi nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy chứng cứ chưa đầy đủ mà Tòa án không thể tự mình bổ sung được thì Tòa án có thể yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung chứng cứ.

   - Về nguyên tắc chung cần phải nghiên cứu toàn diện hồ sơ vụ án cả về thủ tục tố tụng và nội dung sự việc. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, nếu xét thấy không cần thiết xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án, thì chỉ lập kế hoạch xét hỏi hợp lý đối với nội dung kháng cáo, kháng nghị (căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 207 và Điều 247 BLTTHS).   

   - Nếu trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, người kháng cáo và Viện kiểm sát kháng nghị rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm. Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm phải làm đúng theo mẫu số 02a (ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005).

   b. Kết hợp đồng thời việc nghiên cứu hồ sơ với việc nhận và xem xét chứng cứ được bổ sung tại Tòa án cấp phúc thẩm

   - Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung chứng cứ mới.

   - Khi Viện kiểm sát tự mình bổ sung chứng cứ mới; người kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền bổ sung tài liệu, đồ vật. Việc giao nhận chứng cứ mới; giao nhận tài liệu, đồ vật do đương sự bổ sung phải được lập thành văn bản. Biên bản phải có chữ ký của bên giao, bên nhận và được lưu trong hồ sơ vụ án.

   - Chứng cứ mới, tài liệu, đồ vật mới bổ sung đều phải được xem xét, nghiên cứu cùng chứng cứ cũ, tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án.

   c. Lên lịch xét xử và gửi cho các cơ quan liên quan

   Trên cơ sở quyết định phân công xét xử vụ án hình sự, Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa lên lịch xét xử giao cho bộ phận thường trực để thông báo thời gian, địa điểm xét xử cho các đơn vị liên quan như: Viện kiểm sát cùng cấp, Công an, Trại giam, Đoàn luật sư,… (lịch xét xử phải được thông báo chậm nhất là 15 ngày trước ngày mở phiên tòa).

   d. Triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa

VBQPPL:

-       BLTTHS năm 2003 (Điều 245)

-       Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08-12-2005 của HĐTP TANDTC (trong mục này viết tắt là Nghị quyết số 05/2005) (mục 3 Phần II)

   Căn cứ vào Điều 245 BLTTHS và hướng dẫn tại mục 3 Phần II Nghị quyết số 05/2005 để xác định những người tham gia phiên tòa phúc thẩm. Trên cơ sở đó triệu tập những người tham gia đến phiên tòa phúc thẩm bằng văn bản và tùy vào từng đối tượng cụ thể mà có hình thức văn bản phù hợp (nếu đã có mẫu văn bản thì phải làm đúng theo mẫu đã được ban hành).

e. Lập kế hoạch xét hỏi

Kế hoạch xét hỏi để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự được lập trên cơ sở chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị. Dự kiến những tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa như bị cáo chỉ nhận tội một phần thì khi xét hỏi phải kết hợp giữa xét hỏi với việc xem xét vật chứng (nếu cần), hoặc triệu tập những người tham gia tố tụng khác để có kế hoạch thẩm vấn nếu cần. Trường hợp bị cáo kêu oan thì Thẩm phán cần xem xét kỹ hồ sơ và có kế hoạch xét hỏi thẩm tra mọi tình tiết của vụ án để xem xét bị cáo kêu oan có cơ sở hay không....

   f. Chuẩn bị cho việc quyết định bắt và tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án

VBQPPL:

-       BLTTHS năm 2003 (Điều 261)

-       Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08-12-2005 của HĐTP TANDTC (trong mục này viết tắt là Nghị quyết số 05/2005) (tiểu mục 2.2 mục 2 Phần II)

   Trong khi nghiên cứu hồ sơ vụ án thấy có đủ các điều kiện (có căn cứ để xử phạt tù bị cáo; bị cáo không thuộc trường hợp có thể cho hưởng án treo; bị cáo không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 261 BLHS) và xét thấy cần ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án, thì phải thực hiện các công việc được hướng dẫn tại tiểu mục 2.2 mục 2 Phần II Nghị quyết số 05/2005.

   g. Cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự

   Căn cứ vào các Điều 56, 57 BLTTHS và hướng dẫn tại các mục 1, 2 và 3 phần II Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP; trên cơ sở đề nghị và xem xét các giấy tờ cần thiết của người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và tùy vào từng đối tượng cụ thể mà có hình thức văn bản phù hợp.

   Lãnh đạo Tòa án cấp giấy chứng nhận người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự (đối với vụ án chưa phân công Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa); Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền cấp giấy chứng nhận người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự.

   h. Về thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm

   Về nguyên tắc chung Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm. Thực tiễn xét xử phúc thẩm trong những năm qua cho thấy trong các trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ gồm ba Thẩm phán. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy vụ án phức tạp hoặc vụ án đối với người chưa thành niên phạm tội cần có thêm ý kiến của Hội thẩm thì báo cáo Chánh án hoặc người được Chánh án ủy quyền quyết định thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và hai Hội thẩm. Cần lưu ý là trường hợp này không thực hiện đối với các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án quân sự trung ương vì ở Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án quân sự trung ương không có Hội thẩm.

i. Thư ký phiên tòa kiểm tra điều kiện vật chất cho việc xét xử

- Thư ký kiểm tra phòng xử án xem đã đảm bảo cho việc xét xử chưa như: Bàn, ghế ngồi của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, bị cáo; vành móng ngựa, biển hiệu đã đầy đủ và đúng vị trí chưa; hệ thống âm thanh, ánh sáng,… Bên cạnh đó, Thư ký phải chuẩn bị các giấy tờ cần thiết để Hội đồng xét xử giải quyết khi có tình huống xảy ra như: Lệnh trích xuất, Lệnh bắt tạm giam, Quyết định tạm giam, Quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, trích lục bản án,…

II. KỸ NĂNG ĐIỀU KHIỂN PHIÊN TÒA PHÚC THẨM

Những quy định chung về thủ tục phiên tòa phúc thẩm:

VBQPPL:

-       BLTTHS năm 2003 (Điều 247, các Chương XVIII, XIX, XX, XXI và XXII)

-       Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 5-11-2004 của HĐTP TANDTC (trong mục này viết tắt là Nghị quyết số 04/2004) (các Phần II, III, IV)

-          Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08-12-2005 của HĐTP TANDTC (trong mục này viết tắt là Nghị quyết số 05/2005) (mục 4 Phần II)

Căn cứ vào Điều 247 BLTTHS, phiên tòa phúc thẩm cũng tiến hành như phiên tòa sơ thẩm. Do đó, về nguyên tắc chung căn cứ vào quy định tại các Chương XVIII, XIX, XX, XXI và XXII BLTTHS; hướng dẫn tại các phần II, III, IV Nghị quyết số 04/2004; hướng dẫn tại mục 4 Phần II Nghị quyết số 05/2005 để tiến hành thủ tục phiên tòa phúc thẩm đúng quy định. Quy trình điều khiển phiên tòa phúc thẩm trải qua những thủ tục sau:

1.    Thủ tục bắt đầu phiên tòa

VBQPPL:

-       BLTTHS năm 2003 (Điều 198, 245)

-       Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08-12-2005 của HĐTP TANDTC (trong mục này viết tắt là Nghị quyết số 05/2005) (mục 3, tiểu mục 4.2 mục 4 Phần II)

- Trước khi bắt đầu phiên tòa yêu cầu Thư ký Tòa án phổ biến nội quy phiên tòa, những biện pháp đối với người vi phạm trật tự phiên tòa quy định tại Điều 198 BLTTHS; Kiểm tra những người được triệu tập tham gia phiên tòa và nếu có người vắng mặt cần làm rõ lý do để báo cáo với Hội đồng xét xử.

- Do Tòa án cấp phúc thẩm không có quyết định đưa vụ án ra xét xử, cho nên sau khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án, thay cho việc đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa tuyên bố khai mạc phiên tòa (Lời khai mạc phiên tòa cần theo đúng hướng dẫn tại tiểu mục 4.2 mục 4 Phần II Nghị quyết số 05/2005). Khi Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa cần yêu cầu mọi người đứng dậy như khi tuyên án.

- Sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa yêu cầu Thư ký Tòa án báo cáo danh sách những người được triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm đã có mặt; nếu có người vắng mặt đề nghị báo cáo lý do của sự vắng mặt.

- Các công việc tiếp theo như: kiểm tra căn cước của những người được triệu tập đến phiên tòa đã có mặt, giải thích cho họ biết quyền và nghĩa vụ, v.v… Chỉ xác định căn cước của các bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng nghị (về tư cách tham gia tố tụng của các bị cáo không có kháng cáo hoặc không bị kháng nghị, cần xác định tư cách của họ là người làm chứng).

- Khi giải thích quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa cần giải thích thêm quyền bổ sung, thay đổi, giữ nguyên, rút một phần hay toàn bộ kháng cáo, kháng nghị (nhưng không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo). Nếu người kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị và không còn ai kháng cáo thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.

- Cần chú ý là trong trường hợp người được triệu tập tham gia phiên tòa vắng mặt tại phiên tòa cần căn cứ vào khoản 2 Điều 245 BLTTHS và nghiên cứu kỹ hướng dẫn tại mục 3 Phần II Nghị quyết số 05/2005 để quyết định trường hợp nào phải hoãn phiên tòa và trường hợp nào vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

- Giải quyết yêu cầu, đề nghị về hoãn phiên tòa (trong trường hợp người được triệu tập vắng mặt; bị cáo chưa nhận được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị hoặc thông báo về thời gian mở phiên tòa phúc thẩm...). Việc thảo luận và thông qua quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử vụ án được thực hiện tại phòng nghị án, không phải lập thành văn bản, nhưng phải được ghi vào biên bản phiên tòa.

2. Kỹ năng xét hỏi và điều khiển quá trình xét hỏi tại phiên tòa

Trong phần xét hỏi tại phiên tòa, Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa cần xem xét, xác định phạm vi xét xử phúc thẩm (theo quy định tại Điều 241 BLTTHS năm 2003). Về nguyên tắc chung Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, nếu xét thấy cần thiết thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án. Trong trường hợp này cần triệu tập những người tham gia tố tụng có liên quan đến phần không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét. Tại Điều 241 BLTTHS quy định: “Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án”.

Cũng như ở cấp sơ thẩm, xét hỏi tại giai đoạn phúc thẩm cũng là việc điều tra công khai nhằm kiểm tra, đánh giá các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như các chứng cứ, tài liệu được bổ sung tại phiên tòa làm căn cứ cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị.

Trình tự xét hỏi ở cấp phúc thẩm cũng như ở cấp sơ thẩm, chỉ khác với cấp sơ thẩm là trước khi xét hỏi thường là Chủ tọa phiên tòa trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị. Chủ tọa cần có phương pháp xét hỏi hợp lý tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể để đạt hiệu quả cao nhất và bảo đảm tuân thủ các quy định của BLTTHS.

Trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độ khai báo quanh co, chối tội, thì Thẩm phán nên bắt đầu hỏi các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn trước; trong quá trình xét hỏi nên sử dụng lời khai của bị cáo này để đấu tranh với bị cáo kia và trích lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra để buộc bị cáo phải chứng minh lời khai của mình là đúng hay không đúng và có liên quan đến nội dung kháng cáo hay không?

Trường hợp có nhiều bị cáo mà lời khai của họ tại cấp sơ thẩm không thống nhất, khác với lời khai tại giai đoạn điều tra, Thẩm phán phải cân nhắc xét hỏi bị cáo nào trước để thuận lợi cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Thông thường trong trường hợp này nên bắt đầu từ bị cáo nhận tội hoặc có lời khai tương đối trung thực hơn so với bị cáo khác. Nếu xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể cho đối chất tại phiên tòa. Cũng như ở phiên tòa sơ thẩm, cần hỏi kỹ những người tham gia tố tụng như người bị hại, nhân chứng,... để có cơ sở xem xét đến kháng cáo hoặc kháng nghị.

3. Kỹ năng điều khiển phần tranh luận tại phiên tòa

Phần tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm cũng tương tự như ở cấp sơ thẩm, có một s lưu ý là: Mở đầu phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, trên cơ sở kiểm tra các chứng cứ cũ và mới (nếu có) để kết luận về tính hợp pháp của bản án sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận hay không chấp nhận kháng cáo hoặc kháng nghị. Tiếp theo, người bào chữa trình bày và nêu lên quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến kháng cáo, kháng nghị (nếu không có người bào chữa thì bị cáo tự mình bào chữa) sau đó đến những người tham gia tố tụng khác.

Sau khi các bên đã trình bày xong quan điểm của mình, Chủ tọa phiên tòa điều khiển phần đối đáp cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Sau khi phân đối đáp đã đầy đủ Hội đồng xét xử tuyên bố kết thúc phần tranh luận, cho các bị cáo nói lời sau cùng và chuyển sang phần nghị án.

4. Nghị án và tuyên án khi xét xử phúc thẩm hình sự

VBQPPL:

-       Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 5-11-2004 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của BLTTHS năm 2003 (trong mục này viết tắt là Nghị quyết số 04/2004)

-       Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08-12-2005 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự (trong mục này viết tắt là Nghị quyết số 05/2005)

Việc nghị án và lập biên bản nghị án cũng tiến hành như ở cấp sơ thẩm. Mặc dù cấp phúc thẩm chỉ xét những phần của bản án có kháng cáo, kháng nghị. Song theo nguyên tắc cần phải xem xét toàn diện vụ án, do vậy nếu cần thiết Hội đồng xét xử vẫn xem xét đến những vấn đề không có kháng cáo, kháng nghị để giải quyết (nếu điều đó không làm xấu đi tình trạng của bị cáo). Trước khi tuyên án, Hội đồng xét xử phải xem xét kỹ lưỡng bản án và thủ tục tuyên án cũng như ở cấp sơ thẩm, một thành viên của Hội đồng xét xử đọc bản án. Cần chú ý một số điểm sau đây:

+ Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm của Hội đồng xét xử phải làm đúng theo mẫu số 02b (ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005).

+ Biên bản nghị án phải làm đúng theo mẫu số 02c (ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005).

+ Biên bản phiên tòa hình sự phúc thẩm phải làm đúng theo mẫu số 02d (ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005).

+ Bản án hình sự phúc thẩm phải làm đúng theo mẫu số 02đ (ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005).

5. Công việc sau phiên tòa phúc thẩm hình sự

Sau phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải tiến hành một số việc cụ thể như:

- Kiểm tra và ký biên bản phiên tòa;

- Kiểm tra việc giao bản án (quyết định) phúc thẩm của Thư ký Tòa án cho những người tham gia tố tụng (nếu họ có yêu cầu), cho cấp sơ thẩm,... có đúng theo quy định của pháp luật hay không;

- Cấp trích lục hoặc bản sao bản án cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ (nếu họ có yêu cầu);

- Cấp trích lục hoặc bản sao bản án cho những người tham gia tố tụng xem biên bản phiên tòa (nếu họ có yêu cầu).

Cần lưu ý: Các Thẩm phán xét xử phúc thẩm cần nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, chuẩn bị việc xét xử đúng thủ tục và thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng; không được hoãn phiên tòa vì những lý do không chính đáng; không tăng hoặc giảm án không đáng kể, không có căn cứ; không được hủy án một cách tùy tiện mà không nêu được lý do cụ thể và thuộc trường hợp nào quy định tại Điều 250 BLTTHS; việc giao bản án và quyết định phúc thẩm phải bảo đảm trong thời hạn quy định của pháp luật tố tụng. Nếu thấy có vướng mắc trong việc giải quyết vụ án thì phải báo cáo lãnh đạo trực tiếp phụ trách để tổ chức phiên họp trao đổi về việc giải quyết các vụ án, đặc biệt đối với các trường hợp sau:

+ Vụ án thuộc trường hợp phải báo cáo cấp ủy theo Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 07/7/2007 của Bộ Chính trị hoặc các vụ án điểm của địa phương;

+ Các vụ án mà quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán cấp tỉnh hủy bản án sơ thẩm mà Thẩm phán thấy có thể xử khác với định hướng của quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm;

+ Vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã báo cáo trao đổi với Tòa án tỉnh, nhưng Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử thấy có thể xét xử khác với quyết định của bản án sơ thẩm (sửa hoặc hủy bản án sơ thẩm)... (Công văn số 260/TANDTC ngày 22/10/2010).

6. Thẩm quyền và phạm vi quyết định của cấp phúc thẩm

Theo quy định tại khoản 2 Điều 248 BLTTHS thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền quyết định:

 “a. Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;

b. Sửa bản án sơ thẩm;

c. Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại;

d. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án”.

Các quyết định trên bao gồm cả quyết định có lợi cho bị cáo và không có lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, khi quyết định theo hướng không có lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng thì cấp phúc thẩm cần lưu ý một số vấn đề sau:

- Về tăng hình phạt đối với bị cáo:

Tăng hình phạt đối với bị cáo là việc cấp phúc thẩm quyết định một hình phạt nặng hơn so với hình phạt mà cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo. Trong trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm chưa quyết định hình phạt đối với bị cáo thì cho dù có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại thì cấp phúc thẩm cũng không được áp dụng hình phạt đối với bị cáo, vì như vậy sẽ không phải là tăng hình phạt mà lại là quyết định hình phạt đối với bị cáo. Ví dụ: Cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không phạm tội hoặc miễn trách nhiệm hình sự.

 Nếu kháng nghị của Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tăng hình phạt đối với bị cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo bị kháng nghị, nhưng chỉ được tăng mức hình phạt chứ không được chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn. Ví dụ: Tòa án cấp sơ thẩm phạt bị cáo một năm cải tạo không giam giữ, nếu kháng nghị của Viện kiểm sát yêu cầu tăng hình phạt thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt cải tạo không giam giữ lên trên một năm, chứ không được chuyển sang loại hình phạt tù.

- Áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn:

Đây là trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng điều khoản của BLHS mà điều khoản đó so với điều khoản mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng là nặng hơn. Đó là trong trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về khoản 2 Điều 138 BLHS nhưng Tòa án cấp phúc thẩm kết án bị cáo theo khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 138 BLHS. Đa phần trong các trường hợp này, khi Tòa án cấp phúc thẩm đã áp dụng điều khoản về tội nặng hơn thì đều tăng hình phạt theo hướng bất lợi cho bị cáo, cũng có những trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng điều khoản về tội nặng hơn xong vẫn giữ nguyên mức hình phạt như cấp sơ thẩm đã tuyên.

Cần lưu ý: Khi có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm cần xem xét kỹ nội dung của kháng cáo, kháng nghị để bảo đảm xét xử đúng phạm vi kháng cáo, kháng nghị. Có những trường hợp, nội dung của kháng cáo, kháng nghị yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét cả về điều khoản của cấp sơ thẩm đã áp dụng, đồng thời đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo, nhưng cũng có những trường hợp kháng cáo, kháng nghị chỉ yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét việc áp dụng điều, khoản mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng nhưng không yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo.

Tòa án cấp phúc thẩm chỉ có thể áp dụng điều khoản về tội nặng hơn, nếu điều khoản đó vẫn thuộc thẩm quyền của cấp sơ thẩm cũng như theo giới hạn của Điều 196 BLTTHS. Nếu việc áp dụng điều khoản về tội nặng hơn mà vượt quá thẩm quyền của cấp sơ thẩm thì bản án hình sự sơ thẩm sẽ bị hủy.

Đối với kháng cáo, kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện, thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ hủy bản án trong trường hợp thấy hành vi của bị cáo phải xét xử theo một tội danh nặng hơn, hoặc khung hình phạt nặng hơn mà không thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện.

- Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại:

Về vấn đề này, qua thực tiễn xét xử thấy rằng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 250 BLTTHS thì Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới trong những trường hợp:

+ Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định; hoặc

+ Có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng như: Người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội.

Việc Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới trong trường hợp thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục đã được quy định tại Điều 42, Điều 307 BLTTHS....

Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại trong trường hợp “người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội”. Đây là quy định mới tại điểm b khoản 2 Điều 250 BLTTHS năm 2003. Trước đây, theo quy định tại BLTTHS năm 1988 và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì: nếu tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội và bản án bị kháng cáo hoặc kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm thấy có đủ căn cứ để cho rằng bị cáo phạm tội cũng không được hủy bản án sơ thẩm và vẫn y án sơ thẩm đồng thời kiến nghị cấp giám đốc thẩm xét lại vụ án. Vì nếu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố bị cáo có tội, như có thời gian trước đây chúng ta đã áp dụng thì sẽ không bảo đảm quyền bào chữa và quyền kháng cáo của bị cáo. Nhưng nếu Tòa án cấp phúc thẩm cứ phải tuyên y án rồi kiến nghị lên cấp giám đốc thẩm xét lại thì rất mất thời gian và vụ án bị kéo dài gây dư luận không tốt. Do vậy, BLTTHS năm 2003 đã bổ sung vào Điều 250 BLTTHS cho phép Tòa án cấp phúc thẩm được hủy án trong trường hợp này.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn có thể hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại trong các trường hợp chứng cứ của vụ án được thu thập không đầy đủ, không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm.

Tóm lại để xét xử phúc thẩm một vụ án hình sự được chính xác, đúng đắn và tuân thủ theo những quy định của pháp luật thì đòi hỏi Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa cũng như các vị Hội thẩm nhân dân cần phải nắm rõ được quy trình giải quyết vụ án hình sự và thực hiện tốt các công việc trong giai đoạn xét xử phúc thẩm như: chuẩn bị xét xử, kỹ năng điều khiển phiên tòa phúc thẩm và các công việc sau khi kết thúc phiên tòa phúc thẩm. Bên cạnh đó yêu cầu mỗi Thẩm phán (hoặc Hội thẩm nhân dân nếu có) phải nắm rõ nội dung quy định của các văn bản quy phạm pháp luật, các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cùng với việc không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nhằm phục vụ cho công tác xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự để đáp ứng với tinh thần của Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra trong giai đoạn hiện nay.


 

BÀI 5:

KỸ NĂNG SOẠN THẢO CÁC LOẠI VĂN BẢN

PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

 

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC LOẠI VĂN BẢN PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1. Các loại văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự

Văn bản pháp luật có ba loại: đó là Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính.

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống.

Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản pháp lý cá biệt, mang tính quyền lực do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành trên cơ sở những quy phạm pháp luật, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể cụ thể hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật.

Văn bản hành chính là văn bản được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước để điều hành hoặc hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ đối với cấp dưới và để đôn đốc, nhắc nhở cấp dưới thực hiện nhiệm vụ được giao; hoặc dùng để truyền đạt những thông tin quan trọng trong trường hợp khẩn cấp; hoặc dùng để truyền đạt ý kiến, kết luận của cấp có thẩm quyền hoặc thông tin về những sự kiện pháp lý khác phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước tới các đối tượng có liên quan.

Hiểu theo nghĩa này thì các loại văn bản được ban hành trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự bao gồm hai loại văn bản là văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính. Trong đó chủ yếu là văn bản áp dụng pháp luật.

Các loại văn bản được ban hành trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự là văn bản pháp luật vì:

- Trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan tiến hành tố tụng phải ban hành những văn bản nhất định để tác động, điều chỉnh tới những con người cụ thể hoặc những cá nhân, tổ chức liên quan và những văn bản này đều có giá trị bắt buộc thi hành ở những mức độ khác nhau với các đối tượng có liên quan và đều được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước.

- Việc ban hành các loại văn bản trong hoạt động tố tụng hình sự không phải là tuỳ tiện, thích thì ban hành, và ban hành như thế nào cũng được. Văn bản được ban hành phải có giá trị sử dụng, hiệu quả tác động. Vì vậy pháp luật mà ở đây trực tiếp là Bộ luật tố tụng hình sự, các văn bản pháp luật khác có liên quan quy định cụ thể về các trường hợp được sử dụng, hình thức văn bản, thẩm quyền bàn hành văn bản, thủ tục ban hành văn bản cũng như một số vấn đề khác liên quan như thời hạn, thời hiệu, trách nhiệm thi hành, đối tượng thi hành….

2. Đặc điểm của các loại văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự

a. Văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự được xác lập bằng ngôn ngữ viết.

Ngôn ngữ viết giúp chủ thể ban hành văn bản trình bày đầy đủ, mạch lạc ý chí của mình trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, giúp đối tượng phải thi hành văn bản nắm bắt được để thực hiện.

b. Văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định.

Hiện nay chủ thể có thẩm quyền ban hành các loại văn bản phát sinh trong hoạt động tố tụng hình sự do Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật tố tụng hình sự quy định. Ví dụ đối với các Lệnh tạm giam bị cáo do Chánh án hoặc phó Chánh án phụ trách lĩnh vực hình sự được quyền ra lệnh. Các quyết định tạm giam do Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm ban hành.

Chỉ những chủ thể do Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng hình sự quy định mới có quyền ban hành văn bản pháp luật. Nếu văn bản được ban hành bởi một cá nhân hay tổ chức mà pháp luật không quy định về thẩm quyền ban hành thì văn bản đó không có hiệu lực pháp luật.

Ví dụ: Thẩm phán ra Lệnh tạm giam bị cáo trong quá trình chuẩn bị xét xử. Thì Lệnh tạm giam này không có giá trị pháp lý.

c. Văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự có nội dung là ý chí của chủ thể ban hành nhằm đạt được mục tiêu giải quyết các vụ án hình sự.

Nội dung văn bản là ý chí của chủ thể ban hành. Ý chí đó được xác lập trên cơ sở của pháp luật tố tụng hình sự và nhận thức của từng chủ thể tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử về những tình tiết khách quan của từng vụ án cụ thể phù hợp với mục tiêu giải quyết vụ án.

d. Văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự có hình thức do pháp luật quy định.

Hình thức văn bản bao gồm hai yếu tố cấu thành là tên gọi và thể thức của văn bản.

Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành và các văn bản có liên quan quy định có nhiều loại văn bản khác nhau được ban hành trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử như lệnh, quyết định, kết luận điều tra, cáo trạng, bản án, công văn, thông báo… Những quy định đó có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt các văn bản khác trong trong cùng hoạt động, phân biệt văn bản trong hoạt động tố tụng hình sự với văn bản trong hoạt động tố tụng dân sự, hành chính, kinh tế cũng như xác định vai trò của từng loại văn bản trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.

Bên cạnh đó pháp luật còn quy định về thể thức văn bản, tức là quy định về cách thức trình bày văn bản theo một kết cấu, khuôn mẫu nhất định, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa hình thức với nội dung của văn bản, đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động của ba cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Toà án trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự.

e. Văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự được ban hành theo thủ tục do pháp luật quy định.

Thủ tục ban hành văn bản pháp luật trong tố tụng hình sự được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng hình sự: Như các thông tư liên tịch, nghị quyết của Hội đồng thẩm phán- Toà án nhân dân tối cao….

f. Văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự được Nhà nước đảm bảo thực hiện.

Để đảm bảo thực hiện được các văn bản trong hoạt động tố tụng hình sự, trên thực tế Nhà nước sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, tuyên truyền, giáo dục và cưỡng chế, trong đó biện pháp cưỡng chế được sử dụng là chủ yếu. Nếu các cá nhân, tổ chức có liên quan không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng các nội dung trong văn bản thì phải chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước.

Tóm lại, văn bản pháp luật được ban hành trong hoạt động tố tụng hình sự là hình thức thể hiện ý chí của chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản, dưới dạng ngôn ngữ viết, được ban hành theo hình thức, thủ tục do pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử người phạm tội.

Văn bản pháp luật được ban hành trong hoạt động tố tụng hình sự thường được thể hiện ở hai dạng là văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính, trong đó chủ yếu là văn bản áp dụng pháp luật.

3. Các yêu cầu đối với văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự

3.1. Yêu cầu về nội dung của văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự.

a. Nội dung trong văn bản phải phù hợp với đường lối của Đảng.

Văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự phải phản ánh kịp thời đường lối, chính sách của Đảng trong từng thời kỳ, từng lĩnh vực, kịp thời tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng cụ thể của các cơ quan Nhà nước.

b. Nội dung trong văn bản phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân lao động.

Nội dung phản ánh đầy đủ, kịp thời ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Thực chất đây chính là sự đảm bảo yếu tố phù hợp giữa nhu cầu của xã hội và chủ trương xây dựng pháp luật của Nhà nước. Hiệu quả tác động của các văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự phụ thuộc rất lớn vào nhận thức của các bên liên quan, vào việc Nhà nước có thể hiện và đáp ứng được những lợi ích của các giai tầng trong xã hội hay không. Vì vậy khi ban hành văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự cần cân nhắc, lựa chọn cách thức điều chỉnh để đảm bảo sự hài hoà giữa lợi ích của các nhóm đối tượng có liên quan, đảm bảo sự hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước, của toàn xã hội, của các nhóm xã hội khác nhau, của mỗi cá nhân hay tổ chức.

c. Nội dung phải hợp pháp

Khi soạn thảo văn bản cần đối chiếu các nội dung của văn bản đang soạn thảo với nội dung của những văn bản có liên quan để đánh giá về sự phù hợp và thống nhất về nội dung của chúng.

Sự phù hợp ở đây được thể hiện các mệnh lệnh được đưa ra phải phù hợp với các quy phạm pháp luật hiện hành về nội dung và mục đích điều chỉnh. Văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự là sự cụ thể hoá các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự và các quy phạm pháp luật hình sự vào từng vấn đề để giải quyết những vụ án cụ thể. Ví dụ: Bản án hình sự có nội dung hợp pháp khi các mệnh lệnh cá biệt trong bản án phù hợp với những quy phạm pháp luật của Bộ luật hình sự, bộ luật dân sự và những văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan tới vụ án được đưa ra xét xử.

Đối với văn bản hành chính thì các nội dung trong văn bản phải phù hợp với nội dung của của các văn bản áp dụng pháp luật có liên quan trực tiếp tới văn bản hành chính đó.

d. Nội dung phải có tính khả thi

Tính khả thi được thể hiện ở sự phù hợp giữa nội dung văn bản với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước trong giai đoạn văn bản đó được ban hành và được triển khai thực hiện. Nếu văn bản phản ánh chính xác, kịp thời những vấn đề đặt ra từ thực tiễn…

Tính khả thi còn thể hiện các quy định, mệnh lệnh trong văn bản được ban hành phải chi tiết, cụ thể để dễ dàng triển khai thực hiện trong thực tiễn, phù hợp với khả năng của các cơ quan có trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện văn bản và phù hợp với trình độ nhận thức của các đối tượng có liên quan.

Các thuật ngữ pháp lý được sử dụng chính xác, một nghĩa, cách diễn đạt, trình bày nội dung văn bản phải cô đọng, khoa học dễ hiểu, phù hợp với nhận thức của đông đảo nhân dân để tạo ra sự thuận lợi trong việc thực hiện văn bản pháp luật trên thực tế.

3.2. Yêu cầu về hình thức của văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự

Hình thức của văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự bao gồm tên gọi và thể thức của văn bản:

Tên gọi của văn bản: Do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Quy định này phản ánh giới hạn về quyền lực của chủ thể ban hành văn bản. Nghĩa là khi cơ quan tiến hnh tố tụng hình sự quyết định các vấn đề để giải quyết vụ án cụ thể thì chỉ có quyền ban hành văn bản cụ thể theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Ví dụ: Để thực hiện việc bắt bị cáo để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án thì Chánh án hoặc Phó chánh án ra Lệnh bắt và tạm giam bị cáo.

Việc soạn thảo các văn bản phát sinh trong hoạt động tố tụng hình sự, thì sử dụng hình thức văn bản nào không hoàn toàn lệ thuộc vào ý muốn chủ quan của người soạn thảo mà  tuỳ thuộc vào từng vấn đề  phát sinh trong vụ án cụ thể cần giải quyết.

Thể thức văn bản: là kết cấu về hình thức của văn bản theo quy định của pháp luật.

Thể thức của văn bản trước hết phải trình bày theo đúng hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 55/2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng chính phủ ngày 06/5/2005 hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản và Thông tư số 01/2011/TT-BNV của Bộ Nội vụ ngày 19/01/2011, thể thức của văn bản pháp luật bao gồm một số đề mục được trình bày ở những vị trí xác định. Do vậy người soạn thảo văn bản cần nắm vững được những quy định tại các thông tư này để soạn thảo văn bản được chính xác, khoa học.

3.3. Yêu cầu về ngôn ngữ của văn bản

Thứ nhất: Ngôn ngữ của văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự là ngôn ngữ viết.

Thứ hai: Ngôn ngữ văn bản pháp luật trong tố tụng hình sự là tiếng việt.

Thứ ba: Là ngôn ngữ được Nhà nước sử dụng chính thức.

3.4. Yêu cầu đối với hoạt động xây dựng văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự

Thứ nhất: Soạn thảo văn bản pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự phải đúng thẩm quyền.

Thẩm quyền về nội dung: Tức là xác định đúng về thẩm quyền giải quyết công việc phát sinh trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án được ban hành những loại văn bản gì trong hoạt động tố tụng của mình. Ví dụ cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo cho việc thi hành án  thì Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm có thẩm quyền ra quyết định tạm giam.

Thẩm quyền về hình thức: Là thẩm quyền của các chủ thể trong việc ban hành những hình thức văn bản nhất định phát sinh trong hoạt động tố tụng hình sự. Mỗi chủ thể có thẩm quyền chỉ được ban hành một số loại văn bản nhất định.

Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát, chánh án, phó chánh án, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán được quyền ban hành những loại văn bản nào cần được làm rõ. Bởi nếu xác định sai thẩm quyền về nội dung hay hình thức thì văn bản được ban hành đều không có giá trị pháp lý. Ví dụ: Để tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án trước khi mở phiên toà thì hình thức văn bản cần được ban hành là Lệnh tạm giam do Chánh án hoặc phó chánh án ban hành, nhưng tạm giam bị cáo sau khi xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm thì hình thức văn bản là quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm.

Vấn đề xác định đúng thẩm quyền khi ban hành văn bản phát sinh trong hoạt động tố tụng hình sự là một vấn đề hết sức phức tạp. Nếu văn bản được ban hành trái thẩm quyền thì sẽ không có hiệu lực pháp luật và sẽ bị cấp có thẩm quyền bãi bỏ.

Vì vậy để văn bản pháp luật phát sinh trong hoạt động tố tụng hình sự được ban hành đúng thẩm quyền thì người soạn thảo cần hết sức thận trọng, nghiên cứu kỹ pháp luật hiện hành để xác định chủ thể ban hành và hình thức văn bản cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

Thứ hai: Phải được tiến hành đúng thủ tục do pháp luật quy định và phải đúng chuyên môn, nghiệp vụ.

Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định và hướng dẫn khá rõ ràng cụ thể về hình thức của các loại văn bản.

Ví dụ: Điều 104 (quyết định khởi tố vụ án án hình sự); Điều 108 (quyết định không khởi tố vụ án hình sự); điều 224 (bản án), các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao còn ban hành các mẫu văn bản cụ thể để thống nhất áp dụng thực hiện trong toàn ngành.

Soạn thảo văn bản pháp luật: Khi soạn thảo cần xuất phát từ tính chất của mỗi vụ việc cụ thể để xác định phạm vi những vấn đề được đề cập và đối tượng tác động của văn bản.

Trong văn bản cần giải quyết tất cả các vấn đề có liên quan tới nội dung chính mà không được bỏ sót những nội dung phụ, trường hợp phức tạp không thể giải quyết cùng lúc và nếu được pháp luật cho phép thì cần nói rõ nội dung nào được tách ra để giải quyết sau. Ví dụ: Trong bản án hình sự, cần giải quyết cả vấn đề dân sự như bồi thường thiệt hại, xử lý tài sản bị tạm giữ, vấn đề cấp dưỡng, án phí… nhưng trong trường hợp pháp luật quy định thì có thể tách một phần dân sự liên quan đến vụ án để giải quyết trong vụ án khác (khi đó phải nói rõ trong bản án hình sự).

Thông qua văn bản pháp luật:

Việc thông qua văn bản pháp luật cũng được tiến hành theo những thủ tục do pháp luật quy định, có thể do cá nhân quyết định, cũng có thể do tập thể biểu quyết. Ví dụ, trước khi mở phiên toà, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Tại phiên toà thì Hội đồng xét xử thông qua quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Ban hành văn bản pháp luật:

Sau khi văn bản được ban hành thì gửi tới những cá nhân, tổ chức có liên quan để thực hiện. Việc giao nhận có thể gửi trực tiếp hoặc thông qua đường công văn tới từng đối tượng tiếp nhận tuỳ theo tính chất và yêu cầu của vụ việc cụ thể.

II. KỸ NĂNG SOẠN THẢO VĂN BẢN PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1. Soạn thảo một số đề mục chung, bắt buộc phải có trong tất các các loại văn bản

a. Quốc hiệu

Về nội dung phần Quốc hiệu được hợp thành bởi tên nước, chế độ chính trị và mục tiêu chính trị của Nhà nước ta. Phần này được trình bày ở bên phải, phía trên cùng của văn bản gồm hai dòng; dòng trên viết chữ in hoa; dòng dưới viết chữ thường có các gạch nối ở giữa các từ. Phía dưới cùng có đường gạch ngang, nét liền kéo dài đến hết dòng chữ:

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

b. Tên cơ quan ban hành văn bản

Trình bày ngang hàng với quốc hiệu, về phía trái văn bản

Vì các cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự có vị trí tương đối  độc lập với cơ quan cấp trên trực tiếp nên chỉ ghi tên cơ quan ban hành văn bản mà không phải ghi cơ quan cấp trên (dòng trên) và cơ quan ban hành văn bản (dòng dưới).

Ví dụ: đối với bản án do Toà án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ban hành thì chỉ cần ghi:

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH

Mà không cần ghi:

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH

c. Số, kí hiệu của văn bản

Số, ký hiệu của văn bản được đặt dưới tên cơ quan ban hành văn bản.

Số của văn bản là số thứ tự được ghi liên tục theo dãy số tự nhiên, bắt đầu từ số 01 tính từ ngày 01 tháng 01 hàng năm và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 của năm.

Hiện nay thường sử dụng hai cách đánh số văn bản sau:

Cách thứ nhất: Đánh số chung cho tất cả các loại văn bản, ví dụ các công văn, thông báo, quyết định, lệnh… đều sử dụng một số thứ tự chung, thống nhất.

Cách thứ hai: Đánh số cho từng loại văn bản. Cách này được sử dụng chung và phổ biến trong hoạt động tố tụng hình sự. Bởi lẽ, trong một năm công tác, số lượng văn bản mà cơ quan tiến hành tố tụng ban hành là rất lớn, bao gồm nhiều loại văn bản khác nhau như lệnh, quyết định, thông báo, bản án. Trong số các lệnh lại có lệnh bắt và tạm giam, lệnh tạm giữ, lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, hay các bản án thì có bản án hình sự sơ thẩm, bản án hình sự phúc thẩm, các quyết định có quyết định tạm giam, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung…. Vì vậy, việc đánh số thứ tự theo từng loại văn bản, tương ứng với từng loại việc cụ thể được áp dụng phổ biến và tiện dụng hơn cả.

Ví dụ: Trong hoạt động tố tụng của Toà án. Việc đánh số văn bản Lệnh tạm giam, lệnh trích xuất; số quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định trả tự do cho bị cáo, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung được theo dõi riêng theo từng loại sổ….

Đối với văn bản áp dụng pháp luật trong tố tụng hình sự thì sau phần số của văn bản là năm ban hành văn bản. Năm ban hành văn bản được ghi đầy đủ cả bốn chữ số và phân cách với các phần khác bởi dấu gạch chéo.

Ví dụ: Số     /2013/…

Đối với văn bản hành chính thì sau phần số của văn bản không ghi năm ban hành văn bản mà sau phần số của văn bản là ký hiệu của văn bản. Phần số của văn bản được phân cách với phần ký hiệu của văn bản bởi dấu gạch chéo. Ví dụ: Số   /TB- TA.

Kí hiệu của văn bản được trình bày sau phần năm ban hành văn bản (Đối với văn bản áp dụng pháp luật) và sau phần số (Đối với văn bản hành chính).

Thông thường đối với văn bản áp dụng pháp luật thì ký hiệu của văn bản là chữ viết tắt tên của cấp xử lý công việc và chữ viết tắt của tên loại việc mà văn bản giải quyết, chữ viết tắt của ký hiệu văn bản được phân định với nhau bởi dấu gạch ngang. Ví dụ: Số 15/2013/HSST- QĐ (Số 15/2013/ hình sự sơ thẩm/ quyết định).

Đối với văn bản hành chính, ký hiệu của văn bản bao gồm chữ viết tắt tên cơ quan ban hành văn bản và chữ viết tắt của tên đơn vị soạn thảo văn bản. Ví dụ công văn, hoặc thông báo của Toà án do Toà hình sự soạn thảo: Số:…../TA-THS

Chữ viết tắt tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản và chữ viết tắt của tên đơn vị soạn thảo văn bản phải được quy định cụ thể, đảm bảo ngắn gọn, dễ hiểu.

d. Địa danh và thời gian ban hành văn bản

Địa danh ghi trên văn bản của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp trung ương là tên của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc tên của thành phố thuộc tỉnh (nếu có) nơi cơ quan, tổ chức đóng trụ sở;

Địa danh ghi trên văn bản của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự cấp tỉnh là tên của thành phố trực thuộc trung ương hoặc là tên thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc của huyện nơi cơ quan, tổ chức đóng trụ sở.

Địa danh ghi trên văn bản của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự cấp huyện là tên của huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Trong trường hợp tên tỉnh khác với tên tỉnh lị, tên huyện khác với tên huyện lị thì trong văn bản pháp luật của các cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện ghi tên tỉnh lị hoặc huyện lị để tránh sự trùng lặp giữa các để mục trong hình thức văn bản.

Ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam có tỉnh lị là thành phố Phủ Lý thì trong Quyết định tạm giam của Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam ghi là: Phủ Lý, ngày…. tháng… năm…..

Địa danh được đặt dưới Quốc hiệu, về bên phải của văn bản.

Ví dụ:      CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

                 Phủ Lý, ngày….tháng….năm……

Thời gian ban hành văn bản: được ghi đầy đủ theo thứ tự ngày, tháng năm bằng số ả rập. Để đảm bảo sự chặt chẽ, chính xác những số chỉ ngày dưới 10, chỉ tháng dưới 3 phải viết số 0 ở trước. Ví dụ: Bắc Ninh, ngày 01 tháng 02 năm 2013.

Hiện nay do chưa có các quy định cụ thể nên việc xác định thời gian của văn bản chưa thống nhất và chưa rõ ràng. Trong khi đó, thời điểm ban hành văn bản pháp luật có ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong việc xác định thời điểm có hiệu lực của văn bản, xác định việc phát sinh hoặc chấm dứt các quan hệ pháp lý, các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các đối tượng có liên quan.

Tuy nhiên, cũng cần phân biệt ngày, tháng, năm văn bản pháp luật được ban hành với ngày mà nó có hiệu lực.

Thông thường đối với những văn bản áp dụng pháp luật thì ngày tháng năm văn bản được ban hành là ngày có hiệu lực của văn bản. Ví dụ: Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định. Nhưng đôi khi ngày tháng năm ban hành văn bản không phải là ngày có hiệu lực của văn bản, đó là những trường hợp nội dung của văn bản liên quan trực tiếp tới vấn đề thời hạn, thời hiệu do pháp luật quy định, như thời hạn tạm giam, tạm giữ. Ví dụ: Trong Lệnh tam giam ban hành vào ngày 06/5/2013, nhưng hiệu lực của Lệnh tạm giam bắt đầu từ ngày 10/5/2013.

e. Tên gọi của văn bản pháp luật

Các văn bản pháp luật đều có tên gọi riêng. Thông thường tên gọi của văn bản pháp luật được trình bày bằng kiểu chữ in hoa, khổ lớn và đậm; được trình bày ở vị trí giữa văn bản, phía dưới quốc hiệu và tên cơ quan ban hành văn bản.

Tên gọi của văn bản là tên loại văn bản, ví dụ như Lệnh tạm giam, quyết định tạm giam, kết luận điều tra, cáo trạng, quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn… Tuy nhiên, cần lưu ý đối với Công văn và bản án khi trình bày thì không ghi tên văn bản.

Tên gọi của văn bản được xác lập bằng ba cách:

Một là ghép tên văn bản với từng loại chủ đề văn bản;

Hai là dùng tên loại văn bản làm tên của dự thảo, sử dụng trích yếu xác định chủ đề văn bản;

Ba là sử dụng tên loại văn bản chung cho mọi văn bản áp dụng pháp luật cụ thể.

Khi lựa chọn cách thức trình bày tên gọi và trích yếu của văn bản áp dụng pháp luật cần lưu ý tới nét đặc thù của một số loại văn bản đã mang tính phổ biến và ổn định trong hoạt động thực tiễn. Ví dụ: Bản án, cáo trạng, bản kết luận điều tra chỉ có tên gọi mà không có trích yếu.

Các Lệnh và Quyết định thường được ghép với tên chủ đề. Ví dụ: Lệnh truy nã, Lệnh tạm giam, quyết định tạm giam, quyết định trả tự do, quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn…

f. Trích yếu của văn bản

Trích yếu là phần ghi tóm tắt một cách chính xác nội dung của văn bản. Phần trích yếu được trình bày phía dưới tên gọi của văn bản, trừ công văn là văn bản không có tên gọi nên trích yếu được trình bày dưới phần số và ký hiệu của văn bản. Tên gọi và trích yếu của văn bản hợp thành một thể thống nhất, xác định chủ đề của văn bản. Trích yếu thường được trình bày ngắn gọn, rõ ràng trong một câu. Trích yếu giúp người soạn thảo văn bản xác định đúng trọng tâm của nội dung văn bản. Đối với người tiếp nhận văn bản, trích yếu có tác dụng giúp cho việc vào sổ, tra tìm văn bản được thuận lợi. Ngoài ra cùng với các đề mục khác trong thể thức văn bản như số, ký hiệu văn bản, tên cơ quan ban hành văn bản, thời gian ban hành văn bản…, trích yếu có tác dụng cá biệt hoá văn bản, giúp cho việc phân biệt văn bản này với văn bản khác.

Cũng cần lưu ý không phải các văn bản pháp luật phát sinh trong hoạt động tố tụng hình sự đều phải có trích yếu, mà tuỳ từng loại văn bản để xác định có trích yếu hay không. Ví dụ bản án hình sự không có trích yếu, hiện nay vẫn có một số Toà án địa phương ghi trích yếu bản án dưới phần số và ký hiệu của bản án là không chuẩn xác.

Ví dụ:         TOÀ ÁN DÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG

                                   Bản án số:      /2013/HSST

               Vụ Nguyễn Văn Hoàng phạm tội Trộm cắp tài sản

Công văn luôn có phần trích yếu. Đa phần các thông báo của cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự cũng có phần trích yếu. Ví dụ: Thông báo về việc tiếp tục giải quyết vụ án. Thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị…

g. Xác lập cơ sở của văn bản

Xác lập cơ sở pháp lý của văn bản:

Cơ sở pháp lý của văn bản là Bộ luật tố tụng hình sự. Trong một số trường hợp ngoài việc viện dẫn các điều khoản của Bộ luật tố tụng hình sự cần phải viện dẫn những văn bản đã ban hành trước đó để minh chứng cho sự đúng đắn về thủ tục giải quyết công việc phát sinh. Ví dụ: Quyết định khởi tố bị can chỉ được ban hành sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, vì vậy khi ban hành quyết định khởi tố bị can phải căn cứ vào quyết định khởi tố vụ án. Hay trong cáo trạng của Viện kiểm sát, phải căn cứ vào hàng loạt các quyết định ban hành trước đó, như quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, quyết định chuyển vụ án, quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can…

Trong trường hợp chỉ có một điều luât hoặc một văn bản áp dụng pháp luật là cơ sở pháp lý của dự thảo thì vấn đề lựa chọn không được đặt ra. Tuy nhiên, khi cùng lúc có nhiều điều luật liên quan đến dự thảo thì nên lựa chọn những điều luật thực sự có ý nghĩa đối với dự thảo.

Nếu liên quan tới dự thảo là những điều luật có cùng hiệu lực pháp luật và cùng có quy định về vấn đề liên quan tới dự thảo (có điều luật quy định gián tiếp, có điều luật quy định trực tiếp) thì lựa chọn văn bản quy định trực tiếp về vấn đề được để cập trong dự thảo.

Nếu có nhiều điều luật quy độc lập với nhau và đều liên quan tới nội dung cần được minh chứng về sự đúng đắn thì cần viện dẫn tất cả các điều luật.

Nếu đó là những văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp luật khác nhau, trong đó văn bản có hiệu lực thấp giữ vai trò giải thích, hướng dẫn thi hành đối với văn bản có hiệu lực cao hơn thì chỉ viện dẫn văn bản được giải thích mà không viện dẫn văn bản giải thích như: Trong bản án chỉ viện dẫn Bộ luật hình sự mà không viện dẫn Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán.

Cơ sở pháp lý vủa văn bản pháp luật chỉ là văn bản đang có hiệu lực pháp luật vào thời điểm văn bản đó được ban hành.

Xác lập cơ sở thực tiễn của văn bản:

Thông thường cơ sở thực tiễn của văn bản được bắt đầu bằng các từ như “xét”, “để” và được thể hiện bằng các câu do người soạn thảo lựa chọn mà không theo mẫu câu cố định.

Ví dụ: trong quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung, thường có các câu như: Xét thấy cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng khác cho việc giải quyết vụ án mà không thể bổ sung tại phiên toà được; Xét thấy trong vụ án còn có người đồng phạm khác…

h. Phần ký trong văn bản

Các văn bản trong hoạt động tố tụng hình sự do người có thẩm quyền ký. Phần ký được trình bày ở góc phải, cuối văn bản. Chức vụ của người ký phải được ghi trước chữ ký và được trình bày theo các thể thức nhất định, phù hợp với thủ tục thông qua và thẩm quyền của người ký văn bản.

Theo quy định của pháp luật, thể thức ký có thể là TM (thay mặt), KT (ký thay), TL (thừa lệnh), TUQ (thừa uỷ quyền), Q (quyền).

Thể thức thay mặt được sử dụng khi văn bản pháp luật được thông qua theo nguyên tắc biểu quyết tập thể và quyết định theo đa số. Khi đó, người ký chỉ xác nhận việc văn bản pháp luật đã được thông quan theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

Ví dụ: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nếu là văn bản do cá nhân điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán được quyền ban hành thì thể thức ký chỉ ghi chức vụ của người ký mà không ghi thay mặt.

Ví dụ: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

                              THẨM PHÁN

Đối với văn bản do cấp phó ký khi được cấp trưởng uỷ quyền thì phải ghi KT trước chức vụ của cấp trưởng.

Ví dụ: KT. CHÁNH ÁN

          PHÓ CHÁNH ÁN

Trong một số trường hợp, thủ trưởng cơ quan có thể uỷ quyền cho một người khác là cấp dưới ký văn bản về một số việc nhất định. Trường hợp này có hai cách ký:

Cách thứ nhất: Uỷ quyền cho một người giữ chức vụ hành chính là cấp dưới trực tiếp trong thời gian không hạn chế (uỷ quyền thường xuyên) thì khi người được uỷ quyền ký phải ghi TL và chức vụ của người được uỷ quyền.

Cách thứ hai: Uỷ quyền cho người giữ chức vụ Nhà nước với sự hạn chế về thời gian hoặc nội dung công việc được uỷ quyền. Trong trường hợp này, người được uỷ quyền không được uỷ quyền lại. Khi ký, người được uỷ quyền phải ghi TUQ và chức vụ của người được uỷ quyền.

Ví dụ:

Trường hợp người đứng đầu cơ quan được bổ nhiệm là quyền cấp trưởng thì khi ký cần ghi là Quyền trưởng, ví dụ: Quyền Chánh án.

Người có thẩm quyền phải ký trực tiếp, không được ký bằng bút chì, bút mực màu đỏ hoặc bằng các vật liệu dễ phai mờ, phải viết rõ họ tên người ký bằng chữ thường, cách chức vụ của người ký 30 mm.

Thông thường các văn bản phát sinh trong hoạt động tố tụng hình sự chỉ có một chữ ký, nhưng cũng có trường hợp văn bản có nhiều chữ ký như: Bản án, biên bản nghị án.

i. Dấu trong văn bản pháp luật

Sau khi văn bản pháp luật đã được người có thẩm quyền ký đúng thể thức, văn bản phải được đóng dấu. Dấu phải được đóng đúng chiều, rõ ràng và trùm lên từ ¼ đến 1/3 về bên trái chữ ký. Không được đóng dấu khi chưa có chữ ký. Chữ ký và dấu có vai trò đảm bảo tính hợp pháp của văn bản pháp luật.

k. Nơi nhận

Phần nơi nhận được trình bày ở góc trái, cuối văn bản, ngang phần chữ ký.

Để trình bày phần này, người ký phải căn cứ vào yêu cầu cụ thể của từng việc và theo đúng những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, quan hệ công tác mà quyết định việc gửi văn bản. Thông thường, văn bản được gửi tới các cơ quan, tổ chức có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan ban hành văn bản; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tới việc thực hiện văn bản, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thi hành văn bản và bộ phận có trách nhiệm lưu văn bản.

2. Soạn thảo nội dung của văn bản

Xác lập đối tượng tác động của văn bản. Thông thường đối với những văn bản phát sinh trong hoạt động tố tụng hình sự, thì đối tượng tác động của văn bản là cá nhân. Để cá biệt hóa những dấu hiệu nhân thân của cá nhân, trước hết ghi họ tên theo chứng minh thư nhân dân hoặc các giấy tờ có trị pháp lý khác. Trường hợp một người có nhiều tên khác nhau (tên khai sinh, tên thường gọi, biệt danh) thì trong văn bản sử dụng tên chính thức còn các tên khác có thể coi như những dấu hiệu có tác dụng cá biệt hóa đối tượng tác động của văn bản.

Thông thường để cá biệt hóa đối tượng tác động của văn bản có thể sử dụng một số dấu hiệu nhân thân như họ và tên, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, chức vụ và nơi công tác. Trong bản kết luận điều tra, cáo trạng hay bản án còn thể hiện một số dấu hiệu nhân thân như giới tính, dân tộc, quốc tịch, trình độ văn hóa, cha mẹ, vợ con của bị can, bị cáo, tiền án, tiền sự… của đối tượng tác động để cá biệt hóa đối tượng đồng thời để góp phần tạo nên sự đánh giá đúng đắn, toàn diện về những vấn đề có liên quan tới đối tượng, giúp cho việc giải quyết công việc được đúng đắn, tránh được sự phiến diện, lệch lạc.

Xác lập các mệnh lệnh cụ thể trong văn bản. Trên cơ sở của pháp luật hiện hành, người soạn thảo cần đưa ra những phán quyết phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể để áp dụng đối với từng đối tượng tác động. Tuy nhiên, ngoài việc căn cứ vào pháp luật, người soạn thảo còn phải xem xét những sự kiện pháp lý phát sinh trên thực tiễn để xác định việc có ban hành văn bản hay không và nội dung của văn bản được ban hành. Chỉ khi nào đã có sự kiện pháp lý liên quan, trực tiếp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của đối tượng tác động thì mới ban hành văn bản để áp dụng pháp luật với đối tượng đó.

Việc xác lập hành vi; xác lập các phán quyết về hành vi; xác lập cách thức thực hiện mệnh lệnh cá biệt thì tùy theo từng văn bản mà lựa chọn các thức xác lập phù hợp đảm bảo tính khoa học, lô gic, chính xác.

Xác lập hiệu lực pháp luật theo thời gian của văn bản.

Thời điểm bắt đầu hoặc kết thúc hiệu lực của văn bản được xác lập theo hướng xác định rõ ngày, tháng, năm cụ thể hoặc gắn với mốc là hoạt động ký hay giao nhận văn bản.

Thời điểm bắt đầu có hiệu lực của văn bản thường được bố trí ở điều cuối cùng của văn bản.

Đối với những văn bản mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định có hiệu lực thi hành ngay như bản án phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì người soạn thảo không được quy định thời điểm bắt đầu có hiệu lực của văn bản áp dụng pháp luật theo hướng khác.

Trong trường hợp pháp luật không quy định hoặc quy định tuỳ nghi về thời điểm có hiệu lực của văn bản thì người soạn thảo sẽ căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để quyết định vấn đề này theo hướng khác nhau: Có hiệu lực ngay, hay có hiệu lực vào thời điểm sau khi ban hành.

Quy định về thời điểm kết thúc hiệu lực của văn bản:

Thông thường quy định về thời điểm kết thúc hiệu lực của văn bản không được xác lập trong văn bản nhưng nếu cần thiết thì người soạn thảo có thể quy định về thời điểm kết thúc hiệu lực của những nội dung cụ thể trong văn bản.

Cũng như vậy, quy định về việc làm mất hiệu lực của văn bản khác cũng ít khi được sử dụng khi ban hành văn bản pháp luật phát sinh trong hoạt động tố tụng hình sự.

Xác lập nghĩa vụ tổ chức thực hiện văn bản:

Việc xác định những cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện văn bản thường được viết bằng một câu, đặt ở điều khoản cuối của văn bản (Có thể bố trí cùng, đặt trước hoặc đặt sau nội dung quy định về thời điểm bắt đầu có hiệu lực của văn bản). Ví dụ trong Lệnh tạm giam của Toà án, điều khoản cuối cùng thường có câu: Trại tạm giam công an tỉnh X có trách nhiệm thi hành lệnh này.

1. Một số loại văn bản pháp luật đuợc ban hành trong hoạt động tố tụng hình sự

Lệnh: Lệnh tạm giữ, lệnh tạm giam, lệnh bắt và tạm giam, lệnh truy nã…

Quyết định: Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; Quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn…

Bản án: Được Toà án nhân dân cấp sơ thẩm và phúc thẩm ban hành để đưa ra những phán quyết về một vụ án hình sự cụ thể.

Yêu cầu: Được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án ban hành trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự để buộc các đối tượng có liên quan thực hiện những hành vi cần thiết cho quá trình giải quyết vụ án.

Ví dụ: Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân có quyền yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi điều tra viên; Toà án nhân dân cấp tỉnh có quyền yêu cầu Toà án nhân dân cấp huyện chuyển hồ sơ vụ án đã có hiệu lực pháp luật để xem xét, quyết định việc kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm.

Thông báo: Thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị; Thông báo chuyển ngày xét xử…..

2. Một số mẫu văn bản thường được sử dụng trong hoạt động tố tụng của Toà án

   Các mẫu văn bản tố tụng này được ban hành kèm theo nghị quyết số 03 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, gồm:

2.1. Các mẫu văn bản tố tụng dùng cho Tòa án cấp sơ thẩm:

a) Lệnh tạm giam (Mẫu số 01a: dùng cho Chánh án, Phó Chánh án Tòa án để áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam).

b) Lệnh tạm giam (Mẫu số 01b: dùng cho Chánh án, Phó Chánh án Tòa án để áp dụng biện pháp tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm đối với bị cáo đang bị tạm giam).

c) Lệnh bắt và tạm giam (Mẫu số 01c: dùng cho Chánh án, Phó Chánh án Tòa án để áp dụng biện pháp bắt và tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với bị can, bị cáo đang được tại ngoại).

d) Quyết định tạm giam (Mẫu số 01d: dùng cho Hội đồng xét xử sơ thẩm để áp dụng biện pháp tạm giam khi kết thúc phiên tòa đối với bị cáo dang bị tạm giam).

đ) Quyết định bắt và tạm giam (Mẫu số 01đ: dùng cho Hội đồng xét xử sơ thẩm để áp dụng biện pháp tạm giam khi kết thúc phiên tòa đối với bị cáo đang được tại ngoại).

2.2. Các mẫu văn bản tố tụng dùng cho Tòa án cấp phúc thẩm:

a) Lệnh tạm giam (Mẫu số 02a: dùng cho Chánh án, Phó Chánh án Tòa án hoặc Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao để áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đối với bị cáo đang bị tạm giam).

b) Lệnh tạm giam (Mẫu số 02b: dùng cho Chánh án, Phó Chánh án Tòa án hoặc Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao để áp dụng biện pháp tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa đối với bị cáo đang bị tạm giam)...

c) Lệnh bắt và tạm giam (Mẫu số 02c: dùng cho Chánh án, Phó Chánh án Tòa án hoặc Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao để áp dụng biện pháp bắt và tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đối với bị cáo đang được tại ngoại).

d) Quyết định tạm giam (Mẫu số 02d: dùng cho Hội đồng xét xử phúc thẩm để áp dụng biện pháp tạm giam khi kết thúc phiên tòa đối với bị cáo đang bị tạm giam).

đ) Quyết định bắt và tạm giam (Mẫu số 02đ: dùng cho Hội đồng xét xử phúc thẩm để áp dụng biện pháp tạm giam khi kết thúc phiên tòa đối với bị cáo đang được tại ngoại).

2.3. Các mẫu văn bản tố tụng dùng chung cho Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm:

a) Giấy chứng nhận người bào chữa (Mẫu số 03a).

b) Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận người bào chữa (Mẫu số 03b).


BÀI 6:

KỸ NĂNG SOẠN THẢO BẢN ÁN HÌNH SỰ

 

I. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA BẢN ÁN HÌNH SỰ

Hoạt động tố tụng hình sự được nhiều cơ quan thực hiện, trong đó hoạt động xét xử của Tòa án giữ vai trò đặc biệt quan trọng bởi nó quyết định đến sinh mệnh chính trị, quyền con người cũng như lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Trong trường hợp đặc biệt, nó còn quyết định đến quyền được sống của con người. Trong đó, Bản án hình sự là một văn bản tố tụng hình sự ghi nhận các kết luận và quyết định của Hội đồng xét xử, cao hơn nữa đó là sự đánh giá của Nhà nước đối với một hành vi, một con người cụ thể khi hành vi đó, con người đó, bị truy tố trước Tòa án. Bản án hình sự đánh dấu sự kết thúc của quá trình điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, do vậy bản án phải phản ánh trung thực diễn biến của vụ án và phải xác định rõ sự thật khách quan, đó là:

Có sự việc phạm tội xảy ra không? Thời gian, địa điểm phạm tội. Ai là người đã thực hiện các hành vi phạm tội và hành vi đó có cấu thành tội phạm không? Nếu là tội phạm thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự? Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội, động cơ, mục đích, hoàn cảnh, điều kiện của tội phạm đó…

Căn cứ vào các kết luận, các phân tích, đánh giá nêu trên thông qua cuộc thẩm vấn công khai tại phiên tòa, kết quả tranh luận giữa người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát, giữa bị cáo và những người tham gia khác tại phiên tòa với bản Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, để Hội đồng xét xử Quyết định hình phạt cho tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội. Nếu không có tội thì Hội đồng xét xử phải xác định những căn cứ để tuyên bố bị cáo không phạm tội và giải quyết việc phục hồi danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.

Bản án hình sự là một loại văn bản tố tụng hình sự khi được ban hành và có hiệu lực pháp luật thì những quyết định trong bản án sẽ đưa đến các hậu quả pháp lý rất lớn và rất quan trọng mang tính Hiến định thể hiện tại Điều 72 Hiến pháp năm 1992 là “Một người chỉ được coi là có tội và phải chịu hình phạt khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

Bộ luật tố tụng hình sự cũng đã quy định “Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án” (Nguyên tắc suy đoán vô tội) - Điều 9 BLHS năm 2003.

Điều 136 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Các bản án, quyết định của tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi người dân tôn trọng, những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành".

Do đó, bản án hình sự có hiệu lực pháp luật là sự thể hiện quyền lực của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Hoạt động xét xử, mà kết quả là việc Hội đồng xét xử ra bản án để xác định một người có tội hay không có tội, phải chịu hình phạt hay không phải chịu hình phạt có ý nghĩa chính trị, xã hội rất sâu sắc và trước hết trực tiếp ảnh hưởng tới người bị đưa ra xét xử. Bản án hình sự tuyên đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không chỉ có ý nghĩa về mặt đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm minh mà còn mang tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm trong xã hội, đồng thời tạo ra niềm tin của nhân dân vào công lý. Với ý nghĩa pháp lý nêu trên, bản án hình sự cần phải có nội dung mang tính khoa học pháp lý, văn phong chuẩn xác, thống nhất theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

II. VIỆC SOẠN THẢO BẢN ÁN HÌNH SỰ CỦA THẨM PHÁN KHI CHƯA CÓ HƯỚNG DẪN CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN VÀ VIỆC VẬN DỤNG CUỐN SỔ TAY VIẾT BẢN ÁN

2.1. Đánh giá việc soạn thảo bản án hình sự của Thẩm phán thời kỳ trước năm 2004

Mặc dù bản án hình sự có ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, nhưng có thể thấy rằng, trong một thời gian dài khi chưa có Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và cuốn sổ tay viết bản án xuất bản năm 2009 thì cách viết bản án hình sự của các Thẩm phán còn mang tính tùy tiện, cấu trúc, hình thức thể hiện bản án mỗi nơi một khác. Nhiều Thẩm phán chủ tọa phiên tòa viết theo thói quen, không tuân thủ quy định ban hành mà tự mình còn “sáng tác” theo ý riêng của mình như có bản án ghi: “Hôm nay, ngày... tháng... năm... tại trụ sở tòa án... xét xử công khai về hình sự với bị cáo...”. Có bản án lại ghi rằng: “họp phiên tòa công khai ngày...” hay “mở phiên tòa công khai ngày...”. Còn một cách khác là: “Tiến hành xét xử sơ thẩm công khai ngày...”.

Trong phần lý lịch bị cáo, đa số các bản án đều viết nghề nghiệp trước, rồi trình độ văn hóa. Nhưng có trường hợp lại trình bày ngược lại. Về phần tên bố mẹ bị cáo, tại các bản án cũng đa dạng về cách thể hiện. Chẳng hạn như viết: “bố là...”; “mẹ là...”; hay “con ông...”; “con bà...”; hoặc “bố...; mẹ...”... Đa phần các  bản án lại không phản ánh đầy đủ diễn biến quá trình xét xử mà trong phần nhận thấy, các Thẩm phán thường có thói quen viết lại toàn bộ nội dung của bản Cáo trạng, còn diễn biến phiên tòa chỉ nói chung chung rằng tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không nêu người bị hại khai thế nào, Viện kiểm sát đề nghị xử lý vụ án ra sao, dẫn đến bản án khi tuyên đọc không có kết cấu chặt chẽ, không có sự logic giữa các phần trong bản án hình sự, thường có sự mâu thuẫn giữa phần xét thấy với phần nhận thấy hoặc mâu thuẫn giữa phần xét thấy với phần quyết định như: Khi đánh giá vai trò của các bị cáo hoặc đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm song phần quyết định lại cho hưởng án treo hoặc bị cáo có vai trò thấp lại có mức án cao hơn bị cáo có vai trò chính… Để xảy ra tình trạng không thống nhất về hình thức bản án như trên là do 2 nguyên nhân.

Trước hết, trách nhiệm thuộc về Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa - người được giao viết bản án. Các thẩm phán viết theo thói quen, tùy tiện, ngẫu hứng không theo hướng dẫn. Họ chưa nhận thức đầy đủ được trách nhiệm, cũng như tầm quan trọng của việc ra bản án nhân danh nhà nước. Nguyên nhân thứ hai là do quá lâu không có hướng dẫn mới về cách viết bản án của các cấp có thẩm quyền. Trước năm 1985, TAND tối cao ra hướng dẫn cách viết bản án hình sự và đã có mẫu bản án. Nhưng gần 20 năm qua vẫn chưa có hướng dẫn bổ sung để phù hợp với tình hình hiện tại. Hơn nữa, quy định nội dung bản án tại Bộ luật Tố tụng hình sự 1988 trước đây và tại Điều 224 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành lại quá ngắn gọn, đơn giản.

Những hạn chế trên, chỉ được khắc phục khi có Nghị quyết số 04/2004 và cuốn sổ tay viết bản án do Tòa án nhân dân tối cao tổ chức biên soạn với sự giúp đỡ của Chính phủ Nhật Bản trong khuôn khổ Dự án hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp của Jica. Có thể khẳng định từ năm 2009 đến nay, qua nghiên cứu, khảo sát các Thẩm phán trong toàn quốc nói chung đã chú trọng hơn đến việc nâng cao chất lượng viết bản án từ bố cục đến nội dung trình bày. Các lỗi ngữ pháp, lỗi chính tả đều được khắc phục, hạn chế, đúng văn phạm pháp lý.

Đa phần các bản án đã đáp ứng được cả về nội dung và hình thức của một bản án hình sự như:

– Về nội dung: Bản án đã giải quyết đầy đủ, toàn diện các vấn đề của vụ án trên cơ sở của Luật nội dung và Luật tố tụng. Các quyết định của bản án khi viện dẫn đa phần đều chính xác điểm, khoản, Điều của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự.

– Về mặt hình thức: Văn phong trong bản án đều trong sáng, rõ ràng, đúng chính tả. Bản án thể hiện được không gian, thời gian, địa điểm xét xử, tên Tòa án xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng khác như Viện kiểm sát, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng. Việc phân tích, đánh giá trong các phần của bản án đảm bảo tính thống nhất, không mâu thuẫn, có kết cấu chặt chẽ.

Việc phân tích, chứng minh, kết luận của bản án đã tuân thủ yêu cầu là phải dựa trên các chứng cứ mà các chứng cứ này đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử không áp đặt ý kiến chủ quan hoặc sử dụng những chứng cứ chưa được thẩm tra tại phiên tòa, các kết luận của bản án đã phần phù hợp với sự thật khách quan của vụ án. Các Bản án đã xác định đúng sự việc phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự… từ đó áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự.

 Khi kết luận bị cáo phạm tội, Hội đồng xét xử đã viện dẫn các căn cứ buộc tội bị cáo, dựa vào các căn cứ đó để Hội đồng xét xử áp dụng xử phạt bị cáo với những mức hình phạt tương ứng. Ngược lại, nếu tuyên bố bị cáo không phạm tội, thì các bản án cũng đã  đưa ra các chứng cứ, các căn cứ để không chấp nhận việc truy tố của Viện kiểm sát.

Đây chính là những tác động tích cực mà sổ tay viết bản án và các hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã giúp cho các Thẩm phán khi ban hành các bản án nói chung và bản án hình sự nói riêng.

2.2. Thực tiễn hoạt động của Thẩm phán khi viết bản án hình sự

Mặc dù đa phần các Thẩm phán đều nghiên cứu và vận dụng đầy đủ và đúng các hướng dẫn của Nghị quyết số 04/2004 và cuốn sổ tay viết bản án. Song qua nghiên cứu và khảo sát, chúng tôi vẫn thấy các Thẩm phán khi viết bản án vẫn còn nhiều vấn đề chưa thống nhất trong cách trình bày cả về hình thức và nội dung như:

Về phần mở đầu của Bản án vẫn có sự không thống nhất về phần lý lịch của bị cáo như phân tích ở phần trên, ngoài ra vẫn còn có Thẩm phán chưa áp dụng đúng như hướng dẫn của cuốn sổ tay dẫn đến có mâu thuẫn trong việc ghi nhân thân của bị cáo. Như hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2004 có hướng dẫn:

 “…Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xóa án…”. Song hiện nay, thực tế áp dụng cũng có những quan điểm khác nhau về vấn đề này. Có quan điểm cho rằng, trong trường hợp tiền sự đó đã hết thời hạn bị coi là bị xử lý hành chính hoặc đã thuộc trường hợp đương nhiên xóa án thì phần tiền án, tiền sự sẽ ghi là không. Có quan điểm lại cho rằng mặc dù đã hết thời hạn bị coi là xử lý hành chính hoặc đã được xóa án tích thì không ghi là tiền án hay tiền sự nhưng vẫn phải ghi trong phần đầu Bản án là “về nhân thân” và liệt kê những lần họ bị xử lý hành chính hay bị kết án trước đó. Vấn đề này hiện nay không được thống nhất đề nghị Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn chỉ đạo để các Thẩm phán trình bày một cách thống nhất khi soạn thảo bản án hình sự.

Trong phần nhận thấy của Bản án, cũng có nhiều cách trình bày khác nhau. Có Thẩm phán trình bày tóm tắt nội dung của bản Cáo trạng, có Thẩm phán vẫn đưa nguyên văn nội dung của bản Cáo trạng vào trong phần nhận thấy, thậm chí ghi cả những hành vi mà bản Cáo trạng có mô tả, song không truy tố, hoặc những vấn đề xử lý vật chứng, của Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra và truy tố cũng ghi cả vào trong phần nhận thấy, dẫn đến trong phần xét thấy, khi đánh giá về vấn đề xử lý các vật chứng của vụ án, các Thẩm phán lại nêu lại làm Bản án rất dài và thừa. Về diễn biến phiên tòa, có Thẩm phán ghi tóm tắt lời khai của bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa, có Thẩm phán lại không ghi mà chỉ ghi “Tại phiên tòa hôm nay bị cáo (các bị cáo) nhận tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết”. Có Thẩm phán ghi ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, có Thẩm phán không ghi ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên. Đặc biệt ý kiến của người bào chữa, bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác khi tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát cũng như về phần đối đáp thì đa số các Thẩm phán đều không thể hiện trong bản án…

Trong phần xét thấy của Bản án, cũng có nhiều quan điểm khác nhau như: Có Thẩm phán ghi tóm tắt lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa rồi đi vào phân tích đánh giá những vấn đề tranh tụng tại phiên tòa, xác định các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, đánh giá bị cáo có phạm tội không và phạm tội gì, theo điều khoản nào của BLHS, phân tích mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, đánh giá vai trò nhân thân của bị cáo (từng bị cáo), xác định thiệt hại, xử lý vật chứng…

Có Thẩm phán lại đi thẳng vào phân tích đánh giá những vấn đề tranh tụng tại phiên tòa, xác định các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, đánh giá bị cáo có phạm tội không và phạm tội gì, theo điều khoản nào của BLHS, phân tích mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, đánh giá vai trò nhân thân của bị cáo (từng bị cáo), xác định thiệt hại, xử lý vật chứng… chứ không ghi lại lời trình bày của bị cáo hoặc người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa hoặc ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên.

Trong phần quyết định của Bản án, cũng có nhiều quan điểm khác nhau, có Thẩm phán ghi mức hình phạt với từng bị cáo và thời gian chấp hành hình phạt mà không ghi cụ thể tội danh, có Thẩm phán lại ghi cụ thể về tội danh, trong vụ án có nhiều bị cáo thì có Thẩm phán liệt kê các điều luật của nhiều bị cáo giống nhau để ghi mức hình phạt, có thẩm phán lại liệt kê các điều luật áp dụng cho từng bị cáo để ghi mức hình phạt…

Chính sự vận dụng không thống nhất hiện nay của các Thẩm phán dẫn đến nhiều bản án không có tính thuyết phục, không thể hiện tính nghiêm minh của luật pháp, không nâng cao được vai trò và vị thế của Thẩm phán trong tiến trình của Cải cách tư pháp mà Tòa án là trung tâm và hoạt động xét xử là trọng tâm như yêu cầu của Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị. Nhận xét về thực trạng không thống nhất trong cách trình bày bản án, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường đã từng nhận xét: "Đọc các bản án của Tòa, từ tối cao đến cấp huyện, tôi thấy còn rất nhiều vấn đề chưa thống nhất. Cách trình bày, căn cứ xét xử, lập luận của các bên, phần quyết định bản án mỗi nơi một khác".

Để khắc phục những hạn chế trên, cần phải có những hướng dẫn cụ thể, thống nhất để các Thẩm phán khi ban hành một Bản án phải làm sao đảm bảo chính xác và có tính thuyết phục. Tính chính xác của bản án được thể hiện ở chỗ Bản án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật tức là việc áp dụng pháp luật đúng đắn, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, được dư luận đồng tình và đó cũng là tính thuyết phục cao của bản án. Tính thuyết phục của bản án còn thể hiện ở việc bản án phân tích sâu sắc, đầy đủ, hoàn thiện diễn biến và nội dung của vụ án, đánh giá đúng tính chất, mức độ, áp dụng đúng pháp luật để có quyết định hình phạt chính xác, đảm bảo nguyên tắc giáo dục và trừng trị.

Theo yêu cầu hiện nay, Bản án khi tuyên đọc là công khai và không chỉ giới hạn tại phiên tòa xét xử mà Bản án còn được đăng tải để mọi người dân đều có thể cập nhật nghiên cứu và cũng là một nguồn tài liệu quan trọng không chỉ trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân mà còn có tác dụng răn đe đối với những người có những ý định vi phạm hoặc coi thường các quy định của pháp luật.

Để đạt được mục đích đó, đòi hỏi các Bản án của Tòa án nói chung và Bản án hình sự nói riêng cần phải được thể hiện một cách trung thực, rõ ràng các diễn biến của phiên tòa công khai, thông qua hoạt động thẩm vấn tại phiên tòa, những ý kiến tranh luận và kết quả tranh luận của người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đối với Cáo trạng và bản luận tội của Viện kiểm sát. Các chứng cứ được xử dụng của Hội đồng xét xử để buộc tội hoặc phản bác ý kiến của người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa thậm chí Hội đồng xét xử còn có quyền phản bác cả ý kiến của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa cần phải được phân tích đánh giá một cách chính xác và đầy đủ để khẳng định việc tuyên bố bị cáo phạm tội của Hội đồng xét xử là chặt chẽ, có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Trong vấn đề quyết định hình phạt, cũng cần có những đánh giá nhận xét chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tầm quan trọng của các khách thể mà hành vi phạm tội đã xâm phạm, vai trò của từng bị cáo trong các vụ án đồng phạm có nhiều người tham gia, nhân thân của người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên mức án phù hợp và có tính thuyết phục. Có như vậy, thì tất cả mọi người dân tham dự phiên tòa đều nhận thức được tính trung thực, công khai minh bạch của Hội đồng xét xử cũng như những người dân không dự phiên tòa khi đọc được Bản án hình sự của Tòa án có thể nắm bắt được nội dung của vụ án cũng như hiểu được chính sách hình sự của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay và nhận thấy việc xét xử và quyết định hình phạt của Tòa án là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tạo được niềm tin của nhân dân đối với pháp luật của nhà nước hiện nay.

2.3. Một số kiến nghị

Để đạt được mục đích trên, theo chúng tôi, hiệu quả của các hướng dẫn trong cuốn sổ tay viết Bản án đã được ghi nhận tích cực trong thời gian qua song để đảm bảo Bản án khi ban hành phải chính xác và có tính thuyết phục hơn nữa thì cũng cần phải có hướng dẫn phù hợp, bảo đảm đúng tinh thần của Nghị quyết số 08/NQ/TW Ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư­ pháp trong thời gian tới đó là bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác...; việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà”. Và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về Chiến l­ược cải cách tư­ pháp đến năm 2020 mà Tòa án là trung tâm của cải cách tư pháp và hoạt động xét xử là trọng tâm”. Để khắc phục tình trạng trên, nhằm thống nhất kỹ năng viết bản án nói chung và bản án hình sự nói riêng, qua tổng hợp các ý kiến tại các cuộc Hội thảo do Vụ hợp tác quốc tế phối hợp cùng các chuyên gia của tổ chức Jica tổ chức tại các tỉnh Quảng Ninh, Bình Định, Kiên Giang vừa qua, chúng tôi có một số đề xuất về kỹ năng viết bản án hình sự theo mẫu được xây dựng như sau:

TÒA ÁN (1)…       CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                                       Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số   (2)…/…/HSST

Ngày (3)….

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN (4)........................................

Với  Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có (5):

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông (Bà).............................

Thẩm phán: Ông (Bà).............................................................

Các Hội thẩm:(6)

Ông (Bà):...............................................................................

Nghề nghiệp:.........................................................................

Nơi công tác:..........................................................................

Ông (Bà):................................................................................

Nghề nghiệp:...........................................................................

Nơi công tác:...........................................................................

 Ông (Bà):................................................................................

Nghề nghiệp:............................................................................

Nơi công tác:............................................................................

Những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa.    

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông (Bà)...............(7)

Đại diện Viện kiểm sát (8)....................... Tham gia phiên toà:

   Ông (Bà).........................................................Kiểm sát viên.

   Ông (Bà).........................................................Kiểm sát viên.

Trong các ngày..... Tháng..... Năm..... (9) tại............................

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số (10)...../...../HSST ngày..... Tháng..... Năm..... Đối với các bị cáo:

1. ........................ Sinh ngày..... Tháng..... Năm..... Nam (nữ)

Quê quán, Trú tại..............................;

Dân tộc…….; Quốc tịch……; Tôn giáo…..; Đoàn thể….

Nghề nghiệp.......................; Trình độ học vấn.......;

Con ông............................ Và bà........................... ;

Gia đình có….. anh em, bản thân là thứ ….

có vợ (chồng)…. và...... Con, lớn sinh… nhỏ sinh…;

tiền sự............; Tiền án (11).............;

Bị bắt tạm giam ngày (12).

2.......................................................................................

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: (13)

Ông (Bà).......................... Sinh năm (hoặc tuổi)........;

Trú tại………; Nghề nghiệp.............

Là: (14).............................................................................

Người bào chữa cho bị cáo: (15)...............................................

Ông (Bà)..................................................................................

Người bị hại: (16)   .............................................................

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: (17)........................

Nguyên đơn dân sự: (18).....................................................         

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự: (19)............

Bị đơn dân sự: (20)....................................................................

Người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự: (21).....................

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: (22)..........

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án(23):.....................................................................

Người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại (nguyên đơn dân sự,...)(24)

Ông (Bà)...........................................................................         

TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN (25)

- Bị cáo (các bị cáo) bị Viện kiểm sát........................... Truy tố về hành vi (các hành vi) phạm tội như sau:

(Trình bày việc phạm tội, các hành vi phạm tội của bị cáo (các bị cáo) mà Viện kiểm sát truy tố theo nội dung của cáo trạng).

- Tại bản cáo trạng số..... Ngày..... Tháng..... Năm..... Viện kiểm sát............. Đã truy tố.

(Ghi phần quyết định truy tố của cáo trạng đối với từng bị cáo về tội danh và điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự được áp dụng).

Ghi tóm tắt lời khai của bị cáo (các bị cáo), lời khai của những người tham gia tố tụng khác, ý kiến của đại diện VKS, người bào chữa tại phiên tòa. Sau đó ghi

 Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa (nếu có) và những người tham gia tố tụng khác,

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ XÉT THẤY(26)

.................................................................................................

.................................................................................................

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH (27)

.................................................................................................

.................................................................................................

.................................................................................................

 

Hướng dẫn sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm nêu trên:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm như trình bày ở trên theo chúng tôi, vẫn bảo đảm được theo tinh thần quy định tại các điều 185, 224 và 307 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm như đã nêu, trên cơ sở sửa đổi và bổ sung một số thuật ngữ cho phù hợp:

(1) Nếu là Toà án quân sự khu vực, thì ghi Toà án quân sự khu vực mấy Quân khu nào (ví dụ: Toà án quân sự khu vực 1 quân khu 4); nếu là Toà án quân sự quân khu thì ghi Toà án quân sự quân khu nào (ví dụ: Toà án quân sự Quân khu Thủ đô); nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi Toà án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) nào (ví dụ: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội).

(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án theo đúng tinh thần hướng dẫn của Chính phủ về cách ghi số văn bản (ví dụ: Bản án số 250/2004/HSST).

(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.

(4) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).

(5) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ và tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng “Thẩm phán...”, Đối với Hội thẩm chỉ ghi họ và tên của hai Hội thẩm; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ và tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, họ và tên của Thẩm phán, họ và tên của cả ba Hội thẩm. Trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, thì nhất thiết phải ghi nghề nghiệp và nơi công tác của Hội thẩm. Trong trường hợp bị cáo là người đã thành niên thì không cần phải ghi nghề nghiệp và nơi công tác của Hội thẩm.

Chúng tôi kiến nghị nên bỏ chữ “thành phần”  chỉ cần ghi “Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có” thêm cụm từ “những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa”, sau khi đã ghi tên Hội đồng xét xử. Vì nếu để hai chữ “thành phần” thì dẫn đến sự hiểu lầm của người dân đến dự phiên tòa cho rằng, Hội đồng xét xử bao gồm cả Thư ký phiên tòa và đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa. việc sửa đổi và bổ sung như vậy, tránh sự hiểu lầm của người dân tham dự phiên tòa và cũng phân định rõ đâu là Hội đồng xét xử, đâu là những người tiến hành tố tụng. Đối với Hội thẩm nhân dân thì trong mọi trường hợp, đều phải ghi đầy đủ nghề nghiệp và nơi công tác của Hội thẩm, chứ không chỉ đối với trường hợp bị cáo là người chưa thành niên.

(6) Nếu Toà án nhân dân, thì ghi Hội thẩm nhân dân; nếu Toà án quân sự, thì ghi Hội thẩm quân nhân. Không nên để số 1, 2 vào phần ghi các Hội thẩm dễ xảy ra việc hiểu lầm là có sự phân biệt giữa các Hội thẩm là Hội thẩm số 1 quan trọng hơn Hội thẩm số 2.

(7) Theo chúng tôi, chỉ cần ghi “Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Nguyễn Văn A hoặc bà Nguyễn Thị B” là đủ chứ không cần ghi “Cán bộ Tòa án nhân dân…” nơi xét xử như mẫu cũ, vì Thư ký là chức danh tố tụng được quy định tại Điều 41 BLTTHS và chỉ có Thư ký mới được tham gia và ghi biên bản phiên tòa. Nếu là cán bộ thì không thể tham gia phiên tòa để ghi biên bản được và không đúng với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hơn nữa phần trên đã ghi rõ Tòa án nào xử nên không cần phải ghi lại nữa là phù hợp.

(8) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1), song đổi các chữ “Tòa án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân” “Tòa án quân sự” thành “Viện kiểm sát quân sự”; nếu chỉ có một Kiểm sát viên tham gia phiên toà thì chỉ ghi họ và tên của Kiểm sát viên đó; nếu có hai Kiểm sát viên tham gia phiên toà thì phải ghi đầy đủ họ và tên của cả hai Kiểm sát viên đó. Song chúng tôi cũng kiến nghị không nên để số 1, 2 như mẫu cũ để tránh sự so sánh như phần ghi các Hội thẩm.

(9) Trong trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày, thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 12 tháng 4 năm 2004...).

Trong trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày trở lên, nếu số ngày tương đối ít thì có thể ghi đủ số ngày (ví dụ: Trong các ngày 3, 4 và 5 tháng 7...); Nếu số ngày nhiều liền nhau thì ghi từ ngày đến ngày (ví dụ: Trong các ngày từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 7 năm...); Nếu khác tháng mà xét xử liên tục thì ghi từ ngày... Tháng... Đến ngày... Tháng... (ví dụ: Trong các ngày từ ngày 30-7 đến ngày 04-8 năm...), Nếu không xét xử liên tục thì ghi các ngày của từng tháng (ví dụ: trong các ngày 29, 30, 31 tháng 7 và các ngày 03, 04 tháng 8 năm...

(10) Ô thứ nhất ghi số thụ lý sơ thẩm vụ án, ô thứ hai ghi năm thụ lý vụ án theo đúng tinh thần hướng dẫn của Chính phủ về cách ghi số văn bản và sau đó ghi ngày, tháng, năm thụ lý vụ án (ví dụ: Vụ án hình sự thụ lý số 175/2004/HSST ngày 20 tháng 4 năm 2004).

(11) Ghi họ và tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có).

Phần này, chúng tôi kiến nghị trong mọi trường hợp đều nhất thiết phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh, chứ không phụ thuộc vào tuổi của bị cáo như hướng dẫn, việc ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh còn thuận lợi cho việc thi hành án sau này. Thực tế có nhiều vụ án các bị cáo trùng cả họ và tên cũng như tên đệm, trùng cả năm sinh nhưng chỉ khác nhau về ngày, tháng. Nếu chúng ta không ghi rõ rất dễ nhầm lẫn khi ra quyết định  thi hành án. Cần bổ sung về phần giới tính, Quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, đoàn thể để bản án được rõ ràng và thuận lợi cho công tác thống kê sau này. Thực tế có những bị cáo cha mẹ đặt tên khi đọc nên không thể phân biệt được là nam hay nữ, chỉ khi nhìn mặt thì mới biết là nam hay nữ. Thông thường nếu là nữ thì hay có chữ “Thị” để phân biệt nhưng hiện nay rất nhiều người là nữ nhưng khai sinh lại không có chữ “Thị”.  Cũng cần phải ghi đầy đủ cả quê quán, nơi đang ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở khi bị cáo phạm tội, vì có những bị cáo quê quán một nơi, lại đăng ký hộ khẩu một nơi, tạm trú một nơi... Nếu không ghi đầy đủ rất khó xác minh thi hành án sau này.  Cần thống nhất về phần trình độ là “trình độ học vấn” như vậy sẽ cụ thể hơn. Còn như mẫu hiện nay là “trình độ văn hóa” theo chúng tôi là không chính xác vì khái niệm văn hóa là khái niệm rất rộng không thể phiên ngang như trình độ học vấn được. Thực tế văn hóa bao trùm trong suốt cuộc đời con người từ ứng xử, ăn, nói, đi, đứng cũng như gắn với mọi hoạt động của con người từ khi con người sinh ra đến khi con người mất đi. Thực tế, có những người có học vấn cao nhưng cánh ứng xử lại thô lỗ không bằng người có học vấn thấp nên không thể có tiêu chí cụ thể nào để phân định về  trình độ văn hóa được.

 Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án.

Chúng tôi thấy, hướng dẫn về ghi phần tiền án, tiền sự như vậy là rõ ràng. Song hiện nay rất nhiều bản án khi xác định về tiền án, tiền sự mặc dù đến ngày phạm tội họ đã hết thời hạn bị coi là xử lý hành chính hoặc xử lý kỷ luật hoặc đã được xóa án tích nhưng trong bản án vẫn ghi là “về nhân thân” và liệt kê những lần vi phạm đó ra. Theo chúng tôi như vậy là không phù hợp, dễ để Thẩm phán có ấn tượng với họ dẫn đến việc quyết định hình phạt không được chính xác và vô tình chúng ta đã phủ nhận quyết tâm hướng thiện của họ, dẫn đến trường hợp hành vi của họ đáng được hưởng án treo nhưng lại không được hưởng. Ví dụ có người bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc đã quá một năm hoặc phạm tội đã được xóa án nhưng lại phạm tội ít nghiêm trọng hoặc do vô ý như “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Nhưng trong bản án vẫn nhận định họ có nhân thân xấu là không phù hợp trái với quy định tại Điều 63 là “…Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án…”.

(12) Ghi ngày bị cáo bị bắt tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên toà thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên toà thì ghi “vắng mặt”.

(13) Nếu bị cáo nào có người đại diện hợp pháp thì ghi họ và tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A).

(14) Sau chữ “là” ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên toà thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên toà thì ghi “vắng mặt”.

(15) Nếu bị cáo nào có người bào chữa thì ghi họ và tên của bị cáo đó; sau chữ Ông (Bà) ghi họ và tên của người bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M); nếu có mặt tại phiên toà thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên toà thì ghi “vắng mặt”.

(16), (17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) Nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi họ và tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trong trường hợp người bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người chưa thành niên, thì nhất thiết phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của người bị hại; nếu có mặt tại phiên toà thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên toà thì ghi “vắng mặt”.

(24) Nếu người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi họ và tên của họ theo thứ tự; sau chữ Ông (Bà) ghi họ và tên; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên toà thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên toà thì ghi “vắng mặt”.

(25) Trong phần này, cần chú ý chỉ ghi các hành vi phạm tội của các bị cáo mà Viện kiểm sát truy tố trong nội dung của cáo trạng, những hành vi khác tuy có được mô tả trong cáo trạng, nhưng Viện kiểm sát không truy tố thì không ghi.

Chúng tôi kiến nghị về phần này như sau: Hiện mẫu viết bản án đang để cụm từ “Nhận thấy”. Theo chúng tôi, để như vậy vừa không rõ nghĩa và không thoát ý, do vậy cần đổi là “Tóm tắt nội dụng vụ án” sẽ cụ thể và rõ nghĩa hơn. Đây chỉ là phần mô tả hành vi phạm tội của bị cáo theo như nội dung của bản cáo trạng, nên cần ghi hết sức tóm tắt, có thể chỉ cần ghi phần kết luận trong bản Cáo trạng, sau đó bổ sung thêm một số ý làm sao phản ánh được về thời gian, địa điểm vụ án xảy ra, con người phạm tội cụ thể, những hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra… Từ đó, mới đến phần Cáo trạng truy tố bị cáo về tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự, những phần khác như về tang vật của vụ án, hoặc những người khác có tham gia nhưng không bị truy tố thì cũng không cần ghi ở phần này mà để phân tích ở phần nhận định để tránh phải ghi lại nhiều lần dẫn đến bản án dài không cần thiết. Song cần bắt buộc phần này phải ghi tóm tắt được lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa, ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của người bào chữa, kết quả đối đáp của đại diện Viện kiểm sát với ý kiến của người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Có như vậy khi chúng ta bắt vào đoạn “Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa (nếu có) và những người tham gia tố tụng khác” để chuyển sang phần “xét thấy” mới logic và chặt chẽ.

(26) Trong phần này chỉ ghi sự phân tích và đánh giá của Hội đồng xét xử bao gồm:

- Phân tích và đánh giá những vấn đề đã được tranh tụng tại phiên toà;

- Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội;

- Đánh giá bị cáo có phạm tội không và nếu bị cáo có phạm tội, thì phạm tội gì, theo khoản nào, điều nào của Bộ luật hình sự;

- Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo;

- Đánh giá thiệt hại và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại (nếu có);

- Hướng giải quyết về xử lý vật chứng (nếu có). Chúng tôi hoàn toàn đồng ý như hướng dẫn song để cụm từ “Xét thấy” như hiện nay là không phù hợp, về ngữ pháp là thiếu chủ ngữ vì ai xét thấy? Do vậy theo chúng tôi cần bổ sung là “Hội đồng xét xử xét thấy” là đầy đủ và đúng ngữ pháp hơn.

(27) Trong phần này ghi các quyết định của Toà án và quyền kháng cáo đối với bản án như sau:

A. Trường hợp bị cáo có phạm tội:

- Tuyên bố bị cáo (các bị cáo)... Phạm tội (các tội)... (bị cáo nào phạm tội nào thì ghi tội đó);

- Áp dụng điểm... Khoản... Điều... Của Bộ luật hình sự; nếu có nhiều bị cáo phạm các tội khác nhau, thì ghi áp dụng điểm... Khoản... Điều... Của Bộ luật hình sự đối với bị cáo (các bị cáo)... Và áp dụng điểm... Khoản... Điều... Của Bộ luật hình sự đối với bị cáo (các bị cáo)...;

- Xử phạt bị cáo... (ghi tên từng bị cáo và mức hình phạt). Tiếp đó ghi thời điểm để tính thời hạn chấp hành hình phạt; nếu cho bị cáo được hưởng án treo thì cần giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục. Trong trường hợp cần tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành hình phạt tử hình thì ghi: “tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án”. Nếu vụ án có một bị cáo hoặc nhiều bị cáo nhưng phạm một tội thì chúng ta chỉ cần ghi mức hình phạt, chứ không cần nhắc lại tên tội danh. Trong trường hợp bị cáo phạm nhiều tội thì chúng ta mới phải ghi mức hình phạt của từng tội danh cụ thể để tổng hợp cho rõ ràng.

- Việc bồi thường thiệt hại: Cần thiết phải ghi: áp dụng khoản... Điều... (tương ứng) của Bộ luật dân sự buộc...; cần phải tuyên rõ ràng, cụ thể từng phần của các bị cáo phải bồi thường nhất là trong trường hợp các bị cáo phải liên đới bồi thường. Để thực hiện đúng theo các quy định của Luật thi hành án dân sự, đối với các vụ án có quyết định vấn đề bồi thường thì phần quyết định cũng cần ghi: "Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

- Việc xử lý vật chứng (nếu có) cần theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003;

- Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm;

- Quyền kháng cáo đối với bản án. Đối với bị cáo bị xử phạt tử hình thì cần ghi thêm: “nếu họ không kháng cáo, thì họ có quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước xin ân giảm án tử hình trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày hết hạn kháng cáo”.

B. Trong trường hợp bị cáo không phạm tội:

Căn cứ vào khoản... Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tuyên bố bị cáo không phạm tội;

- Giải quyết việc khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ;

- Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại (nếu có);

- Việc xử lý vật chứng (nếu có);

- Về án phí (nếu có);

- Quyền kháng cáo đối với bản án.

C. Nếu bị cáo bị tuyên hình phạt trục xuất, thì Hội đồng xét xử cũng phải tuyên cả thời gian bị cáo phải rời khỏi Việt Nam.

Nơi nhận:

(Ghi những nơi mà Toà án cấp sơ thẩm phải giao bản án theo quy định tại Điều 229 của Bộ luật tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án chính)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Ký tên và đóng dấu của Toà án

(Họ và tên)

Phần cuối cùng của bản án, nếu là bản án gốc được thông qua tại phòng nghị án thì cần phải có đầy đủ chữ ký, họ và tên của các thành viên Hội đồng xét xử; nếu là bản án chính thì cần ghi như sau:


BÀI 7:

KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT PHẦN BỒI THƯỜNG DÂN SỰ

TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

 

Giải quyết bồi thường dân sự là một nội dung quan trọng, không thể thiếu trong quá trình Tòa án xét xử vụ án hình sự. Điều 28 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự”.

 Như vậy, khi giải quyết vụ án hình sự, ngoài phần xem xét, quyết định về trách nhiệm hình sự như xem xét, đánh giá tính chất nghiêm trọng của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ; nhân thân của bị cáo; đối chiếu với quy định của pháp luật về tội danh, điều luật áp dụng để quyết định hình phạt đối với người phạm tội, Tòa án còn phải giải quyết một nội dung quan trọng khác, đó là: buộc người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt; sửa chữa hoặc bồi thường vật chất đối với những thiệt hại mà người phạm tội đã gây ra; trong trường hợp người phạm tội gây thiệt hại về tinh thần thì còn phải bồi thường bằng vật chất và công khai xin lỗi người bị hại như quy định tại Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. 

Trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự là việc Tòa án buộc người phạm tội (bị cáo) phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại đối với những thiệt hại do hành vi mà người phạm tội đã gây ra. Đây là những thiệt hại mà giữa người phạm tội (bị cáo) và người bị hại không có hợp đồng hay thỏa thuận gì trước nên pháp luật quy định đây là thiệt hại ngoài hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên trong một số trường hợp có sự thỏa thuận trước giữa bị cáo với người bị hại như thỏa thuận vay, mượn tiền, tài sản, thỏa thuận hợp đồng mua bán... nhưng sau đó do người đã nhận tiền, tài sản không thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết ban đầu dẫn đến phải chịu trách nhiệm hình sự, thì người phạm tội phải bồi thường thiệt hại (nếu có) ngoài trách nhiệm dân sự như nội dung thỏa thuận ban đầu, đó là trường hợp phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” hoặc “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”...

Để giải quyết phần bồi thường dân sự trong vụ án hình sự có căn cứ, đúng pháp luật, đòi hỏi khi nghiên cứu hồ sơ vụ án cần chú ý làm rõ người phạm tội đã gây thiệt hại mức độ như thế nào? Trong vụ án có đồng phạm thì mức độ gây thiệt hại của mỗi đồng phạm ra sao? Người bị thiệt hại là ai, ở đâu và người bị thiệt hại này có ý kiến, đề nghị thế nào? Ngoài lời khai người bị hại đã khai báo với cơ quan Điều tra thì người bị hại có văn bản đề nghị cụ thể như thế nào? Trong quá trình điều tra, người phạm tội đã tự nguyện hay thông qua người thân của mình bồi thường được bao nhiêu đối với người bị thiệt hại. Đây không chỉ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình mà còn là một nội dung nếu có sẽ được trừ vào phần nghĩa vụ bồi thường cho người phạm tội.

Việc Tòa án buộc người phạm tội (bị cáo) phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại do hành vi của người phạm tội gây ra, phải căn cứ vào quy định tại các Điều luật tương ứng của Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết, phải đảm bảo các quy định về cơ sở của trách nhiệm dân sự; nguyên tắc bồi thường; về tư cách, năng lực bồi thường và các quy định khác của pháp luật.

I. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG DÂN SỰ

1. Cơ sở của trách nhiệm bồi thường dân sự

Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

“1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó”.

Theo quy định của Điều luật nói trên thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây:

1.1. Phải có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại là những tổn thất về người; mất mát, hư hỏng về của cải vật chất hoặc tinh thần. Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.

   a) Thiệt hại về vật chất bao gồm:

   - Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS;

   - Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 609 BLDS;  

- Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS;

- Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS.

   b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm... nên cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.

   - Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin... vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu.

1.2. Phải có hành vi trái pháp luật

Hành vi trái pháp luật những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật (hành vi bị pháp luật cấm). Hành vi này chính là hành vi phạm tội mà người phạm tội đã gây ra.

   1.3. Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật

Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại. Có nghĩa là hành vi của người phạm tội (bị cáo) là nguyên nhân, thiệt hại của người bị hại là hậu quả. Hành vi phạm tội của bị cáo tất yếu gây ra hậu quả đối với người bị hại.

 Ví dụ: Bị cáo có hành vi châm lửa đốt xe ô tô của người bị hại thì tất yếu dẫn đến hậu quả là ô tô bị cháy nếu không được cứu chữa kịp thời hoặc hành vi của bị cáo dùng dao quắm chém nhiều nhát vào người bị hại, tất yếu dẫn đến thương tích hoặc có thể gây tổn hại tính mạng người bị hại.

1.4. Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại

Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi và hậu quả hành vi phạm tội được thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý.

a) Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn thiệt hại xảy ra hoặc không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

Ví dụ: Biết là dùng dao bầu đâm vào vị trí nguy hiểm sẽ gây chết người nhưng vì thù tức và muốn giết A nên B vẫn đâm A, hậu quả là A bị tử vong.

   b) Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù pháp luật buộc phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

 Ví dụ: C điều khiển xe ô tô chở khách, biết là phóng nhanh vượt ẩu có thể gây tai nạn nhưng để đón được nhiều khách, C đã phóng nhanh, giành đường đón khách dẫn đến xe ô tô do C điều khiển đã đâm vào người điều khiển xe máy đi đúng phần đường quy định, hậu quả làm người điều khiển xe máy bị thương nặng, xe máy bị hỏng.

   Cần chú ý là đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó (Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra).

Ví dụ: thực hiện hợp đồng đổ đất san nền để làm sân vận động, xe ô tô tải của công ty trách nhiệm hữu hạn Toàn Thắng đã gây tai nạn làm chết người thì công ty TNHH Toàn Thắng có nghĩa vụ (thay cho lái xe) phải bồi thường thiệt hại người chết. 

2. Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 605 Bộ luật dân sự:

   “1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

   2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

   3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường”.

* Với quy định của Điều luật như trên thì:

2.1. Khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, phải thực hiện đúng nguyên tắc là bồi thường toàn bộ và kịp thời; phải tôn trọng thoả thuận của các bên về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường, nếu thoả thuận đó không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

2.2. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần chú ý:

   a) Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ, có nghĩa là thiệt hại tới đâu, bồi thường tới đó. Khi có yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại do tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm phải căn cứ vào các điều luật tương ứng của Bộ luật dân sự quy định trong trường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm những khoản nào và thiệt hại đã xảy ra là bao nhiêu, mức độ lỗi của các bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản thiệt hại tương xứng đó.

   b) Để người bị thiệt hại có thể được bồi thường kịp thời, Toà án phải giải quyết nhanh chóng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời hạn luật định cụ thể là quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (Điều 176 về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; Điều 242 về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hình sự) cũng như quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Điều 179 về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và Điều 258 về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự).

 Trong trường hợp cần thiết để đảm bảo kịp thời quyền lợi chính đáng và hợp pháp của người bị hại, tùy từng giai đoạn, cơ quan tiến hành tố tụng có thể cho người phạm tội hoặc thân nhân của người phạm tội thực hiện bồi thường trước cho người bị hại. Ví dụ: Trong vụ án bị cáo phạm tội cố ý gây tổn hại sức khỏe người khác, tại giai đoạn điều tra, người có hành vi cố ý gây tổn hại sức khỏe đã bồi thường người bị hại một khoản tiền để người bị hại chi phí tiền viện phí, cấp cứu và bồi dưỡng sức khỏe.

Hoặc để tránh việc người phạm tội tẩu tán tài sản khó khăn cho công tác thi hành án sau này thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự.

   Để bảo vệ quyền lợi chính đáng, kịp thời của người bị hại, pháp luật cũng quy định chặt chẽ thời hạn Tòa án phải giải quyết vụ án, cụ thể Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự quy định:

    1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:

 a) Đối với tranh chấp dân sự (Điều 25 BLTTDS), tranh chấp Hôn nhân - gia đình (Điều 27 BLTTDS) thời hạn là 04 (bốn) tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.

b) Đối với tranh chấp về kinh doanh - thương mại (Điều 29 BLTTDS), tranh chấp lao động (Điều 31 BLTTDS) thời hạn là 02 (hai) tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.  

 Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định ra hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá 02 (hai) tháng đối với vụ án quy định tại điểm a và 01 (một) tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b nêu trên.

2. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử nói trên, Tòa án phải ra một trong những quyết định sau: Công nhận sự thỏa thuận của đương sự; Tạm đình chỉ giải quyết vụ án; Đình chỉ giải quyết vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

3. Trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa, trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 (hai) tháng.

* Điều 258 BLTTDS, về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm:

1. Trong thời hạn 02 (hai) tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, tùy từng trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết định sau:

 a) Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;

 b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;

 c) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Đối với vụ án có tính chất phức tạp do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không được quá 01 (một) tháng.

 2. Trong thời hạn 01 (một) tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 (hai) tháng.

    c) Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường khi có đủ hai điều kiện sau đây:

   - Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại;

   - Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại, có nghĩa là thiệt hại xảy ra mà họ có trách nhiệm bồi thường so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt của họ cũng như về lâu dài họ không thể có khả năng bồi thường được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đó.

   d) Mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế, có nghĩa là do có sự thay đổi về tình hình kinh tế, xã hội, sự biến động về giá cả mà mức bồi thường đang được thực hiện không còn phù hợp trong điều kiện đó hoặc do có sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại cho nên mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với sự thay đổi đó hoặc do có sự thay đổi về khả năng kinh tế của người gây thiệt hại...

 Ví dụ A bị xét xử về tội giết người. Ngoài hình phạt tù, A còn phải cấp dưỡng nuôi con của người bị hại mỗi tháng 100.000 đồng, do biến động của giá cả thị trường, đồng tiền mất giá nên đại diện người bị hại đã yêu cầu Tòa án buộc A phải tăng khoản tiền cấp dưỡng nuôi con người bị hại lên 550.000 đồng/tháng.

3. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đây là trường hợp người chưa thành niên phạm tội nên khi xét xử, ngoài áp dụng đúng chính sách pháp luật về hình sự, cần nắm chắc Điều 606 Bộ luật dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 để xác định trách nhiệm bồi thường cho phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể như sau:

3.1. Cần xác định đúng tư cách đương sự trong từng trường hợp như sau:

- Trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 606 BLDS thì người gây thiệt hại là bị đơn dân sự (người đủ 18 tuổi);

- Trong trường hợp quy định tại đoạn 1 khoản 2 Điều 606 BLDS thì cha, mẹ của người gây thiệt hại là bị đơn dân sự (người dưới 15 tuổi);

- Trong trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 606 BLDS thì người gây thiệt hại là bị đơn dân sự và cha, mẹ của người gây thiệt hại là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi);

- Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 606 BLDS thì cá nhân, tổ chức giám hộ là bị đơn dân sự (người chưa thành niên).

3.2. Việc quyết định về bồi thường (lấy tài sản để bồi thường) phải cụ thể và theo đúng quy định tại Điều 606 BLDS.

Như vậy, vấn đề bồi thường dân sự trong vụ án hình sự thì: đối với bị cáo đã đủ 18 tuổi thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về bị cáo; trường hợp bị cáo dưới 15 tuổi thì trách nhiệm bồi thường thuộc về cha mẹ của bị cáo; trường hợp bị cáo đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì bị cáo phải bồi thường bằng tài sản riêng của mình, nếu bị cáo không đủ tài sản để bồi thường thì bố mẹ bị cáo phải bồi thường thay cho bị cáo phần còn thiếu; trường hợp bị cáo là người chưa thành niên thì người giám hộ phải chịu trách nhiệm bồi thường; trường hợp có đồng phạm thì các đồng phạm phải liên đới bồi thường thiệt hại đối với thiệt hại mà mình đã gây ra trên cơ sở mức độ thiệt hại và mức độ lỗi mà mỗi đồng phạm đã gây ra.

4. Xác định chi phí hợp lý

 Chi phí hợp lý là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở từng địa phương tại thời điểm chi phí.

Xác định đúng chi phí hợp lý là xác định đúng thiệt hại có ý nghĩa rất quan trọng, giúp việc ra quyết định bồi thường đúng đắn, vừa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người bị hại cũng không làm thiệt hại đến quyền lợi của người phải bồi thường.

   Bộ luật dân sự quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều 609 (thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm); điểm b và điểm c khoản 1 Điều 610 (thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm) và điểm a khoản 1 Điều 611 (thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm) đều quy định về các khoản chi phí hợp lý.

Các khoản cụ thể sẽ được đề cập chi tiết trong từng loại bồi thường đề cập ở phần sau.

   5. Nghĩa vụ chứng minh của các đương sự

Nghĩa vụ chứng minh được quy định tại Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự:

 1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.

 2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh.

 3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích của người khác thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

 4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.

Nghị quyết 03/2006/HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn về nghĩa vụ chứng minh của đương sự như sau:

a) Người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường thiệt hại phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị thiệt hại.

b) Người gây thiệt hại yêu cầu giảm mức bồi thường thiệt hại phải có tài liệu, chứng cứ về khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình không đủ để bồi thường toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đã xảy ra.

c) Người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại yêu cầu thay đổi mức bồi thường thiệt hại phải có đơn xin thay đổi mức bồi thường thiệt hại. Kèm theo đơn là các tài liệu, chứng cứ làm căn cứ cho việc xin thay đổi mức bồi thường thiệt hại.

d) Việc chứng minh không có lỗi thuộc nghĩa vụ của người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Trong tố tụng dân sự nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, có nghĩa là người khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ họ tên, địa chỉ nơi cư trú (nơi đăng ký nhân khẩu thường trú, nơi đăng ký tạm trú) của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhân chứng... có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu mình đưa ra là có căn cứ. Ngược lại bị đơn hoặc người có quyền, nghĩa vụ liên quan nếu có ý kiến không chấp nhận hoặc phản bác yêu cầu của người khởi kiện thì có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu và chứng cứ mà nguyên đơn đưa ra là không có căn cứ đồng thời có nghĩa vụ chứng minh cho ý kiến và yêu cầu mà mình đưa ra. Nếu đương sự nào không đưa ra được chứng cứ để chứng minh thì ý kiến, yêu cầu của đương sự đó không được chấp nhận mà còn có thể phải chấp nhận chứng cứ do bên kia đưa ra (nếu có căn cứ).

Trong vụ án hình sự, cơ quan Điều tra chứng minh người phạm tội cũng đồng nghĩa với chứng minh người có hành vi gây thiệt hại và xác minh, thu thập chứng cứ về người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan một cách tương đối đầy đủ. Tuy nhiên khi xét xử, để giải quyết đúng pháp luật phần trách nhiệm dân sự, Tòa án vẫn phải thận trọng kiểm tra để nếu đương sự nào có sự thay đổi (thay đổi về yêu cầu, thay đổi về địa chỉ, thay đổi về tư cách trong quá trình tham gia tố tụng...) thì Tòa án có điều chỉnh chính xác và kịp thời, tránh được những sai sót, tránh được khó khăn cho công tác thi hành án sau này; đồng thời Tòa án cũng cần kiểm tra về yêu cầu của đương sự trước khi quyết định về vụ án vì trong tố tụng dân sự, đương sự có quyền tự định đoạt.

Trong quá trình giải quyết vụ án, khi người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đưa ra yêu cầu đề nghị Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường thiệt hại cho mình thì Tòa án phải kiểm tra tài liệu, chứng cứ xem trong giai đoạn điều tra, cơ quan Điều tra đã thu thập đầy đủ chưa, nếu còn thiếu thì yêu cầu đương sự nộp bổ sung chứng cứ, tài liệu để chứng minh về thiệt hại mà người phạm tội đã gây ra. Trường hợp đương sự không thể bổ sung vì những tài liệu chứng cứ đó chỉ có cơ quan tiến hành tố tụng mới thu thập được thì phải dừng phiên tòa, trả hồ sơ cho cơ quan Điều tra để điều tra bổ sung (đối với phiên tòa sơ thẩm); ở Tòa án cấp phúc thẩm mà thiếu những chứng cứ tài liệu đó thì có thể bị hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.

Trong một số trường hợp như chưa xác định được người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc đã xác định được nhưng khi xét xử không biết họ ở đâu hoặc tuy đã xác định được người bị hại, nguyên đơn dân sự nhưng họ chưa có yêu cầu trả lại những vật, tiền bạc đã bị người phạm tội chiếm đoạt, chưa có yêu cầu phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, chưa chứng minh được đầy đủ thiệt hại do tội phạm gây ra thì có thể tách phần bồi thường thiệt hại đó để giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi những người này có yêu cầu. Đối với trường hợp này, Tòa án chỉ thụ lý để giải quyết phần dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, người bị hại có yêu cầu xuất trình tài liệu, chứng cứ. Đó có thể là hóa đơn, chứng từ, hoặc giấy xác nhận chi phí về cấp cứu, điều trị ở bệnh viện, chi phí bồi dưỡng sức khỏe, chi phí tìm kiếm, sửa chữa tài sản, thu nhập bị mất, bị giảm sút; đối với trường hợp chết người thì đại diện người bị hại chứng minh về chi phí mai táng... còn phía bị cáo có nghĩa vụ chứng minh nếu không chấp nhận yêu cầu và chứng cứ tài liệu mà người bị hại đưa ra.

II. MỘT SỐ KỸ NĂNG CỤ THỂ VỀ GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

Điều 42 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.

2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.

Theo quy định trên thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ở đây gồm thiệt hại về tài sản; thiệt hại về sức khỏe; tính mạng; danh dự, nhân phẩm, uy tín và thiệt hại về tinh thần.

1. Kỹ năng giải quyết bồi thường thiệt hại về tài sản

Tài sản bị xâm phạm được xác định là thiệt hại gồm:

1.1. Tài sản bị mất. Ví dụ trong vụ án bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích, do bị cáo tấn công, người bị hại bỏ chạy, trong lúc chạy thì chiếc đồng hồ đeo tay trị giá 5.000.000 đồng văng ra rơi xuống sông, không tìm thấy được. Trong trường hợp này ngoài trách nhiệm bồi thường thương tích, bị cáo còn phải bồi thường tài sản bị mất là trị giá chiếc đồng hồ nói trên cho người bị hại.

1.2. Tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; Ví dụ do có mâu thuẫn từ trước, bị cáo đã  bật lửa đốt cháy chiếc xe gắn máy trị giá 7.000.000 đồng của người bị hại. Trong trường hợp này, bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại là trị giá chiếc xe gắn máy đó.

1.3. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản; Ví dụ bị cáo phạm tội xâm phạm chỗ ở của người khác, bị cáo đã đánh đuổi cả gia đình chủ sở hữu và những người đang ở trong nhà ra khỏi nhà, trong số đó có 2 người đang ở thuê khiến chủ nhà không thu được tiền thuê nhà. Trường hợp này, bị cáo phải bồi thường khoản tiền thuê nhà bị thất thu cho chủ sở hữu nhà.

1.4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại. Ví dụ trong vụ án hủy hoại tài sản (đốt nhà) do nhà bị kẻ phạm tội đốt cháy, chủ nhà phải dỡ một phần nhà (01 gian) của gia đình mình để đám cháy không cháy lan sang cả dãy nhà của các chủ nhà khác.

Như vậy khi giải quyết bồi thường thiệt hại về tài sản phải xem xét, giải quyết một trong số những dạng thiệt hại  đã được đề cập nêu trên.

2. Kỹ năng giải quyết bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

Điều 609 Bộ luật dân sự quy định:

 “1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

 a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

 b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

 c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

 2. Người xâm phạm sức khỏe người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định”.

 Căn cứ vào quy định của Điều luật nói trên, để giải quyết đúng nội dung bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm thì cần xác định đúng thiệt hại đã xảy ra, cụ thể là:

Một là: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại gồm:

- Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế;

- Tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ;

- Tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ;

- Các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

   Hai là: Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.

Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị, do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

a) Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khỏe nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề. Nếu chưa đủ 6 tháng thì lấy thu nhập bình quân của tất cả các tháng trước khi sức khoẻ bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường về thu nhập thực tế bị mất.

b) Xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được thực hiện như sau:

Bước một: Xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có hay không. Nếu có thì tổng số thu nhập là bao nhiêu.

Bước hai: Lấy tổng số thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được trong thời gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng được xác định theo hướng dẫn tại điểm (a) nêu trên. Nếu không có khoản thu nhập thực tế nào của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất; nếu thấp hơn thì khoản chênh lệch đó là thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút; nếu bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất.

Ví dụ 1: A làm nghề sửa xe máy tự do. Thu nhập thực tế của A trước khi sức khoẻ bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 5.000.000 đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, A phải điều trị nên không có khoản thu nhập nào. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của A bị mất là 05 triệu đồng.

Ví dụ 2: B làm công cho một công ty trách nhiệm hữu hạn. Thu nhập thực tế của B trước khi sức khoẻ bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 6.000.000 đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, B phải điều trị và trong thời gian điều trị công ty trả cho B 50% tiền lương là 3.000.000 đồng. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của B mỗi tháng bị giảm sút 3.000.000 đồng.

Ví dụ 3: C là công chức có thu nhập hàng tháng ổn định 5.000.000 đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, C phải điều trị và trong thời gian điều trị cơ quan vẫn trả đủ các khoản thu nhập cho C. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của C không bị mất.

Ba là: Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.

b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định như sau:

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.

- Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường.

Bốn là: Trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

a) Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại.

b) Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động.

Năm là: Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

   a) Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại.

   b) Trong mọi trường hợp, khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân…

   c) Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.

   3. Kỹ năng giải quyết bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

   Điều 610 Bộ luật dân sự quy định:

   1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

 b) chi phí hợp lý cho việc mai táng;

 c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ phải cấp dưỡng;

 2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định”.

 Để giải quyết đúng nội dung bồi thường thiệt hại về tính mạng thì cũng cần xác định rõ thiệt hại đã xảy ra, cụ thể gồm:

   3.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại bao gồm:

3.1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm:

- Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế;

- Tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ;

- Tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ;

- Các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

   3.1.2. Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

a) Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm:

- Chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại;

- Chi phí hợp lý hàng tháng cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại.

b) Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động.

3.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...

   3.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết

a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

   b) Thời điểm cấp dưỡng: được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.

c) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng:

- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

   - Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

   - Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

   - Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

   - Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

   - Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

   - Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

   - Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

   - Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

   3.4. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm

   a) Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại.

b) Trường hợp không có những người được hướng dẫn tại điểm a nêu trên, thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại.

c) Trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại (sau đây gọi chung là người thân thích) của người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của những người thân thích của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại…

   d) Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường”.

4. Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do sức khoẻ, tính mạng bị xâm phạm (Điều 612 BLDS)

a) Trong trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động, thì người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền bồi thường được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 1.4 mục 1 Phần II Nghị quyết 03/2006/HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cho đến khi chết (chi phí nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại).

b) Đối với việc cấp dưỡng cho các đối tượng được hưởng tiền cấp dưỡng chấm dứt khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 61 Luật hôn nhân và gia đình:

Điều 61: Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

 1. Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động;

 2. Người được cấp dưỡng có thu nhập hoặc tài sản để tự nuôi mình;

 3. Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;

4. Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi người được cấp dưỡng;

5. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;

6. Các bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn với người khác;

7. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

4. Kỹ năng giải quyết bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

Điều 611 Bộ luật dân sự quy định:

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:

a)  Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

 b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. 

2. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

 Hành vi gây thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể xâm hại đến cá nhân có thể xâm hại đến tổ chức.

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì:

1. Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại bao gồm:

 a) Chi phí cần thiết cho việc thu hồi ấn phẩm có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị thiệt hại;