Thư viện tài liệu
Phần kỹ năng giải quyết vụ án hành chính
 TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẬP THỂ TÁC GIẢ

 


1. Ths. Nguyễn Thị Hoàng Bạch Yến

- Chánh tòa Tòa Hành chính,

Tòa án nhân dân tối cao

 

Bài 11, Bài 12

2. Đàm Văn Đạo

- Phó Chánh tòa Tòa Hành chính,

Tòa án nhân dân tối cao

 

Bài 4, Bài 7, Bài 9

3. Nguyễn Châu Hoan

- Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

 

Bài 8, Bài 10,

 

4. Triệu Thị Thanh Thủy

- Thẩm phán trung cấp,

Trường Cán bộ Tòa án

 

Bài 1, Bài 2,

Bài 5, Bài 6

5. ThS. Quách Hữu Thái

- Thẩm phán trung cấp,

Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh

 

Bài 3


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

 

STT

VIẾT ĐẦY ĐỦ

VIẾT TẮT

1

Luật Tố tụng hành chính

Luật TTHC

2

Luật Xử lý vi phạm hành chính

Luật XLVPHC

3

Luật Sở hữu trí tuệ

Luật SHTT

4

Tòa án nhân dân

TAND

5

Tòa án nhân dân tối cao

TAND tối cao

6

Ủy ban nhân dân

UBND

 

 


PHẦN I: KỸ NĂNG CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT

VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

---------------

 

BÀI 1:

KỸ NĂNG THỤ LÝ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

                                                                               

I. CÁC ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền quyết định việc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án. Còn Tòa án chỉ thụ lý vụ án hành chính khi có đơn khởi kiện của người khởi kiện. Tuy nhiên không phải cứ có đơn khởi kiện của người khởi kiện là Tòa án sẽ thụ lý vụ án hành chính mà việc khởi kiện phải đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện thì Tòa án mới tiến hành thụ lý vụ án hành chính.

Các điều kiện khởi kiện vụ án hành chính gồm:

1. Người khởi kiện

Điều 5 Luật Tố tụng hành chính (Luật TTHC) quy định như sau:“Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.

Và Điều 103 Luật TTHC quy định:

“1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó.

2. Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó.

3. Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với cách giải quyết khiếu nại”.

Từ những quy định nêu trên thì cá nhân, cơ quan, tổ chức là những người có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án. Nhưng cá nhân, cơ quan, tổ chức này khi khởi kiện vụ án hành chính phải thỏa mãn 2 điều kiện, đó là:

*Phải có năng lực chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hành chính:

- Cá nhân là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác có quyền khởi kiện vụ án hành chính độc lập.

Cá nhân là người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi) hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật.

Trường hợp người khởi kiện là cá nhân đã chết thì người thừa kế của họ sẽ thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính.

- Tổ chức - chủ thể khởi kiện vụ án hành chính, phải là pháp nhân. Theo quy định của Bộ luật Dân sự  năm 2005 thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau:

1, Được thành lập hợp pháp;

2, Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

3, Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

4, Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật độc lập.

Ngoài ra, một số tổ chức mặc dù không phải là pháp nhân nhưng do pháp luật quy định có quyền tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập nên cũng có quyền khởi kiện vụ án hành chính, như: Hộ gia đình, Tổ hợp tác, Hộ kinh doanh...

Cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật. Nếu cơ quan, tổ chức bị hợp nhất, sát nhập, chia, tách, giải thể thì cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức cũ thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính.

- Công chức cũng là chủ thể có quyền khởi kiện vụ án hành chính: Theo Luật Cán bộ, công chức và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/01/2010 quy định những người là công chức thì công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

*Phải là người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc hoặc quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

   Cá nhân, cơ quan, tổ chức phải chứng minh được rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc hoặc quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì mới có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ.

Đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có tên trong quyết định hành chính, bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính thì việc xác định quyền khởi kiện của họ để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình tương đối dễ dàng. Nhưng quyền khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tên trong quyết định hành chính, hành vi hành chính thì khó xác định, trường hợp này Tòa án án cần phải xem xét tài liệu, chứng cứ chứng minh người khởi kiện có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm trực tiếp từ quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện hay không.

Ví dụ: Ủy ban nhân dân quận B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn A với diện tích 150 m2. Bà Nguyễn Thị C nhà ở liền kề với đất của ông A cho rằng Ủy ban nhân dân quận B đã cấp một phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình bà cho ông B nên bà C đã khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông A. Trong trường hợp này bà C phải chứng minh được việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông A đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2. Đối tượng khởi kiện vụ án hành chính

Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính thì đối tượng khởi kiện vụ án hành chính phải là quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội và danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; đồng thời nó phải liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.

2.1. Quyết định hành chính

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật TTHC và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/11/2011 của Hội đồng Thầm phán Tòa án nhân dân tối cao thì quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó), bao gồm:

- Quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính.

- Quyết định hành chính được ban hành sau khi có khiếu nại và có nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính đã được cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính.

Ví dụ: Ngày 15/5/2013, Ủy ban nhân dân quận H ban hành quyết định số 355/QĐ/UBND về việc bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư đối với hộ gia đình ông Nguyễn Văn A. Không đồng ý quyết định số 355/QĐ/UBND, ông A khởi kiện. Căn cứ khoản 1 Điều 3 của Luật TTHC và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/11/2011 của Hội đồng Thầm phán Tòa án nhân dân tối cao thì quyết định số 355/QĐ/UBND ngày 15/5/2013 của Ủy ban nhân dân quận H là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Lưu ý: Quyết định giải quyết khiếu nại đối với hành vi hành chính cũng là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Vì quyết định giải quyết khiếu nại đối với hành vi hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan đó ban hành để giải quyết khiếu nại đối với hành vi hành chính nào đó, nhưng thực chất là quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

2.2. Hành vi hành chính

Hành vi hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

Tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/11/2011 của Hội đồng Thầm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về hành vi hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính như sau:

“Hành vi hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Việc xác định hành vi hành chính khi nào là của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác, khi nào là của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác và khi nào là không thc hiện nhiệm vụ, công vụ phải căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền, thời hạn thực hiện đối với nhiệm vụ, công vụ đó và phân biệt như sau:

a) Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể là của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác, nhưng do người trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác đó thực hiện theo sự phân công hoặc uỷ quyền, uỷ nhiệm thì hành vi đó là hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác mà không phải là hành vi hành chính của người đã thực hiện hành vi hành chính đó;

Ví dụ: Theo quy định tại Điều 126 của Luật đất đai thì hồ sơ chuyển đổi quyền sử dụng đất nộp tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Ông Nguyễn Văn A đã nộp hồ sơ xin chuyển đổi quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân xã X theo đúng quy định, nhưng bà Trần Thị C là cán bộ nhận hồ sơ của Ủy ban nhân dân xã X đã trả lại hồ sơ cho ông A và không nêu lý do của việc trả lại hồ sơ đó. Trong trường hợp này, việc trả lại hồ sơ cho ông A là hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân xã X mà không phải là hành vi hành chính của bà Trần Thị C.

b) Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể là của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác thì việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể đó là hành vi hành chính của người có thẩm quyền, không phụ thuộc vào việc họ trực tiếp thực hiện hay phân công, uỷ quyền, uỷ nhiệm cho người khác thực hiện;

Ví dụ: Theo quy định của pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H là người có thẩm quyền tổ chức việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông D, nhưng đã ủy nhiệm cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H trực tiếp tổ chức việc cưỡng chế. Trong trường hợp này, việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông D là hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H mà không phải là hành vi hành chính của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H.

c) Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể là của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác, nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật mà cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác không thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó là hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác, không phụ thuộc vào việc nhiệm vụ, công vụ đó được phân công, uỷ quyền, uỷ nhiệm cho người cụ thể nào trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác đó thực hiện;

Ví dụ: Theo quy định tại Điều 7 của Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29-8-2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh thì Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh A có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp được thành lập trong địa giới hành chính tỉnh. Doanh nghiệp N đã nộp đầy đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ, nhưng quá thời hạn mà pháp luật quy định, Phòng đăng ký kinh doanh không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp N. Trong trường hợp này, việc không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp N là hành vi hành chính của Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh A.

d) Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể là của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác, nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật mà người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác không thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó là hành vi hành chính của người có thẩm quyền, không phụ thuộc vào việc họ đã phân công, uỷ quyền, uỷ nhiệm cho người khác thực hiện.

Ví dụ: Theo quy định tại Điều 30 của Luật cư trú thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, Trưởng Công an xã, phường, thị trấn phải cấp sổ tạm trú cho hộ gia đình hoặc cá nhân đề nghị. Bà X đã nộp đủ giấy tờ theo quy định đề nghị Trưởng Công an xã N cấp sổ tạm trú, nhưng quá thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ mà Trưởng Công an xã N không cấp sổ tạm trú cho bà X. Trong trường hợp này, việc không cấp sổ tạm trú cho bà X là hành vi hành chính của Trưởng Công an xã N”.

2.3. Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính là quyết định của Hội đồng cạnh tranh, của Bộ trưởng Bộ Công thương khi giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định tại mục 7 Chương V của Luật cạnh tranh, bao gồm:

- Quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng cạnh tranh đối với quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh khi xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh;

- Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Công thương đối với quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh khi xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Ví dụ: Ngày 05/7/2013, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh số 02/QĐ-XLVVCT phạt Công ty B 1.000.000.000 đồng về hành vi lợi dụng vị trí độc quyền. Không đồng ý với quyết định số 02/QĐ-XLVVCT, công ty B đã khiếu nại. Ngày 20/11/2013, Hội đồng cạnh tranh có quyết định số 08/QĐ-GQKN giữ nguyên quyết định số 02/QĐ-XLVVCT. Công ty B khởi kiện yêu cầu hủy bỏ quyết định số 02/QĐ-XLVVCT và quyết định số 08/QĐ-GQKN.

Tại khoản 1 Điều 115 của Luật Cạnh tranh quy định: “Trường hợp không nhất trí với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, các bên liên quan có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với một phần hoặc toàn bộ nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại ra Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền”. Trong ví dụ nêu trên, đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là quyết định số 08/QĐ-GQKN ngày 20/11/2013 của Hội đồng cạnh tranh.

2.4. Quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức

Quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính là văn bản thể hiện dưới hình thức quyết định của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức thuộc quyền quản lý của mình.

Việc xác định đối tượng là công chức phải căn cứ vào Luật cán bộ, công chức và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính Phủ quy định chi tiết những người là công chức.

Ví dụ: Ngày 09/6/2013, Giám đốc Bệnh viện A có quyết định số 35/QĐ về việc kỷ luật buộc thôi việc đối với bác sỹ Nguyễn Văn B. Không đồng ý, ông B khởi kiện yêu cầu hủy quyết định số 35/QĐ.

Căn cứ Luật cán bộ, công chức và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính Phủ thì ông B không phải là công chức, ông B chỉ là viên chức nên quyết định số 35/QĐ không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

2.5. Danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính là danh sách do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Chỉ huy đơn vị quân đội nơi có khu vực bầu cử lập.

Tại khoản 3 Điều 103 của Luật TTHC quy định: Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với cách giải quyết khiếu nại”.

Do vậy, người khởi kiện phải thực hiện việc khiếu nại danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến cơ quan lập danh sách cử tri trước khi thực hiện việc khởi kiện tại Tòa án. 

Ngoài ra tại Điều 6 của Luật TTHC có quy định:Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hành chính có thể đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Như vậy, yêu cầu đòi bồi th­ường thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính gây ra mà quyết định hành chính, hành vi hành chính này đang bị khiếu kiện tại Tòa án cũng là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

3. Thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính là thời hạn mà cá nhân, cơ quan, tổ chức được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì cá nhân, cơ quan, tổ chức đó mất quyền khởi kiện.

Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính được quy định khác nhau đối với từng đối tượng khởi kiện. Khoản 2 Điều 104 của Luật TTHC quy định thời hiệu khởi kiện như sau:

- 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

- 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

- Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.

Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính kể từ ngày nhận được, biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính cho đến ngày khởi kiện. Để xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện trong trường hợp nào là “kể từ ngày nhận được”, trường hợp nào là “kể từ ngày biết được” thì cần căn cứ vào đối tượng bị tác động trực tiếp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và phân biệt như sau:

- Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và họ là đối tượng được nhận quyết định thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ ngày họ nhận được quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc (được cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc giao trực tiếp, được nhận qua nhân viên bưu điện, qua chính quyền địa phương hoặc những người khác theo quy định của pháp luật).

Ví dụ: Ngày 08-7-2011 ông N nhận được Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 10-02-2011 của Uỷ ban nhân dân quận B về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho ông với diện tích 150m2 thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện của ông N đối với Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 10-02-2011 của Uỷ ban nhân dân quận B là kể từ ngày ông N nhận được quyết định đó (ngày 08-7-2011);

- Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức không phải là đối tượng bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và họ không phải là đối tượng được nhận quyết định và thực tế là họ không nhận được quyết định đó thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ ngày họ biết được quyết định đó.

Ví dụ: Trong trường hợp ví dụ nêu tại điểm a khoản 1 Điều này, sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông N đã tiến hành xây tường bao diện tích đất 150m2 đó. Ông Q là hàng xóm của ông N cho rằng ông N đã xây tường bao lên cả phần diện tích đất của ông Q. Ngày 28-7-2011, ông N đã đưa cho ông Q xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N và ông Q thấy rằng một phần diện tích đất mà ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phần diện tích đất của ông Q. Trong trường hợp này, thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện của ông Q đối với Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 10-02-2011 của Uỷ ban nhân dân quận B là kể từ ngày ông Q biết được quyết định đó (ngày 28-7-2011);

- Trường hợp hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ ngày hành vi hành chính đó được thực hiện (nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức đã chứng kiến việc thực hiện hành vi hành chính đó) hoặc kể từ ngày được thông báo về thời điểm hành vi hành chính đó đã được thực hiện (nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức không chứng kiến việc thực hiện hành vi hành chính đó nhưng họ đã được cơ quan có thẩm quyền thông báo về thời điểm hành vi hành chính đó đã được thực hiện) hoặc kể từ ngày biết được hành vi hành chính đó (nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức không chứng kiến việc thực hiện hành vi hành chính đó và cũng không được cơ quan có thẩm quyền thông báo về thời điểm hành vi hành chính đó đã được thực hiện, nhưng họ đã biết được hành vi hành chính đó qua các thông tin khác như được người khác kể lại);

Ví dụ 1: Ngày 10-7-2011, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện tổ chức lực lượng, phương tiện cưỡng chế tháo dỡ nhà ở xây dựng trái phép của ông H và ông H đã chứng kiến việc tháo dỡ nhà đó thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện của ông H đối với hành vi tháo dỡ nhà ở xây dựng trái phép đó là kể từ ngày hành vi tháo dỡ nhà ở đó được thực hiện (ngày 10-7-2011).

Ví dụ 2: Trong ví dụ 1 nêu tại điểm c này, ông T có căn nhà ở cạnh nhà của ông H đã bị cưỡng chế tháo dỡ và trong thời gian cưỡng chế tháo dỡ nhà ở của ông H thì ông T đi công tác nước ngoài. Ngày 15-7-2011, ông T mới đi công tác về và thấy tường nhà mình bị rạn nứt và được hàng xóm kể lại là nhà ông H đã bị cưỡng chế tháo dỡ. Nếu ông T khởi kiện hành vi hành chính tháo dỡ nhà ở xây dựng trái phép đã xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện của ông T đối với hành vi tháo dỡ nhà ở xây dựng trái phép đó là kể từ ngày ông T được kể lại về việc thực hiện hành vi cưỡng chế tháo dỡ nhà ở của ông H (ngày 15-7-2011).

- Trường hợp hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ ngày hết thời hạn theo quy định của pháp luật mà cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

Ví dụ: Ông A là người thành lập doanh nghiệp đã nộp đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, nhưng hết thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà ông A vẫn không được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện trong trường hợp này là kể từ ngày hết thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Ngoài ra, trong trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện. Đó là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:

-  Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan như thiên tai, địch hoạ, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc do lỗi của cơ quan nhà nước làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu khởi kiện;

- Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

- Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết.

Lưu ý: Đối với các trường hợp bị đình chỉ theo quy định tại các điểm b, d và g khoản 1 Điều 109, điểm b và điểm c khoản 1 Điều 120 của Luật TTHC thì đương sự được quyền khởi kiện lại. Trong trường hợp này thì thời hiệu khởi kiện vẫn được tính kể từ ngày nhận được, biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện, trừ thời gian Tòa án nhận đơn khởi kiện lần trước đến khi đương sự nhận được quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

*Các quy định của Bộ luật dân sự về cách xác định thời hạn, thời hiệu cũng được áp dụng trong tố tụng hành chính.

*Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính kể từ ngày nhận được, biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính cho đến ngày khởi kiện. Do vậy, việc xác định ngày khởi kiện hết sức quan trọng, là cơ sở để tính thời hiệu khởi kiện còn hay hết. Điều 15 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cách xác định ngày khởi kiện như sau:

“1. Trường hợp người khởi kiện trực tiếp nộp đơn tại Toà án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 106 của Luật Tố tụng hành chính thì ngày khởi kiện là ngày nộp đơn.

2. Trường hợp đương sự gửi đơn đến Toà án qua bưu điện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 106 của Luật Tố tụng hành chính thì ngày khởi kiện là ngày có dấu bưu điện nơi gửi. Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu điện trên phong bì thì thực hiện như sau:

a) Trường hợp ngày Toà án nhận được đơn do bưu điện chuyển đến mà thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì ngày khởi kiện là ngày Toà án nhận được đơn do bưu điện chuyển đến;

b) Trường hợp ngày Toà án nhận được đơn do bưu điện chuyển đến mà thời hiệu khởi kiện đã hết thì Toà án phải tiến hành xác minh ngày đương sự gửi đơn tại bưu điện và phân biệt như sau:

Trường hợp xác minh được ngày đương sự gửi đơn tại bưu điện thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại bưu điện;

Trường hợp không xác minh được ngày đương sự gửi đơn tại bưu điện thì ngày khởi kiện là ngày ghi trong đơn khởi kiện.

3. Trường hợp vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khởi kiện và người khởi kiện lựa chọn cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giải quyết thì ngày khởi kiện đối với quyết định hành chính mà họ đã khiếu nại là ngày họ gửi đơn khởi kiện đầu tiên. Trường hợp họ chỉ khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại có nội dung mới thì ngày khởi kiện là ngày họ gửi đơn khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại. Việc xác định ngày khởi kiện trong các trường hợp này thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

4. Trường hợp chuyển vụ án cho Toà án khác theo quy định tại khoản 1 Điều 32 và khoản 3 Điều 139 của Luật Tố tụng hành chính và được hướng dẫn tại Điều 6 và Điều 18 của Nghị quyết này thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn khởi kiện đến Toà án đã thụ lý sai thẩm quyền và được xác định theo hướng dẫn tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này”.

4. Điều kiện về tố tụng

Sự việc người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết phải là sự việc chưa được Toà án giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Có nghĩa, nếu Toà án đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật giải quyết việc khởi kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính đó rồi thì các bên liên quan không có quyền khởi kiện lại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính này nữa. Trừ các trường hợp Tòa án có quyết định đình chỉ vụ án theo quy định tại các điểm b, d và g khoản 1 Điều 109, điểm b và điểm c khoản 1 Điều 120 của Luật TTHC thì người khởi kiện vẫn có quyền khởi kiện lại (khoản 1 Điều 121 của Luật TTHC).

5. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính thì Thẩm quyền của Tòa án là thẩm quyền bắt buộc. Khác với pháp luật tố tụng dân sự, trong tố tụng hành chính không có thẩm quyền theo sự lựa chọn, thỏa thuận của đương sự.

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại các Điều 28, Điều 29 và Điều 30 của Luật Tố tụng hành chính.

5.1.Thẩm quyền theo loại việc

Điều 28 Luật TTHC quy định những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bao gồm:

1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.

2. Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

3. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.

4. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.

Như vậy, ngoại trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật Nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ ban hành tại Nghị định số 49/2012/NĐ-CP ngày 04/6/2012  và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, còn hầu hết các khiếu kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Tòa án có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính và đồng thời có thẩm quyền giải quyết yêu cầu đòi bồi th­ường thiệt hại khi người khởi kiện cho rằng thiệt hại này là do quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh gây ra.

5.2. Thẩm quyền theo cấp và lãnh thổ

Thẩm quyền theo cấp xét xử và thẩm quyền theo lãnh thổ được quy định tại Điều 29 và 30 của Luật Tố tụng hành chính.

- Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những khiếu kiện sau:

1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó;

2. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án đối với công chức thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó;

3. Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của cơ quan lập danh sách cử tri trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án.

- Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Tòa án cấp tỉnh) giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:

a) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính;

b) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan thuộc một trong các cơ quan nhà nước quy định tại điểm a khoản này và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong các cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính;

c) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án và của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó;

d) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án. Trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú tại Việt Nam, thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh;

đ) Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành trung ương mà người khởi kiện có nơi làm việc khi bị kỷ luật trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án;

e) Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án;

g) Trong trường hợp cần thiết, Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết khiếu kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện.

Theo Điều 4 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP thì trường hợp cần thiết Toà án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp huyện quy định tại điểm g khoản 1 Điều 30 của Luật TTHC, bao gồm:

1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện liên quan đến nhiều đối tượng, phức tạp.

2. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp huyện mà các Thẩm phán của Toà án cấp huyện đó đều thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi.

3. Vụ án có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

6. Hình thức và nội dung đơn khởi kiện

Khoản 1 Điều 105 của Luật TTHC quy định đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau: Ngày, tháng, năm làm đơn; Tòa án được yêu cầu giải quyết vụ án hành chính; Tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện; Nội dung quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, nội dung giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri hoặc tóm tắt diễn biến của hành vi hành chính; Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có); Các yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết và cam đoan về việc không đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

Và khoản 2 Điều 105 của Luật TTHC quy định: “Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ. Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp”.

Do vậy hình thức và nội dung của đơn khởi kiện phải phù hợp với những quy định nêu trên, từ tên, địa chỉ người khởi kiện, người bị kiện cho đến việc ký tên trong đơn khởi kiện. 

II. THỦ TỤC THỤ LÝ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Thủ tục thụ lý vụ án hành chính là việc Tòa án tiếp nhận đơn kiện, giấy tờ tài liệu kèm theo đơn kiện và xem xét các điều kiện khởi kiện. Nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Tòa án sẽ tiến hành các thủ tục vào sổ thụ lý, phân công Thẩm phán giải quyết vụ án, thông báo việc thụ lý cho Viện kiểm sát cùng cấp và các đương sự biết.

Thủ tục thụ lý vụ án hành chính được tiến hành như sau:

1. Nhận đơn khởi kiện

Người khởi kiện có quyền nộp trực tiếp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc thông qua bưu điện để gửi đơn khởi kiện đến Tòa án.

Sau khi nhận đơn khởi kiện Tòa án phải ghi vào “Sổ nhận đơn” ngày, tháng, năm nhận đơn. Trường hợp người khởi kiện nộp trực tiếp đơn khởi kiện tại Tòa án thì cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho đương sự, trường hợp gửi đơn khởi kiện thông qua bưu điện thì gửi giấy xác nhận đã nhận đơn cho đương sự.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

2. Xem xét, xử lý đơn khởi kiện

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo để thực hiện một trong các thủ tục sau đây:

- Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết;

- Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;

- Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 109 của Luật Tố tụng hành chính.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ này Thẩm phán phải kiểm tra xem xét đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện, sau đó đối chiếu với những quy định về điều kiện khởi kiện để có hướng xử lý phù hợp.

2.1. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện

Nếu đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 105 của Luật TTHC thì Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày người khởi kiện nhận được thông báo. Trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 105 của Luật TTHC, thì Tòa án tiếp tục việc thụ lý vụ án; nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo cho người khởi kiện.

Điều 13 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP hướng dẫn như sau:

“1. Khi nhận đơn khởi kiện hoặc sau khi nhận đơn khởi kiện, xét thấy đơn khởi kiện không đúng quy định tại khoản 1 Điều 105 của Luật TTHC thì tùy từng trường hợp mà giải quyết như sau:

a) Trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 105 của Luật TTHC thì tuỳ theo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện mà Toà án yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trong một thời hạn do Toà án ấn định, nhưng không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày người khởi kiện nhận được văn bản của Toà án yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

b) Trường hợp đối tượng khởi kiện ghi trong đơn là quyết định giải quyết khiếu nại mà quyết định đó không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của Luật TTHC và hướng dẫn tại Điều 1 của Nghị quyết này thì Toà án giải thích cho người khởi kiện biết là quyết định giải quyết khiếu nại đó không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện về đối tượng khởi kiện trong thời hạn được hướng dẫn tại điểm a khoản này.

2. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện phải được làm bằng văn bản, trong đó phải nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện biết để họ thực hiện. Văn bản này có thể được giao trực tiếp hoặc gửi cho người khởi kiện qua bưu điện và phải được ghi vào sổ theo dõi.

3. Thời gian thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không tính vào thời hiệu khởi kiện. Ngày khởi kiện vẫn được xác định là ngày gửi đơn khởi kiện và xác định theo hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết này.

4. Sau khi người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án thì Tòa án tiếp tục việc thụ lý vụ án theo thủ tục chung quy định tại Điều 111 của Luật TTHC. Nếu hết thời hạn do Tòa  án ấn định mà người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì Tòa án căn cứ vào điểm h khoản 1 Điều 109 của Luật TTHC trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ”.

2.2. Trả lại đơn khởi kiện

Nếu việc khởi kiện thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 109 của Luật TTHC thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện.

Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả lại đơn khởi kiện được gửi ngay cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp. Văn bản này do Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công xem xét đơn khởi kiện ký.

- Khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện.

Người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đã trả lại đơn khởi kiện trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện; Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau đây:

- Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp biết;

- Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết trên của Chánh án Toà án thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị, Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp phải giải quyết và quyết định của Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp là quyết định giải quyết cuối cùng.

2.3. Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền

Trường hợp việc khởi kiện đáp ứng đầy đủ điều kiện khởi kiện, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhưng là Tòa án khác chứ không phải là Tòa án nơi nhận đơn khởi kiện, thì Tòa án nơi nhận đơn khởi kiện chuyển đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết và báo cho người khởi kiện biết.

2.4. Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí

Nếu việc khởi kiện đáp ứng đầy đủ điều kiện khởi kiện và người khởi kiện thuộc trường hợp phải nộp tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm thì Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí.Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí.

Trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì thông báo cho người khởi kiện biết về việc thụ lý vụ án.

Lưu ý: Theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, thì người yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính không phải nộp tiền tạm ứng án phí.

3. Thụ lý vụ án

Tòa án thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí.

Trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết việc thụ lý.

Tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm là 200.000 đồng.

*Các trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí, miễn nộp tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm, bao gồm:

- Người khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

- Người khởi kiện vụ án hành chính là thương binh; bố, mẹ liệt sỹ; người có công với cách mạng;

- Người khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh;

- Cá nhân, hộ gia đình thuộc diện nghèo theo quy định của Chính phủ;

*Trường hợp được miễn nộp một phần tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm:

Người có khó khăn về kinh tế được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc xác nhận, thì được Toà án cho miễn nộp một phần tiền tạm ứng án phí, án phí.

Mức tiền được miễn không được vượt quá 50% mức tiền tạm ứng án phí mà người đó phải nộp.

4. Thông báo về việc thụ lý vụ án

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án.

Văn bản thông báo thụ lý vụ án phải có các nội dung chính sau đây:

+ Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;

+ Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý vụ án;

+ Tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện;

+ Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết;

+ Danh sách tài liệu người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện;

+ Thời hạn người được thông báo phải nộp ý kiến bằng văn bản về yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) cho Tòa án;

+ Hậu quả pháp lý của việc người được thông báo không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của người khởi kiện.

Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với người khởi kiện hoặc với người bị kiện thì họ có quyền yêu cầu độc lập khi có các điều kiện sau đây:

+ Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;

+ Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết;

+ Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.

Thủ tục yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính về thủ tục khởi kiện của người khởi kiện.


BÀI 2:

KỸ NĂNG XÂY DỰNG HỒ SƠ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

 

Để giải quyết vụ án hành chính đúng pháp luật thì hồ sơ vụ án phải đảm bảo có đầy đủ tài liệu, chứng cứ. Các tài liệu, chứng cứ này phải được đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hành chính quy định và phải được hệ thống hóa, được sắp xếp trật tự để phục vụ cho việc nghiên cứu và giải quyết vụ án. Chính vì vậy việc xây dựng hồ sơ vụ án hành chính là một nhiệm vụ rất quan trọng của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đó.

Hoạt động xây dựng hồ sơ vụ án hành chính của Thẩm phán chỉ được thực hiện sau khi vụ án đã được thụ lý và phải trên cơ sở yêu cầu của đương sự. Để thực hiện được nhiệm vụ này, bản thân Thẩm phán phải nghiên cứu, tìm hiểu về lĩnh vực liên quan đến vụ án mà mình được phân công giải quyết, đồng thời phải nắm vững các quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

I. KỸ NĂNG XÂY DỰNG HỒ SƠ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính thì Thẩm phán tiến hành xây dựng hồ sơ vụ án thông qua các hoạt động sau: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định tại Điều 78 của Luật TTHC và áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Cụ thể:

1. Kiểm tra hồ sơ khởi kiện

Hồ sơ khởi kiện gồm đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện. Mặc dù trước khi thụ lý vụ án, hồ sơ khởi kiện đã được xem xét, kiểm tra nhưng việc kiểm tra lại hồ sơ khởi kiện sau khi đã thụ lý cũng rất quan trọng, giúp phát hiện và khắc phục kịp thời những sai sót trong giai đoạn thụ lý. Đồng thời qua đó Thẩm phán xác định được quan hệ tranh chấp và các yêu cầu cụ thể của đương sự làm tiền đề cho việc xây dựng hồ sơ vụ án.

2. Thông báo về việc thụ lý vụ án

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án. Nội dung thông báo thụ lý vụ án phải có các nội dung: Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo; Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý vụ án; Tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện; Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết; Danh sách tài liệu người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện; Thời hạn người được thông báo phải nộp ý kiến bằng văn bản về yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) cho Tòa án và hậu quả pháp lý của việc người được thông báo không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của người khởi kiện.

3. Tiếp nhận văn bản ghi ý kiến của người bị kiện, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ kèm theo

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý vụ án, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có). Trong trường hợp cần gia hạn thì người được thông báo phải có đơn xin gia hạn gửi cho Tòa án nêu rõ lý do; nếu việc xin gia hạn là có căn cứ thì Tòa án gia hạn một lần, nhưng không quá 10 ngày.Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ phải được lập biên bản giao nhận.

Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận được thông báo, nhưng không nộp ý kiến bằng văn bản trong thời hạn quy định mà không có lý do chính đáng thì Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định.

Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu Tòa án cho biết, đọc, xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện (nếu có) thì Thẩm phán phải giải quyết.

4. Kiểm tra tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ

Việc cung cấp tài liệu, chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp vừa là quyền nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ của đương sự. Do đó khoản 1 Điều 8 Luật TTHC đã quy định: “Đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Các đương sự được giao nộp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào mà họ muốn sử dụng như là chứng cứ của vụ án để chứng minh cho yêu cầu của họ là có căn cứ và hợp pháp. Tòa án có trách nhiệm tiếp nhận tất cả các tài liệu do đương sự giao nộp theo đúng quy định của Luật TTHC.

Nếu đương sự nào đang quản lý, lưu giữ chứng cứ mà không nộp hoặc nộp không đầy đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ chứng cứ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Cụ thể, đương sự có nghĩa vụ cung cấp các tài liệu, chứng cứ sau:

- Cùng với việc nộp đơn khởi kiện, người khởi kiện phải cung cấp bản sao quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh và cung cấp bản sao các chứng cứ khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trường hợp người khởi kiện không cung cấp được thì phải nêu rõ lý do (Khoản 1 Điều 72 của Luật TTHC). 

- Người bị kiện cung cấp hồ sơ giải quyết khiếu nại (nếu có) và bản sao các văn bản, tài liệu mà căn cứ vào đó để ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc có hành vi hành chính (Khoản 2 Điều 72 của Luật TTHC).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình (Khoản 3 Điều 72 của Luật TTHC).

Thẩm phán phải kiểm tra các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, nếu xét thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà đương sự giao nộp chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ. Việc yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ phải được thực hiện bằng hình thức văn bản.

Ngoài ra trong quá trình Toà án giải quyết vụ án hành chính, đương sự có quyền giao nộp những chứng cứ khác cho Toà án. Thẩm phán có trách nhiệm tiếp nhận những tài liệu, chứng cứ này.

Khi đương sự giao nộp chứng cứ cho Toà án phải được lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ. Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ và thời gian nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và dấu của Tòa án. Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ án và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ giữ. Quy định này nhằm đảm bảo cho tài liệu không bị đánh tráo, giả mạo, sửa chữa, thất lạc hoặc có hành vi thủ tiêu chứng cứ... Đồng thời nó bảo đảm giá trị pháp lý trong quá trình sử dụng.

Đương sự giao nộp cho Toà án chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt được công chứng, chứng thực hợp pháp. Nếu đương sự chưa gửi kèm bản dịch thì Thẩm phán phải hướng dẫn cho đương sự là họ phải đi dịch tài liệu, chứng cứ sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp và gửi bản dịch đó cho Tòa án.

5. Xác minh, thu thập chứng cứ

   Việc thu thập đầy đủ chứng cứ để làm rõ các tình tiết của vụ án hành chính không chỉ là nghĩa vụ của đương sự mà còn là trách nhiệm của Tòa án. Trước tiên, đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ hoặc ủy thác tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong trường hợp:

- Đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu;

- Hoặc xét thấy cần thiết để bảo đảm việc giải quyết vụ án hành chính được toàn diện, chính xác, công minh và đúng pháp luật.

Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ. Khi xét thấy cần xác minh, thu thập thêm chứng cứ thì Viện kiểm sát phải có văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ. Văn bản phải nêu rõ chứng cứ cần xác minh, thu thập, lý do cần xác minh, thu thập chứng cứ đó. Viện kiểm sát chỉ tự mình thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng trong trường hợp cần thiết để phục vụ cho việc kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án.

Khi tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, Tòa án phải có trách nhiệm dựa vào các tài liệu do các bên đương sự xuất trình, xác định những tình tiết sự kiện còn mâu thuẫn, những tình tiết sự kiện mới xuất hiện cần phải xác minh để áp dụng phù hợp biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ quy định tại khoản 4 Điều 78 của Luật TTHC.

Các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ quy định tại khoản 4 Điều 78 của Luật TTHC bao gồm:

- Lấy lời khai của đương sự:

Khoản 1 Điều 79 Luật TTHC quy định: Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình. Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự. Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản. Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án, trong trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án.

Có nghĩa Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi:

+ Đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, chưa rõ ràng.

+ Đương sự không thể tự viết được bản khai.

Quy định này được hiểu dù đương sự không yêu cầu nhưng nếu thấy đương sự khai chưa đầy đủ hoặc không thể tự viết được bản khai thì Thẩm phán có thể tự mình lấy lời khai của đương sự.

Khi lấy lời khai của đương sự, Thẩm phán cần tập trung làm rõ những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, những mâu thuẫn trong chính bản khai của đương sự hoặc những điểm mâu thuẫn giữa bản khai của đương sự này với bản khai của đương sự khác, giữa bản khai của đương sự với lời khai của người làm chứng hoặc các tài liệu, chứng cứ có liên quan có trong hồ sơ vụ án.

Việc lấy lời khai của đương sự phải do Thẩm phán tiến hành. Thẩm phán có thể tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản. Khi lấy lời khai, Thẩm phán phải có thái độ nhẹ nhàng, tránh truy bức, mạt sát đương sự. Các câu hỏi đưa ra phải rõ ràng, sáng ý để đương sự trình bày đầy đủ các tình tiết của vụ việc. Hỏi xong một vấn đề nào đó thì nên có câu hỏi chốt lại, không nên bỏ lửng vấn đề.

Việc lấy lời khai của đương sự được thực hiện tại trụ sở Tòa án, trong trường hợp cần thiết như đương sự bị ốm đau, bệnh tật… thì có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án.

Biên bản ghi lời khai của đương sự phải được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ. Đương sự có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận. Biên bản phải có chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và dấu của Tòa án; Nếu biên bản được ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai.

Trường hợp biên bản ghi lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân, công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản.

Trường hợp đương sự không biết chữ thì phải có người làm chứng do đương sự chọn.

Nếu đương sự từ chối ký vào biên bản lấy lời khai thì phải có biên bản thể hiện sự việc, tên, địa chỉ số chứng minh nhân dân của người làm chứng và chữ ký của người làm chứng.

Việc lấy lời khai của đương sự chưa đủ 18 tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom người đó.

- Lấy lời khai người làm chứng:

Người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ án được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng.

Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng.

Tòa án triệu tập hoặc có thể dẫn giải người làm chứng đến trụ sở Tòa án để lấy lời khai. Việc lấy lời khai của người làm chứng được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên tòa.

Thủ tục lấy lời khai của người làm chứng được tiến hành như việc lấy lời khai của đương sự.

Lưu ý:

+ Khi lấy lời khai của người làm chứng, Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử yêu cầu người làm chứng phải cam đoan trước Toà án về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên.

+ Khi lấy lời khai của người làm chứng là người chưa thành niên phải đảm bảo thủ tục đại diện.

- Đối chất:

Là một biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ quan trọng nhằm giải quyết các vấn đề còn mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án. Do đó chỉ khi có yêu cầu của đương sự hoặc không có yêu cầu của đương sự nhưng xét thấy có sự mâu thuẫn trong các lời khai của các đương sự, người làm chứng thì Thẩm phán mới tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau.

Để việc đối chất có hiệu quả, làm rõ được các mâu thuẫn trong hồ sơ thì Thẩm phán cần nghiên cứu hồ sơ thật kỹ, phát hiện được hết những điểm mâu thuẫn để có kế hoạch đối chất chi tiết.

Việc đối chất phải được ghi thành biên bản, có chữ ký của những người tham gia đối chất.

- Xem xét, thẩm định tại chỗ:

Việc xem xét, thẩm định tại chỗ được tiến hành khi có yêu cầu của đương sự hoặc khi Tòa án xét thấy cần phải xem xét, thẩm định tại chỗ để hiểu tường tận về các vấn đề mà đương sự trình bày đồng thời kiểm tra lại các chứng cứ trong hồ sơ, từ đó đưa ra được các quyết định đúng đắn.

Thẩm phán trực tiếp tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định; phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó.

Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản. Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định. Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận.

Nếu có người nào cản trở Tòa án tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ thì Thẩm phán yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định có biện pháp can thiệp, hỗ trợ kịp thời để thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Trong trường hợp cần thiết Thẩm phán yêu cầu lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân có thẩm quyền để có các biện pháp can thiệp, hỗ trợ. Thẩm phán phải lập biên bản về việc đương sự cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ và lưu vào hồ sơ vụ án.

- Trưng cầu giám định:

Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, những vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định.

Người yêu cầu giám định phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định, trừ trường hợp các đương sự có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Người giám định nhận được quyết định trưng cầu giám định phải tiến hành giám định theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại. Người yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại cũng phải nộp tiền tạm ứng cho chi phí giám định này.

Người đã thực hiện việc giám định trước đó không được thực hiện giám định lại.

Trong trường hợp chứng cứ bị tố cáo là giả mạo thì người đưa ra chứng cứ đó có quyền rút lại. Trường hợp không rút lại, Tòa án có thể quyết định trưng cầu giám định chứng cứ bị tố cáo là giả mạo theo quy định tại Điều 83 của Luật TTHC.

Trường hợp việc giả mạo chứng cứ có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án chuyển cho cơ quan điều tra có thẩm quyền xem xét về trách nhiệm hình sự.

Người đưa ra chứng cứ giả mạo phải bồi thường thiệt hại nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác.

- Quyết định định giá tài sản, thẩm định giá tài sản:

Tòa án tiến hành định giá tài sản theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự hoặc khi Tòa án xét thấy cần thiết phải xem xét giá trị của tài sản.Giống như biện pháp trưng cầu giám định, để tiến hành định giá tài sản thì Thẩm phán phải ra quyết định.

Khoản 2 Điều 85 Luật TTHC quy định: “Hội đồng định giá do Tòa án quyết định thành lập gồm Chủ tịch Hội đồng là đại diện cơ quan tài chính và các thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan…”. Theo như quy định này thì Thẩm phán không phải là thành viên của Hội đồng định giá, mà chỉ có quyền thành lập Hội đồng định giá. Hội đồng định giá phải bao gồm đại diện cơ quan tài chính và các thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan, trong đó đại diện cơ quan tài chính là Chủ tịch Hội đồng định giá.

Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi có mặt đầy đủ các thành viên của Hội đồng. Trong trường hợp cần thiết, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định giá. Các đương sự được thông báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành định giá, có quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá. Quyền quyết định về giá đối với tài sản định giá thuộc Hội đồng định giá.

Việc định giá phải được ghi thành biên bản, trong đó ghi rõ ý kiến của từng thành viên, của đương sự nếu họ tham dự. Quyết định của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành. Các thành viên Hội đồng định giá, đương sự, người chứng kiến ký tên vào biên bản.

Tòa án tiến hành thẩm định giá tài sản theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự hoặc khi có căn cứ cho rằng giá do các đương sự thỏa thuận là không chính xác làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước hoặc người thứ 3 hoặc xét thấy cần thiết Tòa án sẽ tiến hành thẩm định lại giá. Thủ tục thẩm định giá giống thủ tục về định giá.

- Ủy thác thu thập chứng cứ:

Là việc Tòa án này ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 86 Luật TTHC lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ án hành chính.

Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ.

Tòa án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác và nêu rõ lý do.

Trong trường hợp việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở ngoài lãnh thổ Việt Nam thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước đó và Việt Nam là thành viên hoặc thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế.

- Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ:

Điều 9 Luật TTHC quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Toà án, Viện kiểm sát tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án, Viện kiểm sát; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ.

Theo quy định này đương sự có thể yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ. Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính (khoản 1 Điều 87 Luật TTHC).

Đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cần thu thập. Nếu đương sự không biết chữ nên không tự mình làm đơn được thì có quyền trình bày trực tiếp với Tòa án, khi đó Thẩm phán phải lập biên bản ghi rõ đề nghị của đương sự. Việc quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của đư­ơng sự trong việc chứng minh và giao nộp chứng cứ cho Tòa án, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính đúng đắn, trong thời hạn luật định và cũng để ngăn ngừa trường hợp đương sự đẩy việc thu thập chứng cứ sang cho Tòa án.

Thẩm phán phải xem xét lý do mà đương sự đưa ra có hợp lý không, đương sự đã chủ động thu thập chứng cứ chưa, đã áp dụng hết khả năng mà đương sự có để thu thập chứng cứ hay không… từ đó chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của đương sự. Nếu không chấp nhận yêu cầu của đương sự thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho đương sự biết.

Tòa án có thể yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình chứng cứ. Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Toà án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Toà án thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 87 Luật TTHC). Quy định này đã khắc phục phần nào tình trạng trong thực tế có nhiều trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức không thực hiện hoặc chậm thực hiện yêu cầu của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ, gây khó khăn cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, làm cho vụ án bị kéo dài, gây bức xúc cho đương sự, nhất là về phía người khởi kiện.

6. Áp dụng biện pháp khẩn cấp, tạm thời

Để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án thì trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện của đương sự có quyền yêu cầu Toà án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền nộp đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Toà án đó. Do đó, trước khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Điều 62 Luật TTHC quy định các biện pháp khẩn cấp tạm thời, gồm:

- Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.

- Tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính.

- Cấm hoặc buộc thực hiện những hành vi nhất định.

Tòa án chỉ xem xét quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi:

- Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật và việc thi hành quyết định đó sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng khó khắc phục.

- Tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính được áp dụng nếu có căn cứ cho rằng hành vi hành chính là trái pháp luật và việc tiếp tục thực hiện hành vi hành chính sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng khó khắc phục.

- Cấm hoặc buộc thực hiện những hành vi nhất định nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho rằng đương sự thực hiện hoặc không thực hiện một số hành vi nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết.

Luật TTHC quy định người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không phải thực hiện biện pháp bảo đảm.Tuy nhiên quy định này có thể dẫn đến việc đương sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, do đó để tránh việc các bên đương sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời một cách tùy tiện, Điều 66 Luật TTHC quy định trách nhiệm do yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng là:

- Đương sự yêu cầu Toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình, nếu có lỗi trong việc gây thiệt hại thì phải bồi thường.

- Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng với yêu cầu của đương sự mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc gây thiệt hại cho người thứ ba thì Toà án phải bồi thường.

Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:

- Người yêu cầu phải có đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

- Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận đơn yêu cầu, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu phải có văn bản thông báo cho người yêu cầu biết, trong đó nêu rõ lý do không chấp nhận cho người yêu cầu biết.

Lưu ý: Luật TTHC chỉ quy định thời điểm có hiệu lực của quyết định áp dụng biện pháp khẩm cấp tạm thời mà không quy định thời điểm hết hiệu lực, do đó quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ hết hiệu lực khi có quyết định thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thủ tục thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện như thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

II. XẮP XẾP HỒ SƠ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Sau khi xây dựng hồ sơ vụ án xong, Thẩm phán phải xắp xếp hồ sơ vụ án thành các tập một cách hệ thống để phục vụ cho việc nghiên cứu hồ sơ được thuận lợi, nắm bắt được toàn bộ diễn biến của vụ việc, nội dung các tình tiết và hệ thống chứng cứ của vụ án, từ đó việc giải quyết vụ án hành chính đúng pháp luật.

Các tài liệu trong hồ sơ vụ án hành chính được sắp xếp thành các tập như sau:

1. Tập khởi kiện

- Đơn khởi kiện;

- Tài liệu chứng cứ được cung cấp kèm theo đơn khởi kiện, gồm: Quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc hoặc quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri hoặc tóm tắt diễn biến của hành vi hành chính bị khiếu kiện. Nếu người khởi kiện không có tên trong quyết định thì phải có tài liệu chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm trực tiếp;

- Biên lai nộp tạm ứng án phí hoặc tài liệu thể hiện việc không phải nộp tạm ứng án phí.

2. Tập của người khởi kiện

- Các tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án;

- Bản tự khai.

3. Tập của người bị kiện

- Văn bản ghi ý kiến của người bị kiện về yêu cầu của người khởi kiện;

- Các văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu, chứng cứ khác do người bị kiện cung cấp để chứng minh cho tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện.

4. Tập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nếu có)

- Các tài liệu, chứng cứ do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp để chứng minh cho yêu cầu của mình;

- Văn bản ghi ý kiến trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

5. Tập tài liệu do Tòa án trực tiếp thu thập, xác minh

+ Biên bản lấy lời khai của đương sự;

+ Biên bản lấy lời khai của người làm chứng;

+ Biên bản đối chất, đối thoại;

+ Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;

+ Các tài liệu thu thập được từ kết quả trưng cầu giám định, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản, ủy thác thu thập chứng cứ;

+ Các tài liệu thu thập được từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.

6. Tập các tài liệu về thủ tục tố tụng

+ Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí;

+ Thông báo thụ lý vụ án;

+ Giấy triệu tập đương sự, giấy mời người phiên dịch…

+ Các biên bản tống đt cho đương sự và Viện kiểm sát;

+ Bản sao giấy tờ về nhân thân, nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở của đương sự;

+ Giấy tờ chứng minh tư cách tham gia tố tụng của đương sự, giấy ủy quyền của người đại diện của đương sự (nếu có);

+ Giấy tờ liên quan đến tư cách pháp lý của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; người phiên dịch, người làm chứng;

+ Các văn bản yêu cầu đương sự có ý kiến và cung cấp tài liệu, chứng cứ bổ sung;

+ Các văn bản yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định tại Điều 87 Luật TTHC;

+ Các quyết định trưng cầu giám định, quyết định định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ, quyết định ủy thác tư pháp;

+ Các biên nhận giao nhận tài liệu, chứng cứ;

7. Tập quyết định

+ Quyết định tạm đình chỉ (nếu có);

+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử;

Sau khi xét xử sơ thẩm xong thì biên bản phiên tòa, biên bản nghị án, bản án hành chính sơ thẩm cũng được xắp xếp vào tập này.

 


BÀI  3:

NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

 

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG KHI NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

1. Khái niệm, mục đích và yêu cầu

1.1. Khái niệm

Theo từ điển trực tuyến Wikipedia thì Nghiên cứu thường được mô tả là một quy trình tìm hiểu tích cực, cần cù và có hệ thống nhằm khám phá, phiên giải và xem xét các sự kiện. Sự điều tra tri thức này tạo ra sự hiểu biết tốt hơn về các sự kiện, hành vi hoặc giả thuyết và tạo ra các ứng dụng thực tế thông qua các định luật và giả thuyết. Thuật ngữ nghiên cứu cũng được sử dụng để mô tả việc thu thập thông tin về các vấn đề chuyên môn và nó thường liên quan đến khoa học và các phương pháp khoa học.

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ (Nxb Đà Nẵng 2006, Tr.680) thì “Nghiên cứu” là xem xét, tìm hiểu kỹ lưỡng để nắm vững vấn đề, giải quyết vấn đề hay rút ra những hiểu biết mới.

Như vậy, nghiên cứu vụ án hành chính là xem xét, tìm hiểu những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án hành chính để có kết quả giải quyết đúng đắn nhất.

1.2. Mục đích của nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính

Mục đích trước mắt của nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính là giúp Thẩm phán có cái nhìn đầy đủ, bao quát về hồ sơ vụ án hành chính. Qua những nội dung cơ bản đã nắm được qua nghiên cứu, Thẩm phán sẽ có kế hoạch xét xử, dự trù những tình huống cần làm rõ tại phiên tòa và những tình huống phát sinh, trên cơ sở đó sẽ điều khiển phiên tòa xét xử khách quan, đúng pháp luật. Những chứng cứ thu thập được phải có tính khách quan, tính liên quan và phù hợp với nhau. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, nếu xét thấy nội dung vụ án chưa rõ ràng, chứng cứ thu thập chưa đầy đủ thì Thẩm phán sẽ có kế hoạch thu thập thêm chứng cứ có ý nghĩa giải quyết vụ án.

Mục đích sau cùng của nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính là tìm ra được những chứng cứ có ý nghĩa giải quyết vụ án và giúp Thẩm phán giải quyết vụ án đúng pháp luật.

1.3. Yêu cầu của nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính

Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính có nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo yêu cầu hồ sơ được nghiên cứu một cách tổng thể, đầy đủ, không bỏ qua bất cứ chứng cứ, tình tiết nào cho dù là từ những tình tiết, chứng cứ nhỏ nhất. Cần tránh tình trạng nghiên cứu hồ sơ một cách qua loa, đọc lướt qua các tài liệu chứng cứ. Chứng cứ, đôi khi chỉ là một câu, một từ, là đã có ý nghĩa giải quyết vụ án. Do đó, hồ sơ phải được nghiên cứu một cách kỹ càng nhất.

Đôi khi vì áp lực công việc mà việc nghiên cứu chưa đầy đủ, sâu sát và toàn diện. Nếu không nghiên cứu hồ sơ một cách đầy đủ và toàn diện thì khi điều khiển phiên tòa Thẩm phán sẽ không thể nào bao quát được toàn bộ vụ án, không làm rõ những tình tiết, chứng cứ có ý nghĩa chứng minh. Thực tiễn giải quyết các vụ án đã chứng minh tính cần thiết phải nghiên cứu hồ sơ một cách chuyên sâu và kỹ càng nhất.

Đối với những hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm thì việc nghiên cứu hồ sơ đi liền với việc xây dựng hồ sơ vụ án hành chính và chúng không tách rời nhau. Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ xong mới lên kế hoạch thu thập chứng cứ và tiến hành xây dựng hồ sơ vụ án. Việc nghiên cứu này được tiến hành một cách từ từ, bắt đầu từ đơn khởi kiện và những chứng cứ kèm theo đơn kiện. Trong quá trình giải quyết, sẽ tiếp tục nghiên cứu và có kế hoạch xây dựng hồ sơ tiếp theo.

Việc nghiên cứu hồ sơ tách rời với việc xây dựng hồ sơ và có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án khi hồ sơ vụ án hành chính được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.

Như vậy, nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính bao gồm nghiên cứu trình tự, thủ tục của việc ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh (sau đây gọi tắt là quyết định hành chính, hành vi hành chính) để xem xét nội dung của quyết định hành chính, hành vi hành chính có đúng pháp luật hay không; nghiên cứu đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tính chứng minh, tính hợp pháp, tính liên quan của các tài liệu chứng cứ của các bên đương sự cung cấp; việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm.

Mỗi Thẩm phán sẽ có những kỹ năng nghiên cứu riêng. Đối với những hồ sơ đơn giản thì chỉ cần chúng ta đọc qua là có thể nhớ được những tình tiết quan trọng có ý nghĩa giải quyết vụ án. Đối với những hồ sơ vụ án phức tạp, nhiều tài liệu chứng cứ đòi hỏi Thẩm phán phải có những kỹ năng và phương pháp nghiên cứu riêng.

II. NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH SƠ THẨM

Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm, cần tiến hành theo các bước sau:

1. Nghiên cứu đơn khởi kiện

Việc đầu tiên của nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính là phải xem xét về nội dung và hình thức của đơn khởi kiện.

1.1. Kiểm tra quyền khởi kiện của đương sự

+ Xem xét người khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác;

+ Những tài liệu, chứng cứ về tư cách pháp lý của người khởi kiện:

- Kiểm tra xem năng lực chủ thể của người khởi kiện.

Trường hợp người khởi kiện là tổ chức thì kiểm tra: Quyết định thành lập, điều lệ của tổ chức, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp; Quyết định bổ nhiệm người đứng đầu tổ chức; Văn bản ủy quyền của đại diện theo pháp luật cho người đại diện tham gia tố tụng, Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người trực tiếp tham gia tố tụng (người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền).

Trường hợp người khởi kiện là chủ doanh nghiệp tư nhân: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp; Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người chủ doanh nghiệp; Văn bản ủy quyền của chủ doanh nghiệp cho người đại diện tham gia tố tụng, Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người trực tiếp tham gia tố tụng (người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền).

Trường hợp người khởi kiện là cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, sổ đăng ký thường trú hoặc tạm trú của cá nhân; Văn bản ủy quyền của cá nhân cho người đại diện tham gia tố tụng, Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người được ủy quyền (nếu ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng).

Trường hợp người khởi kiện là người chưa thành niên: Giấy khai sinh hoặc giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu của người chưa thành niên; Sổ đăng ký thường trú hoặc tạm trú của người chưa thành niên; Giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu của người đại diện theo pháp luật; Văn bản ủy quyền của người đại diện theo pháp luật cho người khác tham gia tố tụng, Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người được ủy quyền (nếu ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng).

Trường hợp người khởi kiện là người mất năng lực hành vi dân sự: Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự; Giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu của người mất năng lực hành vi dân sự; Sổ đăng ký thường trú hoặc tạm trú của người mất năng lực hành vi dân sự; Giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu của người đại diện theo pháp luật; Văn bản ủy quyền của người đại diện theo pháp luật cho người khác tham gia tố tụng, Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người được ủy quyền (nếu ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng).

1.2. Kiểm tra đối tượng khởi kiện được xác định trong đơn kiện

Thẩm phán cần kiểm tra, làm rõ đối tượng khởi kiện trong đơn kiện là gì, có phải là quyết định hành chính, hành vi hành chính hay không? Các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện có thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức hay không?

Chú ý: Quyết định giải quyết khiếu nại chỉ là đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính khi nó có nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế,huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính.

Trưng hợp đương sự ghi quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện trong đơn khởi kiện không đúng (ví dụ như chỉ khởi kiện yêu cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại mà không yêu cầu hủy quyết định hành chính…) thì Thẩm phán phải yêu cầu đương sự xác định lại đối tượng khởi kiện cho đúng. Trong trường hợp đã yêu cầu nhưng đương sự vẫn không sửa chữa, bổ sung đơn kiện cho đúng, thì tùy từng trường hợp mà Thẩm phán đình chỉ giải quyết vụ án hoặc tiến hành thủ tục chung để xét xử bác yêu cầu khởi kiện của đương sự.

1.3. Quan hệ hành chính bị khiếu kiện

Thẩm phán cần xác định rõ quan hệ hành chính bị kiếu kiện được xác định trong đơn khởi kiện là gì từ đó xác định các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ này.

1.4. Kiểm tra tư cách người bị kiện

Từ đối tượng khởi kiện và quy phạm pháp luật điều chỉnh xác định ra người bị kiện là cơ quan, tổ chức hay người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức.

Người bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện. Để xác định đúng người bị kiện khi nào là cá nhân, khi nào là cơ quan, tổ chức thì phải căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ việc đó. Trường hợp có nhiều luật cùng quy định thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính về một lĩnh vực quản lý thì việc xác định thẩm quyền của người bị kiện khi nào là cá nhân, khi nào là cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào luật chuyên ngành.

*Một số vấn đề cần chú ý khi xác định người bị kiện: Thực tiễn giải quyết các vụ án, việc xác định người bị kiện còn nhiều sai sót. Khi nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán cần chú ý tư cách người bị kiện trong một số trường hợp được xác định như sau:

+ Người bị kiện là cá nhân người đứng đầu cơ quan hành chính:

- Các khiếu kiện về xử phạt vi phạm hành chính.

- Quyết định giải quyết khiếu nại có nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính.

- Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai.

- Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.  

+ Người bị kiện là cơ quan tổ chức: Bao gồm các loại khiếu kiện còn lại như: Các khiếu kiện về quản lý đất đai (Thu hồi đất, cấp và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cưỡng chế thu hồi đất, bồi thường khi thu hồi đất…), các khiếu kiện về quản lý thuế… 

1.5. Những người có quyền, nghĩa vụ liên quan

Là những người mà việc giải quyết khiếu kiện có thể làm phát sinh nghĩa vụ hoặc làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ.

Người liên quan này phải có năng lực chủ thể để tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hành chính.

(Chú ý: Nếu đương sự xác định những vấn đề trên trong đơn khởi kiện chưa đúng thì Thẩm phán cần thông báo yêu cầu đương sự sửa chữa, bổ sung đơn kiện cho đúng pháp luật. Mặc dù Luật Tố tụng hành chính không quy định trường hợp sửa chữa, bổ sung đơn kiện sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án, nhưng thực tế các Thẩm phán cần linh động để thông báo yêu cầu đương sự sửa chữa, bổ sung đơn kiện để xác định việc khởi kiện cho đúng pháp luật kể cả trong trường hợp vụ án đã được thụ lý).

1.6. Kiểm tra yêu cầu bồi thường thiệt hại

Có nhiều vụ án hành chính, kèm theo yêu cầu hủy quyết định hành chính, xác định hành vi hành chính là trái pháp luật, người khởi kiện còn có yêu cầu bồi thường thiệt hại kèm theo. Thẩm phán phải nghiên cứu xem các yêu cầu bồi thường đó có cơ sở để giải quyết trong cùng vụ án hành chính hay không hay phải tách ra để giải quyết theo quy định của Luật Trách nhiệm Bồi thường Nhà nước. Cần phải kiểm tra các tài liệu chứng cứ mà đương sự cung cấp có đủ cơ sở để giải quyết hay chưa. Nếu các chứng cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại là chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ hoặc giải thích để cho đương sự yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ.

2. Xác định thời hiệu khởi kiện

 Làm rõ thời điểm phát sinh quyền khởi kiện và thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính để xác định có còn thời hiệu khởi kiện hay không.

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cá nhân, cơ quan, tổ chức được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:

- 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

- 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

- Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.

Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện.

Các quy định của Bộ luật Dân sự về cách xác định thời hạn, thời hiệu cũng được áp dụng trong tố tụng hành chính.

*Những vấn đề cần chú ý khi xác định thời hiệu khởi kiện:

- Thời hiệu được tính từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính (không phải tính từ ngày ban hành quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính).

- Đối với những trường hợp đương sự thực hiện quyền khiếu nại và chưa thực hiện quyền khởi kiện, nhưng khi có quyết định giải quyết khiếu nại là đã quá hạn 1 năm (hoặc đã quá hạn 1 năm nhưng người bị khiếu nại chưa giải quyết khiếu nại) kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính thì cũng thuộc trường hợp hết thời hiệu khởi kiện. Thời hạn giải quyết khiếu nại không được xem là sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan để trừ vào thời hiệu khởi kiện.

Ví dụ: Ngày 15-10-2012, UBND huyện A ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn B. Ông B nhận được quyết định cùng ngày và thực hiện việc khiếu nại. Đến ngày 16-10-2013, UBND huyện A mới ban hành quyết định giải quyết khiếu nại. Ông B không đồng ý và khởi kiện ngay ra Tòa án yêu cầu hủy quyết định hành chính về việc tu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện A. Trường hợp này là thuộc trường hợp hết thời hiệu khởi kiện vì đã quá hạn 1 năm kể từ ngày ông B nhận được quyết định hành chính.

- Trường hợp hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ ngày hành vi hành chính đó được thực hiện (nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức đã chứng kiến việc thực hiện hành vi hành chính đó) hoặc kể từ ngày được thông báo về thời điểm hành vi hành chính đó đã được thực hiện (nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức không chứng kiến việc thực hiện hành vi hành chính đó nhưng họ đã được cơ quan có thẩm quyền thông báo về thời điểm hành vi hành chính đó đã được thực hiện) hoặc kể từ ngày biết được hành vi hành chính đó (nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức không chứng kiến việc thực hiện hành vi hành chính đó và cũng không được cơ quan có thẩm quyền thông báo về thời điểm hành vi hành chính đó đã được thực hiện, nhưng họ đã biết được hành vi hành chính đó qua các thông tin khác như được người khác kể lại).

Đối với hành vi hành chính kéo dài thì thời hiệu khởi kiện được tính từ khi kết thúc hành vi đó chứ không phải tính từ khi hành vi đó bắt đầu được thực hiện. vì chỉ khi kết thúc hành vi thì mới được xem là “hành vi hành chính đó được thực hiện”.

- Trường hợp hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ ngày hết thời hạn theo quy định của pháp luật mà cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

3. Xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Xác định vụ án có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân hay không. Nếu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thì Tòa án cấp nào, địa bàn nào có thẩm quyền giải quyết.

Để xác định vụ án có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân hay không cần đối chiếu với quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án tại Điều 28 Luật Tố tụng hành chính.

Để xác định vụ án có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp nào, địa bàn nào giải quyết thì căn cứ vào Điều 29, 30 Luật Tố tụng hành chính.

4. Nghiên cứu các yêu cầu khác kèm theo việc khởi kiện

Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự thường có các yêu cầu khác kèm theo như: Yầu cầu Tòa án thu thập chứng cứ; Yêu cầu Tòa án tiến hành việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trưng cầu giám định, định giá; Yêu cầu triệu tập người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…. Tùy từng trường hợp cụ thể, Thẩm phán phải xem xét các yêu cầu trên. Nếu không chấp nhận yêu cầu phải thông báo cho đương sự biết lý do.

Nếu có đương sự nào yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thì cần phải  xem xét quyền yêu cầu, hình thức, nội dung của đơn yêu cầu, nội dung biện pháp khẩn cấp tạm thời mà đương sự yêu cầu có phù hợp với quy định của Luật Tố tụng hành chính hay không? Các vấn đề cần làm rõ, các chứng cứ mà đương sự cần phải cung cấp là đầy đủ hay chưa để từ đó quyết định việc áp dụng hoặc từ chối áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà đương sự đã yêu cầu.

5. Các căn cứ để chuyển, tạm đình chỉ, đình chỉ, tách nhập vụ án

Thẩm phán cần nghiên cứu xem vụ án giải quyết có thuộc trường hợp phải nhập hoặc tách vụ án theo quy định tại Điều 33 Luật Tố tụng hành chính hay không? Có phải tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 197, 198 Luật Tố tụng hành chính hay không? Có thuộc trường hợp phải chuyển vụ án cho Tòa án khác có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 32 Luật Tố tụng hành chính hay không.

6. Kiểm tra hình thức đơn kiện

Cần kiểm tra xem đơn kiện có đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Luật Tố tụng hành chính hay không và người ký đơn kiện có phải là người khởi kiện hay không.

Chú ý: Chỉ có người khởi kiện mới được quyền ký trong đơn khởi kiện. Đương sự được quyền ủy quyền cho người khác nộp đơn khởi kiện và ủy quyền cho người khác thay mặt mình để tham gia tố tụng, nhưng không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình ký tên trong đơn khi kiện.

7. Xác định các tình tiết của vụ án

Việc xác định các tình tiết của vụ án giúp Thẩm phán nắm bắt được một cách có hệ thống trình tự, cách thức thực hiện các công việc của mình khi tiến hành tố tụng; các quyền, nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng, từ đó phát hiện ra các vấn đề, những tình tiết cần phải được làm rõ. Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán cần nắm được những nội dung sau:

+ Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật hành chính. Tùy từng loại khiếu kiện mà chúng ta có những xác định khác nhau. Ví dụ như:

- Đối với loại khiếu kiện về xử phạt vi phạm hành chính: Có xảy ra hành vi vi phạm hành chính hay không? Có lập biên bản vi phạm hành chính hay không?

- Đối với loại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai trong việc thu hồi đất: Có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Chủ đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; Người sử dụng đất có sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả, có cố ý hủy hoại đất; Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền hay không; Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm; Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm; Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế; Người sử dụng đất có tự nguyện trả lại đất; Người sử dụng đất có cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước; Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn; Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền, đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười tám tháng liền, đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn tháng liền; Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép.

- Đối với loại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Kiểm tra xem có thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 49 của Luật Đất đai hay không.

- Đối với loại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai trong việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Có việc sai sót về nội dung ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? có kết luận của cơ quan thanh tra hay chưa?

- Đối với loại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai trong việc bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất: Có quyết định thu hồi đất hay không? Thu hồi loại đất gì?...

+ Thời điểm ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính; Nội dung quyết định hành chính, hành vi hành chính.

+ Thời điểm người khởi kiện nhận được, biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

   + Việc khiếu nại của người khởi kiện (nếu có): Thời điểm khiếu nại, nội dung khiếu nại.

   + Việc giải quyết khiếu nại: Thời điểm giải quyết khiếu nại, nội dung quyết định giải quyết khiếu nại.

+ Thời điểm người khởi kiện nhận được quyết định giải quyết khiếu nại.

+ Việc khởi kiện vụ án hành chính: Thời điểm khởi kiện, nội dung đơn kiện và yêu cầu khởi kiện.

8. Phân loại các nhóm tình tiết của vụ án

Cần phân thành từng loại các tình tiết của vụ án theo nhóm các tình tiết của vụ án để giải quyết vụ án một cách khoa học, cụ thể:

8.1. Nhóm các tình tiết về thủ tục tố tụng

- Quyền khởi kiện của đương sự;

- Đối tượng khởi kiện trong vụ án;

- Quan hệ hành chính bị kiếu kiện;

- Người bị kiện;

- Những người có quyền, nghĩa vụ liên quan;

- Thời hiệu khởi kiện;

- Thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

- Hình thức đơn kiện;

8.2. Nhóm các tình tiết về nội dung vụ án

- Nội dung của sự kiện làm phát sinh quan hệ pháp luật về hành chính;

- Thẩm quyền ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính;

- Nội dung quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện;

- Căn cứ pháp lý để ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính;

- Thủ tục hành chính đã áp dụng để ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính;

- Yêu cầu khởi kiện của đương sự và yêu cầu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

- Căn cứ pháp lý để đương sự khởi kiện hoặc có yêu cầu độc lập;

- Các tài liệu, chứng cứ và các quy định của pháp luật có liên quan;

9. Nghiên cứu tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính

9.1. Về hình thức của quyết định hành chính, hành vi hành chính

+ Kiểm tra về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính.

Cần phải xác định được người đã ký quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính là ai? Họ có thẩm quyền ký theo quy định của pháp luật hay không? Việc thực hiện hành vi hành chính là nhân danh cơ quan, tổ chức hay là nhân danh người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức?

+ Kiểm tra hình thức của quyết định có đúng với quy định của pháp luật hay không?

9.2. Về nội dung của quyết định hành chính, hành vi hành chính

Cần xác định nội dung quan hệ hành chính bị khiếu kiện là gì? Có hay không có các quyết định hoặc hành vi này?

Muốn xác định được vấn đề này, người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh có quyết định hành chính hoặc có việc thực hiện hành vi hành chính và hành vi này là của người bị kiện. Các vấn đề cần xác định là:

+ Tên của quyết định hành chính và hành vi hành chính.

+ Thời gian ban hành quyết định hành chính hoặc xảy ra hành vi hành chính.

+ Nội dung cụ thể của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính, gồm:

- Căn cứ pháp lý để ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính: Trên cơ sở xác định nội dung của quyết định hoặc hành vi bị khiếu kiện, Tòa án cần kiểm tra căn cứ pháp lý để ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính, nghĩa là xác định xem người bị kiện đã căn cứ vào những quy định nào của pháp luật để ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính. Trên cơ sở đó kiểm tra xem nội dung của quyết định đã ban hành hoặc hành vi đã thực hiện có phù hợp với quy định này của pháp luật hay không.

Thông thường các căn cứ pháp lý để ban hành quyết định thường được dẫn chiếu tại phần đầu của quyết định. Khi kiểm tra căn cứ pháp lý để ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính cần chú ý đến các quy định của Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật để xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh.

- Thủ tục hành chính đã áp dụng để ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính: Thông thường các thao tác về quản lý hành chính đều được thực hiện theo các thủ tục hành chính tương ứng, ví dụ như thủ tục giao đất, thu hồi đất, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính… Do đó cần phải xác định được người bị kiện đã áp dụng thủ tục nào để ban hành quyết định hoặc thực hiện hành vi từ đó đối chiếu xác định thủ tục mà người bị kiện áp dụng có phù hợp với quy định của pháp luật hay không.

   10. Đánh giá, sử dụng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ

Đánh giá, sử dụng chứng cứ là việc xác định giá trị chứng minh của các nguồn chứng cứ do đương sự cung cấp hoặc do Tòa án thu thập được và việc sử dụng các tài liệu, chứng cứ này để làm rõ và sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.

Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác.

Phải đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định giá trị pháp lý của từng chứng cứ.

Tài liệu, chứng cứ phải được sử dụng như nhau. Trường hợp không sử dụng tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp Tòa án thì phải có lý do phù hợp với quy định của pháp luật.

Ví dụ: Người khởi kiện bị truy thu thuế giá trịnh gia tăng vì sử dụng hóa đơn của doanh nghiệp đã bỏ trốn cung cấp được hóa đơn mua hàng làm căn cứ để khấu trừ thuế. Để sử dụng được chứng cứ này Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện cung cấp các chứng cứ chứng minh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh phù hợp với hóa đơn đó. Nu người khởi kiện không cung cấp được chứng cứ chứng minh thì Tòa án không không chấp nhận sử dụng hóa đơn đó làm chứng cứ chứng minh quyền khấu trừ thuế của người khởi kiện.

III. THỦ TỤC NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH Ở CẤP PHÚC THẨM

1. Xác định quan hệ khiếu kiện

Khi nhận hồ sơ vụ án hành chính từ cấp sơ thẩm chuyển lên, việc đầu tiên chúng ta làm là xem quan hệ khiếu kiện là gì. Việc xác định quan hệ khiếu kiện có ý nghĩa quan trọng vì nó giúp ta định hướng nghiên cứu hồ sơ ban đầu, hình dung được sẽ tập trung vào những vấn đề gì khi nghiên cứu hồ sơ. Ví dụ: Nếu quan hệ khiếu kiện là quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai thì chúng ta sẽ hình dung ngay là tập trung chú ý vào biên bản vi phạm hành chính (thời gian, địa điểm lập biên bản, hình thức của biên bản, biên bản do ai lập, ai ký tên…), quyết định xử phạt vi phạm hành chính (thời điểm ban hành - để xác định thời hạn và thời hiệu xử phạt có đúng hay không, ai ký ban hành, hình thức của quyết định), những nội dung mà quyết định xử phạt áp dụng (xử phạt có đúng đối tượng hay không, áp dụng văn bản pháp luật có đúng hay không, nội dung xử phạt có đúng với quy định pháp luật?...).

Tuy nhiên, khi nhiên cứu người Thẩm phán không bị thu hút vào quan hệ khiếu kiện được xác định ban đầu. Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ chúng ta có thể xác định quan hệ khiếu kiện là một quan hệ khác so với quan hệ đã được xác định. Do đó, đòi hỏi Thẩm phán phải nghiên cứu hồ sơ một cách tổng thể và toàn diện. Trên cơ sở đó sẽ có những phán đoán và quyết định đúng đắn.

2. Cách thức nghiên cứu

2.1. Đọc hồ sơ vụ án

Đây là khâu quan trọng nhất trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính. Có nhiều cách đọc hồ sơ khác nhau:

+ Đọc hồ sơ theo thứ tự bút lục: Có thể đọc theo thứ tự bút lục từ nhỏ đến lớn hoặc ngược lại. Nếu hồ sơ vụ án được sắp xếp theo trình tự thời gian thì việc đọc hồ sơ vụ án theo thứ tự bút lục giúp chúng ta hình dung được vụ án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Tuy nhiên, trong thực tế việc sắp xếp hồ sơ của Tòa án cấp sơ thẩm thường không theo một trình tự thời gian nhất định, mà tùy thuộc vào mỗi Thẩm phán và Thư ký sẽ có cách sắp xếp hồ sơ khác nhau, vì vậy mà đọc hồ sơ theo trình tự bút lục cũng gặp không ít khó khăn.

+ Đọc hồ sơ theo thứ tự từ những vấn đề chính đến phụ: Ưu điểm của việc nghiên cứu hồ sơ theo cách thức này là Thẩm phán nắm được những vấn đề chính trước, trên cơ sở đó sẽ tập trung chú ý vào những tình tiết, chứng cứ quan trọng trong quá trình đọc các tài liệu tiếp theo. Thẩm phán sẽ nắm được nội dung vụ án, trên cơ sở đó sẽ tập trung vào những chứng cứ quan trọng có ý nghĩa giải quyết vụ án. Hạn chế của cách nghiên cứu này là quá tập trung vào những vấn đề chính mà thường quên đi những vấn đề khác.

Nghiên cứu hồ sơ theo cách này cũng có nhiều cách đọc khác nhau:

 Cách 1:

- Đầu tiên, đọc đơn khởi kiện (và đơn kiện bổ sung nếu có), cũng như các yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập để biết được nội dung đơn kiện, nội dung yêu cầu độc lập và yêu cầu phản tố;

 - Tiếp theo, đọc bản án sơ thẩm để biết được những nội dung nào của đơn khởi kiện, nội dung nào của yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập đã được giải quyết và giải quyết như thế nào;

- Đọc biên bản phiên tòa để nắm được diễn biến tại phiên tòa;

- Tiếp theo, đọc đơn kháng cáo để biết được những nội dung nào đương sự không đồng ý và kháng cáo, trên cơ sở đó tập trung vào nghiên cứu những vấn đề liên quan đến kháng cáo.

- Cuối cùng, đọc bản tự khai, các văn bản trình bày ý kiến của các bên đương sự, biên bản đối thoại và tiếp theo là những tài liệu chứng cứ còn lại theo trình tự bút lục.

Cách 2:

- Đầu tiên, đọc bản án sơ thẩm để nắm trước được toàn bộ nội dung vụ án (về nội dung đơn kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập và hướng giải quyết, cũng như cách đánh giá chứng cứ);

- Đọc biên bản phiên tòa để nắm được diễn biến tại phiên tòa;

         - Tiếp theo, đọc đơn khởi kiện để biết bản án đã giải quyết được những vấn đề gì của đơn khởi kiện (tương tự là yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập);

- Tiếp theo, đọc đơn kháng cáo để biết đương sự không đồng ý vấn đề gì của bản án sơ thẩm và những nội dung mà họ kháng cáo;

- Cuối cùng, đọc các tài liệu chứng cứ còn lại theo trình tự bút lục.

 Cách 3:

- Đầu tiên, đọc đơn khởi kiện và những chứng cứ của phía người khởi kiện cung cấp để xác định được nội dung đơn kiện và những chứng cứ chứng minh kèm theo;

- Tiếp theo, đọc văn bản trình bày ý kiến và các tài liệu, chứng cứ của phía người bị kiện (và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu có) để nắm được cơ sở pháp lý của việc ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính;

- Lời khai của người làm chứng.

- Đọc các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập.

- Đọc bản án để biết những nội dung nào đã được giải quyết và giải quyết như thế nào;

- Đọc biên bản phiên tòa để nắm được diễn biến tại phiên tòa;

Lợi thế của cách đọc này là phân định rõ chứng cứ và quan điểm của các bên, trên cơ sở đó sẽ có cái nhìn tổng thể và khách quan khi giải quyết vụ án. Hạn chế của cách này là dễ bị rối vì không phải lúc nào hồ sơ vụ án sơ thẩm cũng sắp xếp phân định riêng biệt theo từng tập tài liệu chứng cứ của người khởi kiện, người bị kiện và chứng cứ do Tòa án thu thập.

2.2. Ghi lại những nội dung có ý nghĩa giải quyết vụ án

Bản ghi chép kết quả nghiên cứu hồ sơ là tài liệu đúc kết lại các kết quả nghiên cứu hồ sơ của Thẩm phán, làm cơ sở cho Thẩm phán ban hành các quyết định trong quá trình chuẩn bị xét xử như: Yêu cầu đương sự cung cấp thêm chứng cứ, xác minh thu thập chứng cứ, chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền, tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án hoặc đưa vụ án ra xét xử và làm cơ sở cho việc điều khiển phiên tòa.

Bản ghi được thể hiện theo thứ tự nghiên cứu hồ sơ, từ thủ tục tố tụng cho đến nội dung vụ việc, văn bản quy phạm áp dụng và các tài liệu chứng cứ hiện có, có ghi chú các vấn đề, sự kiện cần lưu ý, làm rõ, các tài liệu, chứng cứ cần thu thập.

Thông thường, có thể ghi chép những nội dung sau:

- Số, ngày thụ lý vụ án;

- Quan hệ hành chính bị kiếu kiện;

- Tên các đương sự của người đại diện cho đương sự, địa chỉ của người khởi kiện;

- Đối tượng khởi kiện trong vụ án;

- Thời điểm người khởi kiện nhận được hoặc biết được đối tượng khởi kiện;

- Thời điểm người khởi kiện nộp đơn khiếu nại, nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, nộp đơn kiện;

- Thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

- Hình thức đơn kiện;

- Nội dung của sự kiện làm phát sinh quan hệ pháp luật về hành chính;

- Nội dung quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khiếu kiện;

- Căn cứ pháp lý để ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính (ghi cụ thể điều luật áp dụng);

- Yêu cầu khởi kiện của đương sự (gồm có yêu cầu của người khởi kiện và của người có quyền, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập);

- Các tài liệu, chứng cứ và các quy định của pháp luật có liên quan;

- Các đánh giá của Thẩm phán về sự thật của vụ án, về luật áp dụng và hướng giải quyết vụ việc như: Cần phải làm rõ thêm các tình tiết, thu thập thêm chứng cứ, chuyển, tạm đình chỉ, đình chỉ hoặc đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp đưa vụ án ra xét xử thì phải dự kiến đường lối giải quyết, căn cứ pháp lý để đưa ra phán quyết.

+ Ngoài ra, để dễ hiểu nhất thì Thẩm phán nên ghi theo từng nhóm đương sự. Nghĩa là phân định ra những yêu cầu, chứng cứ của người khởi kiện gồm những gì, rồi đến ý kiến và chứng cứ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cụ thể như sau:

- Đối với người khởi kiện: Ghi lại những nội dung chính của đơn kiện; những chứng cứ mà người khởi kiện cung cấp; lời trình bày của người khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án.

- Đối với người bị kiện: Ghi những nội dung chính về quan điểm của người khởi kiện; cơ sở pháp lý để người khởi kiện ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính; thời hạn ban hành quyết định; trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính.

- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ghi những nội dung chính về ý kiến của họ.

- Đối với người làm chứng: Ghi ra nội dung chính của người làm chứng.

- Đối với chứng cứ do Tòa án thu thập: Ghi ra những chứng cứ do Tòa án thu thập gồm những chứng cứ gì.

3. Những vấn đề cơ bản cần làm rõ khi nghiên cứu hồ sơ vụ án

3.1. Xác định các tình tiết của vụ án (giống với mục 7 phần nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm).

3.2. Phân loại các nhóm tình tiết của vụ án (giống với mục 8 phần nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm).

4. Những nội dung cụ thể khi nghiên cứu

4.1. Những vấn đề về việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm

- Quyền khởi kiện của đương sự: (giống với tiểu mục 1.1, mục 1 phần II).

- Đối tượng khởi kiện trong vụ án: (giống với tiểu mục 1.2, mục 1 phần II).

- Quan hệ hành chính bị kiếu kiện: (giống với tiểu mục 1.3, mục 1 phần II).

- Người bị kiện: (giống với tiểu mục 1.4, mục 1 phần II).

- Những người có quyền, nghĩa vụ liên quan: (giống với tiểu mục 1.5, mục 1 phần II).

- Thời hiệu khởi kiện: (giống với tiểu mục 1.6, mục 1 phần II).

- Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: (giống với tiểu mục 1.7, mục 1 phần II).

- Hình thức đơn kiện: (giống với tiểu mục 1.8, mục 1 phần II).

*Kiểm tra hình thức và nội dung đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị:

- Cần kiểm tra hình thức đơn kháng cáo xem có phù hợp với quy định tại Điều 175 Luật Tố tụng hành chính hay không;

- Việc nộp đơn kháng cáo có còn trong thời hạn kháng cáo hay không?

- Nội dung kháng cáo gồm những vấn đề gì?

- Phạm vi kháng cáo có nằm trong phạm vi khởi kiện hay không?

- Người ký đơn kháng cáo có thẩm quyền ký hay không?

Chú ý: Đối với những trường hợp người đại diện theo ủy quyền ký đơn kháng cáo thì Thẩm phán cần chú ý đến nội dung ủy quyền để xem họ có thẩm quyền ký đơn kháng cáo hay không. Thực tế, Tòa án cấp sơ thẩm thường có sai sót là: Đương sự chỉ được ủy quyền đến khi kết thúc xét xử sơ thẩm nhưng người được ủy quyền lại ký đơn kháng cáo và Tòa cấp sơ thẩm không kiểm tra, lại làm thủ tục kháng cáo cho đương sự và chuyển hồ sơ vụ án lên cho Tòa án cấp trên. (Trong trường hợp này nếu Tòa án cấp phúc thẩm đã thụ lý vụ án thì không có hướng xử lý vì các căn cứ để đình chỉ xét xử phúc thẩm quy định Điều 198 Luật TTHC không có dự liệu trường hợp này).

Đối với quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát thì Thẩm phán tập trung nghiên cứu nội dung của việc kháng nghị và xem việc kháng nghị có còn trong thời hạn hay không. (Chú ý: Không có việc kháng nghị quá hạn).

- Các hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ đã thực hiện:

Cần kiểm tra lại các hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ đã thực hiện và kết quả thu được qua việc thực hiện các hoạt động này đã đầy đủ hay chưa; Việc xác minh, thu thập chứng cứ có được tiến hành theo đúng thủ thục tố tụng hay không, còn vấn đề gì phải xác minh, thu thập và cần làm rõ thêm hay không.

- Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:

Cần kiểm tra có đương sự nào yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không, nếu có thì cần phải  xem xét quyền yêu cầu, hình thức, nội dung của đơn yêu cầu, nội dung biện pháp khẩn cấp tạm thời mà đương sự yêu cầu có phù hợp với quy định của Luật TTHC hay không? Các vấn đề cần làm rõ, các chứng cứ mà đương sự cần phải cung cấp là đầy đủ hay chưa để từ đó quyết định việc áp dụng hoặc từ chối áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà đương sự đã yêu cầu.

Trường hợp đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì cần kiểm tra lại tính hợp pháp của các căn cứ và thủ tục đã thực hiện; các khiếu nại và sự cần thiết của việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (nếu có).

- Các căn cứ để chuyển, tạm đình chỉ, đình chỉ, tách nhập vụ án và hoãn phiên tòa:

Nếu Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các hình thức trên thì phải kiểm tra xem việc ra quyết định tạm đình chỉ và đình chỉ có đúng với quy định tại Điều 118, 119, 139 Luật TTHC? Việc ra quyết định hoãn phiên tòa có đúng với quy định tại Điều 136 Luật TTHC? Việc ra quyết định chuyển vụ án có đúng với quy định tại Điều 32 Luật TTHC? Việc ra quyết định nhập, tách vụ án có đúng với quy định tại Điều 33 Luật TTHC?

- Kiểm tra thủ tục tố tụng chung:

Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính, Thẩm phán cần chú ý thủ tục tố tụng mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng xem có gì sai sót không. Ngoài những nội dung ở trên, cần tập trung chú ý những những vấn đề sau:

- Kiểm tra thành phần Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án, biên bản nghị án, biên bản phiên tòa xem có phù hợp với nhau hay không.

- Kiểm tra nội dung trong biên bản nghị án xem có phù hợp với nội dung bản án phát hành và bản án gốc hay không.

- Kiểm tra ngày, giờ trong các biên bản xem có phù hợp về mặt thời gian hay không.

- Kiểm tra thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng, thủ tục tạo điều kiện cho các bên đối thoại, thủ tục trưng cầu giám định, định giá tài sản, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thủ tục hoãn phiên tòa (nếu có) có thực hiện đúng pháp luật hay chưa.

(Chú ý: Thủ tục niêm yết văn bản tố tụng và thủ tục hoãn phiên tòa là những sai sót thường xuyên của Tòa án cấp sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện đúng quy định của pháp luật. Ví dụ: Để hoãn phiên tòa, thì phải khai mạc phiên tòa, thư ký báo cáo về sự vắng có mặt của đương sự, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau đó Hội đồng xét xử phải vào nghị án quyết định việc hoãn phiên tòa. Toàn bộ thủ tục trên phải được ghi nhận trong biên bản phiên tòa, nhưng trên thực tế Tòa án cấp sơ thẩm thường chỉ có quyết định hoãn phiên tòa mà không có biên bản nghị án về việc hoãn phiên tòa và biên bản phiên tòa ghi nhận thủ tục để hoãn phiên tòa).

4.2. Nghiên cứu tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính (giống với mục 9 phần II).

5. Đánh giá việc sử dụng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và quyết định của bản án sơ thẩm

Đánh giá, sử dụng chứng cứ là việc xác định giá trị chứng minh của các nguồn chứng cứ do đương sự cung cấp hoặc do Tòa án thu thập được và việc sử dụng các tài liệu, chứng cứ này để làm rõ và sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác.

Tòa án cấp phúc thẩm phải kiểm tra toàn diện những nội dung mà bản án sơ thẩm đã giải quyết. Phải xem xét những chứng cứ mà bản án sơ thẩm áp dụng là có đúng pháp luật hay không? Việc đánh giá chứng cứ của bản án sơ thẩm có phù hợp với thực tế khách quan và phù hợp pháp luật hay không? Xem xét các thủ tục mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng là có đúng pháp luật hay không?...

Trên cơ sở những nghiên cứu và đánh giá, Thẩm phán hình dung được tính đúng đắn ban đầu của bản án sơ thẩm và lên kế hoạch giải quyết tại phiên tòa phúc thẩm. Trên cơ sở những chứng cứ đã được làm rõ tại phiên tòa phúc thẩm, trên cơ sở tranh luận công khai và ý kiến của các bên, của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ có phán quyết chính xác và phù hợp pháp luật.

   Nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính là một thủ tục vô cùng quan trọng giúp Thẩm phán giải quyết vụ án đúng pháp luật. Có nghiên cứu hồ sơ mới giúp Thẩm phán điều khiển phiên tòa đúng pháp luật, làm rõ toàn bộ những tình tiết, chứng cứ của vụ án. Hoạt động xét xử tại phiên tòa chỉ là hoạt động “nổi” nối tiếp theo sau của hoạt động nghiên cứu hồ sơ. Nghiên cứu hồ sơ càng kỹ thì Thẩm phán càng chủ động hơn khi xét xử, nắm được mọi tình tiết và dự trù những diễn biến sẽ xảy ra tại phiên tòa.


BÀI 4:

KỸ NĂNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

 

Phiên tòa sơ thẩm hành chính là phiên tòa được tổ chức lần đầu tiên tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Phiên tòa sơ thẩm hành chính được quy định tại chương X Luật Tố tụng hành chính (từ Điều 125 đến Điều 165) có hiệu lực từ ngày 01-7-2011. Kết quả phiên tòa sơ thẩm có thể dẫn đến việc kết thúc giải quyết vụ án nếu không có kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân đối với các quyết định của Hội đồng xét xét xử như:

- Quyết định đình chỉ theo Điều 139 Luật TTHC.

- Ra bản án theo quy định tại Điều 164 Luật TTHC.

Phiên tòa cũng có thể phải tạm dừng nếu có lý do phải hoãn phiên tòa quy định tại Điều 136 Luật TTHC, hoặc tạm đình chỉ theo Điều 139 Luật TTHC.

Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là giai đoạn tố tụng tiếp theo sau khi kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử khi vụ án không thuộc trường hợp bị tạm hoãn, tạm đình chỉ, đỉnh chỉ. Mọi hành vi tố tụng trước đó như khởi kiện, xem xét đơn khởi kiện, thụ lý, xác minh, chứng minh, thu thập chứng cứ… đều nhằm phục vụ cho hoạt động xét xử  nếu vụ án được đưa ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm.

Khi tiến hành phiên tòa sơ thẩm cần phải nắm vững một số những quy định chung liên quan đến nguyên tắc chi phối hoạt động của phiên tòa sơ thẩm, các trường hợp hoãn phiên tòa và việc ban hành các quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Quy định của pháp luật về trình tự thủ tục của phiên tòa sơ thẩm bao gồm cả trước và sau khi phiên tòa kết thúc. Kỹ năng điều khiển phiên tòa và xử lý tình huống của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

1. Công việc chuẩn bị mở phiên tòa sơ thẩm

-  Kiểm tra hồ sơ vụ án:

Hồ sơ vụ án là toàn bộ các giấy tờ, tài liệu chứng cứ có liên quan đến vụ án phải được sắp xếp có trật tự, có hệ thống một cách khoa học để tiện cho việc sử dụng tại phiên tòa một cách nhanh nhất khi cần. Kiểm tra lại toàn bộ tài liệu chứng cứ trong hồ sơ như lời khai của các bên đương sự, tài liệu xác minh thu thập... xem xét lại tính hợp pháp của các văn bản tố tụng, các thủ tục tố tụng từ giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Việc triệu tập những người tham gia tố tụng, kiểm tra thành phần Hội đồng xét xử, người phiên dịch, người giám định, người làm chứng (nếu có) đã đầy đủ chưa và dự liệu trước các tình huống có thể xảy ra. Yêu cầu của nội dung kiểm tra là nhằm khắc phục những sai sót nếu có.

Chuẩn bị các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác (nếu có) cần thiết khi áp dụng giải quyết một vụ án cụ thể .

- Kiểm tra điều kiện vật chất:

Kiểm tra phòng xét xử, các trang thiết bị phục vụ cho phiên tòa, bảo vệ  phiên tòa… điều kiện vật chất đảm bảo cho phiên tòa tiến hành được thuận lợi, đạt kết quả tốt hơn.

2. Thủ tục bắt đầu phiên tòa

2.1. Những công việc thư ký phiên tòa phải làm khi phiên tòa bắt đầu

Thư ký tòa án phải ổn định trật tự, sau đó đọc nội quy phiên tòa và yêu cầu mọi người phải chấp hành. Kiểm tra các thành phần được triệu tập đến phiên tòa, nếu có người vắng mặt thì phải làm rõ lý do vắng mặt của họ để báo cáo Hội đồng xét xử. Khi Hội đồng xét xử vào làm việc Thư ký phải yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy. Việc điều khiển tiếp theo sẽ do Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử tiến hành.

2.2. Phần thủ tục khai mạc phiên tòa

Đây là giai đoạn mở đầu cho phần việc thuộc Hội đồng xét xử, thể hiện uy quyền của nhà nước, thể hiện tính trang trọng và uy nghiêm của phiên tòa. Bắt buộc mọi người trong phòng xử án phải nghiêm chỉnh thực hiện. Các bước thủ tục bắt đầu phiên tòa được quy định từ diều 142 đến điều 147 Luật TTHC. Chủ tọa phiên tòa là người giữ vai trò điều hành, có thể tóm tắt các công việc như sau: 

Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa, đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại những người tham gia tố tụng theo giấy triệu tập, phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ, giới thiệu thành phần Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng khác. Chủ tọa hỏi về yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu. Nếu ở giai đoạn này phát sinh tình huống phải xem xét hoãn phiên tòa thì phải được xem xét giải quyết theo các quy định tại các điều luật tố tụng tương ứng  hoặc tiếp tục xét xử. Mọi quyết định tại phiên tòa phải do Hội đồng xét xử quyết định theo đa số, việc hội ý có thể ngay tại phiên tòa hoặc vào phòng nghị án để bàn bạc tùy theo nội dung cần xem xét phức tạp hay đơn giản, rõ ràng hay chưa rõ ràng theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 138 Luật tố tụng hành chính.

Kết thúc thủ tục khai mạc, Chủ tọa phiên tòa cần hỏi các thành viên khác trong Hội đồng xét xử và Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, luật sư và các thành phần tham gia tố tụng khác xem họ có ý kiến gì nữa không. Nếu không còn có ý kiến gì khác thì Chủ tọa tuyên bố kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên tòa và chuyển sang phần hỏi.

Đây là giai đoạn khởi đầu cho phiên tòa có vai trò rất quan trọng đảm bảo cho phiên tòa được thực hiện các bước tiếp theo thành công tốt đẹp, là dấu ấn đầu tiên về khả năng của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

Xử lý một số tình huống tại phiên tòa sơ thẩm:

Các tình huống xảy ra tại phiên tòa có thể đã được dự liệu trước, cũng có thể ngoài dự liệu, và ở mỗi phiên tòa những tình huống đó không giống nhau. Do đó Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử tùy thuộc vào tình huống xảy ra để xử lý, khi xử lý phải tuân thủ quy định của pháp luật và Nghị quyết, thông tư hướng dẫn… và kinh nghiệm thực tiễn để giải quyết, có thể dẫn ra một số tình huống sau:

*Thủ tục phiên tòa sơ thẩm không cần sự có mặt của đương sự:

Đối với vụ án nội dung đã rõ ràng, có đủ chứng cứ, các bên thừa nhận chứng cứ, và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đương sự vắng mặt nhưng có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa. Người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập mà không có người đại diện tham gia phiên tòa nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

*Thay đổi thành phần Hội đồng xét xử:

Khi có đương sự yêu cầu thay đổi thành viên Hội đồng xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP để giải quyết cụ thể:

1- Được xem là có lý do có quan hệ thân thích, không khách quan vô tư khi xét xử nếu:

a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của đương sự;

b) Là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của đương sự;

c) Là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của đương sự;

d) Là cháu ruột của đương sự mà đương sự là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.

2- Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ là ngoài các trường hợp được quy định tại các khoản từ khoản 1 đến khoản 7 Điều 41 của Luật TTHC thì trong các trường hợp khác (như trong quan hệ tình cảm, quan hệ thông gia, quan hệ công tác, quan hệ kinh tế…) có căn cứ rõ ràng để có thể khẳng định là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án không vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Ví dụ: Hội thẩm nhân dân là anh em kết nghĩa của người khởi kiện; Thẩm phán là con rể của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…

Cũng được coi là có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ nếu trong cùng một phiên toà xét xử vụ án hành chính, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Toà án là người thân thích với nhau hoặc nếu Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên được phân công xét xử phúc thẩm vụ án hành chính có người thân thích là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án đó.

*Người làm chứng không có mặt tại phiên tòa và sự vắng mặt của họ gây khó khăn cho việc xét xử hoặc họ từ chối khai báo (Điều 11 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐT):

Hội đồng xét xử có thể ra quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiếp tục xét xử đồng thời ra quyết định dẫn giải người làm chứng đến phiên tòa trong trường hợp đã có giấy triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng. Trường hợp phải dẫn giải thì có thể thực hiện được trước khi tranh luận và quyết định dẫn giải phải được giao ngay cho lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân có thẩm quyền theo quy định tại thông tư 15/2003/TT-BCA (V19) ngày 10-9-2003 của Bộ Công an “Hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân”.

Hội đồng xét xử phải ghi nhận các trường hợp người làm chứng có thể từ chối khai báo nếu như lời khai của mình liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân hoặc việc khai báo đó có ảnh hưởng xấu, bất lợi cho đương sự là người có quan hệ thân thích với mình. Trong trường hợp này, Thẩm phán phải giải thích cho họ biết nếu việc từ chối khai báo không có căn cứ thì họ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

a) Liên quan đến bí mật nhà nước là liên quan đến những vấn đề (thông tin, tin tức, nội dung…) trong các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được pháp luật quy định là có các mức độ: “Tuyệt mật”, “Tối mật” hoặc “Mật”;

b) Liên quan đến bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân là liên quan đến bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân được pháp luật bảo vệ của chính người làm chứng;

c) Có ảnh hưởng xấu cho đương sự trong vụ án là người có quan hệ thân thích với mình là trường hợp nếu người làm chứng khai ra những điều mình biết thì ảnh hưởng xấu đến hạnh phúc, danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc ảnh hưởng xấu khác trong cuộc sống, công tác, sản xuất, kinh doanh của đương sự là người có quan hệ thân thích với người làm chứng.

Người làm chứng phải cam đoan trước tòa về quyền và nghĩa vụ của họ (trừ trường hợp họ là người chưa thành niên).

*Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án khác:

Sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm mà phát hiện việc giải quyết vụ án này là thuộc thẩm quyền của Toà án khác thì Toà án phải mở phiên tòa và tại phiên tòa Hội đồng xét xử vận dụng khoản 3 Điều 139 của Luật TTHC ra quyết định đình chỉ việc xét xử, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền (hướng dẫn tại khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP).

*Tại phiên tòa sơ thẩm, đương sự xuất trình quyết định hành chính mới:

Việc xuất trình quyết định hành chính mới có thể do người khởi kiện hoặc người bị kiện đưa ra. Cần chú ý các trường hợp: Nếu quyết định hành chính mới đó liên quan đến quyết định bị khởi kiện và thuộc thẩm quyền của Tòa án đang xét xử sơ thẩm vụ án (ví dụ quyết định mới có sửa đổi, bổ sung quyết định bị khởi kiện) thì Hội đồng xét xử phải xem xét luôn... Trường hợp quyết định liên quan đến quyết định đã bị khởi kiện nhưng không thuộc thẩm quyền Tòa án đang xét xử sơ thẩm vụ án (ví dụ quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính cấp trên của người bị kiện) thì Hội đồng xét xử đình chỉ việc xét xử và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền.

3. Phần kỹ năng hỏi tại phiên tòa

Việc hỏi tại phiên tòa được thực hiện theo quy định tại điều 148 Luật tố tụng hành chính là:

Hội đồng xét xử xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án bằng cách nghe ý kiến của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, đối chiếu các ý kiến này với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

Sau khi nghe xong lời trình bày của đương sự, việc hỏi từng người về từng vấn đề được thực hiện theo thứ tự Chủ toạ phiên toà hỏi trước rồi đến Hội thẩm nhân dân, sau đó đến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những người tham gia tố tụng khác và Kiểm sát viên.

Việc hỏi được thực hiện theo thứ tự như quy định từ Điều 149 đến Điều 156 và kết thúc việc hỏi phải đảm bảo yêu cầu như quy định tại Điều 157 Luật Tố tụng hành chính là: Khi nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì Chủ toạ phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác xem họ có yêu cầu hỏi vấn đề gì nữa không; trường hợp có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ thì Chủ toạ phiên toà quyết định tiếp tục việc hỏi.

Việc hỏi tại phiên tòa là một bước rất quan trọng để ra được quyết định tại bản án đúng pháp luật của Hội đồng xét xử. Theo quy định tại Điều 163 của Luật tố tụng hành chính thì Thẩm quyền của Hội đồng xét xử là:

1. Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan.

2. Hội đồng xét xử có quyền quyết định:

a) Bác yêu cầu khởi kiện, nếu yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật;

b) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật; buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật;

c) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên bố một số hoặc toàn bộ các hành vi hành chính là trái pháp luật; buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật;

d) Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật; buộc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật;

đ) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật; buộc cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh giải quyết lại vụ việc theo quy định của Luật cạnh tranh;

e) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; buộc cơ quan lập danh sách cử tri sửa đổi, bổ sung danh sách cử tri theo quy định của pháp luật;

g) Buộc cơ quan, tổ chức bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm do quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật gây ra;

h) Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người đứng đầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước.

*Một số kỹ năng cần lưu ý khi hỏi:

Theo quy định tại Điều 28 Luật Tố tụng hành chính thì đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là rất rộng và chưa có một thống kê nào để có thể xác định được có bao nhiêu loại văn bản hoặc hành vi hành chính có thể bị khởi kiện bằng vụ án hành chính do đó phải tùy vào đối tượng bị khởi kiện mà có cách hỏi để làm sáng tỏ sự việc cần được giải quyết, tuy nhiên có một số điểm chung cần lưu ý là:

Xuất phát từ đối tượng chứng minh trong vụ án hành chính là tính hợp pháp, hay không hợp pháp của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Do đó Hội đồng xét xử phải bám vào yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, sự phản biện của người bị kiện và ý kiến của người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, các chứng cứ của vụ án đối chiếu với văn bản pháp luật quy định để đặt ra những câu hỏi cần phải làm rõ tại phiên tòa.

Không hỏi những câu hỏi ngoài nội dung cần giải quyết và ngoài mục đích phải chứng minh trong vụ án.

Để việc hỏi được tiến hành đầy đủ và trúng nội dung cần giải quyết, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cần chủ động chuẩn bị đề cương theo một trình tự khoa học để hỏi các bên trình bày đầy đủ và rõ ràng, câu hỏi cần rõ ràng, sáng ý, và đảm bảo tính khách quan. Việc xưng hô tại phiên tòa phải tùy đối tượng để có cách xưng hô vừa đảm bảo nghiêm túc, đúng ngôn ngữ chuyên môn và cũng cần thể hiện được văn hóa giao tiếp.

Khi hỏi các thành viên của Hội đồng xét xử có thể phân công từng phần sao cho nhịp nhàng và phù hợp với từng người, tránh tình trạng Thẩm phán chủ tọa hỏi từ đầu đến cuối. Việc điều khiển phiên tòa là của Chủ tọa mọi người phải tôn trọng.

Nếu người được hỏi trình bày không đúng những vấn đề cần đặt ra hoặc nêu những vấn đề không cần thiết cho việc giải quyết vụ án, hoặc có thái độ trình bày không nghiêm túc, Chủ tọa phiên tòa hoặc thành viên khác của Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu họ không trình bày.

Nếu có những ý kiến khác nhau về cùng một vấn đề, cần thực hiện ngay việc đối chất để làm rõ sự thật khách quan, những vấn đề nào chưa rõ phải được làm rõ. Nếu trong một vụ án có nhiều nội dung, vụ án phức tạp, cần hỏi dứt điểm từng nội dung xong mới chuyển sang nội dung khác.

Nếu trong quá trình hỏi mà thấy rằng các bên có thể có đối thoại để tìm hướng giải quyết vụ án hoặc có thể thỏa thuận vấn đề bồi thường thiệt hại thì tạo điều kiện để các bên thực hiện.

Trước khi chuyển sang phần tranh luận Chủ tọa phiên tòa hỏi các vị Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự xem họ còn hỏi thêm nội dung gì nữa hay không, nếu không ai hỏi thêm nữa thì Chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phần hỏi chuyển sang phần tranh luận. Nội dung  tuyên bố trên cần ghi vào biên bản phiên tòa.

4. Phần tranh luận

Giai đoạn tranh luận tại phiên tòa là sự thể hiện rõ nét nhất nội dung tranh tụng tại phiên tòa, đảm bảo sự bình đẳng và khách quan giữa những người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng, thể hiện bản chất của nền dân chủ. Nội dung tranh luận là các bên đương sự trình bày ý kiến của họ, là việc đánh giá chứng cứ và đề xuất hướng giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử không tham gia vào việc tranh luận mà chỉ lắng nghe ý kiến đối đáp của các bên và định hướng cho các bên tranh luận vào đúng những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Trình tự phát biểu tranh luận được quy định tại Điều 158 Luật tố tụng hành chính như sau:

a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện phát biểu. Người khởi kiện có quyền bổ sung ý kiến;

b) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện phát biểu. Người bị kiện có quyền bổ sung ý kiến;

c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phát biểu. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến.

2. Trường hợp đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt tại phiên toà nhưng có gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Hội đồng xét xử phải công bố văn bản này tại phiên toà.

3. Trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ tự mình phát biểu khi tranh luận.

Trên thực tế do bức xúc cho rằng quyền lợi của mình bị xâm phạm nên các đương sự có thể có thái độ găy gắt, thậm trí có những lời lẽ lăng mạ, xúc phạm lẫn nhau. Trong trường hợp này Chủ tọa phiên tòa phải có thái độ dứt khoát nhưng bình tĩnh cắt ngang, không để hiện tượng trên tiếp diễn, phải nắm bắt kịp thời thái độ và diễn biến tâm lý của các bên để có cách xử lý đúng pháp luật nhưng không để họ định kiến với Tòa án.

Việc tranh luận về một vấn đề các bên chỉ được trình bày và đối đáp một lần không để lặp đi lặp lại. Kết thúc dứt điểm từng vấn đề. Khi các bên đương sự (bao gồm cả người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ) trình bày hết ý kiến tranh luận của mình thì Chủ tọa phiên tòa tuyên bố chấm dứt giai đoạn tranh luận.

Sau khi các vấn đề cần tranh luận các bên đã tranh luận xong. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của mình về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của người tham gia tố tụng hành chính... như quy định tại Điều 160 Luật tố tụng hành chính.

5. Nghị án

Sau khi kết thúc phần tranh luận, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án để nghị án.

Việc nghị án được thực hiện theo quy định tại Điều 161 Luật tố tụng hành chính cụ thể là:

Chỉ có các thành viên của Hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Khi nghị án, các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Trường hợp Hội đồng xét xử gồm năm thành viên thì Thẩm phán Chủ toạ phiên toà là người biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.

Khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, kết quả việc hỏi tại phiên toà và phải xem xét đầy đủ ý kiến của những người tham gia tố tụng, Kiểm sát viên.

Khi nghị án phải có biên bản ghi lại ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải được các thành viên Hội đồng xét xử ký tên tại phòng nghị án trước khi tuyên án.

Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài thì Hội đồng xét xử có thể quyết định thời gian nghị án, nhưng không quá 05 ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên toà.

Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại phiên toà và người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên toà biết giờ, ngày và địa điểm tuyên án; nếu Hội đồng xét xử đã thực hiện việc thông báo mà có người tham gia tố tụng vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc tuyên án theo quy định tại Điều 165 của Luật này.

Qua tranh luận hoặc qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc xét hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận.

Bản án sơ thẩm:

Nếu đã rõ ràng thì Hội đồng xét xử bàn bạc thống nhất hoàn chỉnh bản án để chuẩn bị cho việc tuyên án. Bản án phải đảm bảo các phần như quy định tại Điều 164 Luật tố tụng hành chính (mẫu viết bản án sơ thẩm có thể tham khảo Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03-12-2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung).

Theo quy định tại Điều 164 Luật tố tụng hành chính bản án gồm có 4 phần:

- Phần mở đầu;

- Phần nội dung (nhận thấy);

- Phần nhận định (xét thấy);

- Phần quyết định.

Cụ thể như sau:

Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên Toà án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên Hi đồng xét xử, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên; tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; những người tham gia tố tụng khác; đối tượng khởi kiện; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử.

Trong phần nội dung vụ án và nhận định của Toà án phải ghi yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện; đề nghị của người bị kiện; đề nghị, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhận định của Toà án; điểm, khoản, điều của văn bản quy phạm pháp luật mà Toà án căn cứ để giải quyết vụ án.

Trong nhận định của Toà án phải phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Trong phần quyết định phải ghi rõ các quyết định của Toà án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó.

Yêu cầu trình bày bản án là ngắn gọn, đầy đủ, nhưng lập luận phải chặt chẽ, căn cứ pháp luật để giải quyết vụ án phải rõ ràng, không sử dụng những từ, câu văn có thể hiểu khác nhau.

Đối với quyết định của bản án hành chính cần lưu ý một số sai sót dễ gặp phải như sau:

1. Tuyên án vượt quá thẩm quyền của Tòa án

Thực hiện chức năng giám đốc thẩm các bản án hành chính đã có hiệu lực pháp luật; tại phần quyết định của bản án của một số Tòa án nhân dân các cấp ở các địa phương thường có sai sót khi tuyên án.

Ví dụ 1: Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2010/HCST ngày 27/11/2010, Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh H đã quyết định: “Bác yêu cầu khởi kiện của ông Đ.V; giữ nguyên Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 07/4/2009 của Ủy ban nhân dân huyện T. L, tỉnh H về việc thu hồi  đất giao nuôi trồng thủy sản đã hết thời hạn”.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 02/2011/HCST ngày 27/02/2011, Tòa án nhân dân tỉnh H đã quyết định: “Bác kháng cáo của ông Đ.V; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2010/HCST ngày 27/11/2010 Tòa án nhân dân huyện T.L; Xử: Giữ nguyên Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 07/4/2009 của Ủy ban nhân dân huyện T. L, tỉnh H về việc thu hồi  đất giao nuôi trồng thủy sản đã hết thời hạn”.

Như vậy, căn cứ vào quy định tại Điều 163 và Điều 205 Luật TTHC, Hội đồng xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm tuyên vượt quá thẩm quyền; Hội đồng xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm cũng không phát hiện ra và cũng tuyên án vượt quá thẩm quyền. Trong nhiều trường hợp việc sai sót này đã bị kháng nghị do không thể khắc phục được.

2. Tuyên trái thẩm quyền của Tòa án

Ví dụ 2: Do việc tranh chấp đất có diện tích 1.100 m2 giữa gia đình bà T và gia đình ông Th; Uỷ ban nhân dân thị xã M, tỉnh B ban hành quyết định số 285/QĐ-UB ngày 18/7/2011 giải quyết tranh chấp đất đai với nội dung gia đình ông Th được quyền sử dụng diện tích đất trên, nhưng buộc gia đình ông Th bồi hoàn cho gia đình bà T với giá 2.700 đ/m2 theo bảng giá đất nông nghiệp theo Quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành quy định giá đất được đền bù khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế.

Bà T đã khiếu nại và khởi kiện đối với quyết định này với yêu cầu Tòa án nhân dân nhân dân thị xã M, tỉnh B huỷ quyết định số 285/QĐ-UB ngày 18/7/2011 và buộc gia đình ông Th phải bồi hoàn cho gia đình bà với giá 100.000đ/m2.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 01/2011/ST-HC, Tòa án nhân dân nhân dân thị xã M, tỉnh B đó quyết định: “Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T; Huỷ quyết định số 285/QĐ-UB ngày 18/7/2011của Uỷ ban nhân dân thị xã M, tỉnh B và buộc gia đinh ông Th phải bồi hoàn cho gia đình bà T với giá 50.000đ/m2”.

Lẽ ra, trong trường hợp này nếu thấy rằng quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã M không đúng thì Hội đồng xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy quyết định để giải quyết lại, nhưng lại tự mình giải quyết luôn tranh chấp đất đai trong trường hợp này là trái thẩm quyền. Do có kháng cáo, vụ án đang được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết.

3. Một số sai sót khác khi tuyên án

Ví dụ 3: Thực hiện Chỉ thị số 39/CT-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc kiểm tra, xử lý hành vi lấn chiếm, mua bán trái phép đất nông nghiệp, đất chưa sử dụng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh T; ngày 06/10/2008, Ủy ban nhân dân xã Sông Bình, huyện B có Báo cáo số 69/BC-UBND về tình hình lấn, chiếm đất trái phép trên địa bàn xã Sông Bình, trong đó có trường hợp của ông N (trú tại thôn 2, xã Sông Lũy, huyện B, tỉnh T).

Ngày 16/11/2008, Ủy ban nhân dân xã Sông Bình lập Biên bản vi phạm hành chính đối với ông N vì đã có hành vi chiếm đất chưa sử dụng do Ủy ban nhân dân xã Sông Bình quản lý với diện tích 31.004 m2. Sau khi biên bản được lập xong tại thực địa, Ủy ban nhân dân xã Sông Bình mời ông N đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã, yêu cầu ông N ký vào biên bản vi phạm hành chính và sơ đồ khu đất bị chiếm. Ông N không ký vào biên bản vi phạm hành chính và sơ đồ khu đất bị chiếm, với lý do diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng của ông N.

Căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính và Tờ trình số 2339/TTr-TNMT ngày 14/12/2008 của Phòng Tài nguyên và Môi trường; Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B đã ban hành Quyết định số 5066/QĐ-XPHC ngày 16/12/2008 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai đối với ông N với nội dung: Hình thức xử phạt chính bằng tiền là 15.000.000 đồng; biện pháp khắc phục hậu quả là yêu cầu ông N không được tác động vào phần đất có diện tích 31.004 m2 chưa sử dụng do ông N đã chiếm, khôi phục lại hiện trạng đất ban đầu như trước khi vi phạm và giao phần diện tích đất này cho Ủy ban nhân dân xã Sông Bình quản lý.

Cùng ngày 16/12/2008, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 5069/QĐ-UB thu hồi phần đất có diện tích 31.004 m2 chưa sử dụng do ông N đã chiếm và giao phần diện tích đất này cho Ủy ban nhân dân xã Sông Bình quản lý.

Không đồng ý với nội dung của 02 quyết định trên, ông N đã có đơn ngày 01/3/2009 khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B.

Căn cứ vào kết quả xác minh việc khiếu nại của ông N; ngày 02/7/2009, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B đã ban hành Quyết định số 3425/QĐ-UBND ngày 02/7/2009 giải quyết khiếu nại với nội dung: Kết luận việc khiếu nại của ông N đúng một phần; trên cơ sở đó đã chỉnh sửa lại số diện tích đất ông N chiếm đất chưa sử dụng do Ủy ban nhân dân xã Sông Bình quản lý tại Điều 1 của Quyết định số 5066/QĐ-XPHC ngày 16/12/2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Bắc Bình về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và Quyết định số 5069/QĐ-UB ngày 16/12/2008 của Ủy ban nhân dân huyện B về việc thu hồi đất chưa sử dụng bị chiếm (do tại 02 quyết định này xác định đất bị chiếm có diện tích là 31.004 m2, nhưng sau khi xác minh lại thì diện tích đất bị chiếm là 35.309,5 m2).

Ngày 24/9/2009, ông N đã khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân huyện B, yêu cầu Tòa án hủy các Quyết định số 5066/QĐ-XPHC ngày 16/12/2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và Quyết định số 5069/QĐ-UB ngày 16/12/2008 của Ủy ban nhân dân huyện B về việc thu hồi đất chưa sử dụng bị chiếm.

Sau khi Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh T thụ lý vụ án hành chính; ngày 30/11/2009, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B đã ban hành Quyết định số 6357/QĐ-UBND hủy bỏ Quyết định số 5066/QĐ-XPHC ngày 16/12/2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và Quyết định số 5069/QĐ-UB ngày 16/12/2008 của Ủy ban nhân dân huyện B về việc thu hồi đất chưa sử dụng bị chiếm với lý do việc lập Biên bản vi phạm hành chính làm căn cứ để ra quyết định không đúng quy định của pháp luật.

Ngày 06/4/2010, Ủy ban nhân dân huyện B tiếp tục ban hành Quyết định số 1022/QĐ-UBND về việc hủy bỏ Quyết định số 5069/QĐ-UB ngày 16/12/2008 của Ủy ban nhân dân huyện B về việc thu hồi đất chưa sử dụng bị chiếm đối với ông N với lý do việc lập Biên bản vi phạm hành chính của Công chức địa chính xã Sông Bình chưa đúng quy định của pháp luật.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2010/HCST ngày 24/12/2010, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh T đã quyết định: “Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N đề nghị hủy Quyết định số 5066/QĐ-XPHC ngày 16/12/2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và Quyết định số 5069/QĐ-UB ngày 16/12/2008 của Ủy ban nhân dân huyện B về việc thu hồi đất chưa sử dụng bị chiếm. Chấp nhận yêu cầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B về việc ban hành Quyết định số 6357/QĐ-UBND ngày 30/11/2009 và Quyết định số 1022/QĐ-UBND ngày 06/4/2010 về việc hủy các quyết định hành chính bị khiếu kiện. Về án phí: Trả lại cho ông N số tiền là 200.000đ tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm; Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B không phải nộp án phí hành chính sơ thẩm”.

Việc tuyên án đối với vụ án hành chính nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã có sai sót, các sai sót này được thể hiện:

Lý do việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 6357/QĐ-UBND ngày 30/11/2009 và Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 1022/QĐ-UBND ngày 06/4/2010 để hủy bỏ Quyết định số 5066/QĐ-XPHC ngày 16/12/2008 và Quyết định số 5069/QĐ-UB ngày 16/12/2008  là do việc lập Biên bản vi phạm hành chính của Công chức địa chính xã Sông Bình, huyện B chưa đúng quy định của pháp luật. Sau khi nhận được các quyết định nêu trên, ông N không rút yêu cầu khởi kiện và tại phiên tòa sơ thẩm, ông N vẫn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Do đối tượng khởi kiện là Quyết định số 5066/QĐ-XPHC ngày 16/12/2008 của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện B về việc xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định số 5069/QĐ-UB ngày 16/12/2008 của Ủy ban nhân dân huyện B về việc thu hồi đất đối với ông N đã bị hủy bỏ; mặt khác ông N cũng không có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại và thực tế không có thiệt hại do quyết định hành chính bị khiếu kiện gây ra. Căn cứ vào quy định tại điểm b, Mục 6 Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì trong trường hợp này, Tòa án phải bác yêu cầu khởi kiện của ông N vì đối tượng khởi kiện đã bị hủy bỏ; nhưng tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2010/HCST ngày 24/12/2010, Tòa án nhân dân huyện B lại chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N là không đúng quy định của pháp luật.

Trong trường hợp này, người khởi kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại Điều 34 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, nhưng tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2010/HCST ngày 24/12/2010, Tòa án nhân dân huyện B lại tuyên trả lại tiền tạm ứng án phí cho người khởi kiện là không đúng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã không xem xét, đánh giá tính hợp pháp đối với Quyết định số 3425/QĐ-UBND ngày 02/7/2009 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B là có sai sót, vì quyết định này mặc dù là quyết định giải quyết khiếu nại, nhưng có nội dung mới (đã sửa đổi đất bị chiếm có diện tích từ 31.004 m2 thành 35.309,5 m2).

Mặt khác, theo quy định của pháp luật thì trong quá trình giải quyết vụ án, người bị kiện có quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính bị khiếu kiện. Do vậy, trong trường hợp này tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2010/HCST ngày 24/12/2010, Tòa án nhân dân huyện B tuyên chấp nhận việc Ủy ban nhân dân huyện B ra các quyết định hủy bỏ các quyết định (là đối tượng khởi kiện trong vụ án) là không cần thiết.

6. Tuyên án

Việc tuyên án phải tuân thủ theo quy định tại điều 165 Luật tố tụng hành chính cụ thể là:

Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt được phép của Chủ toạ phiên toà. Chủ toạ phiên toà hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử đọc bản án; sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc thi hành bản án và quyền kháng cáo.

Trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết.

Lưu ý khi tuyên án phải đảm bảo theo đúng nghi thức của phiên tòa là Nhân danh nhà nước vì vậy phải thể hiện được sự trang nghiêm, mạch lạc, rõ ràng không vội vàng, không được nói ngọng.

Lưu ý: Kinh nghiệm thực tế cho thấy để toàn bộ phiên tòa được thực hiện suôn sẻ từ đầu đến cuối, đúng trình tự và phản ánh đầy đủ các nội dung cần thiết, tránh những thiếu sót, hoặc quên một nội dung nào đó (cả hình thức và nội dung), Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nên xây dựng một bản tóm tắt toàn bộ trình tự, thủ tục của phiên tòa từ khi bắt đầu vào phòng xét xử cho đến khi tuyên án (có thể có những nội dung cần chi tiết ví dụ các quyền và nghĩa vụ của các bên trong phiên tòa và sau phiên tòa…).


BÀI 5:

KỸ NĂNG XÉT XỬ PHÚC THM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

 

I. THỦ TỤC PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính, Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử vụ án hành chính, trừ trường hợp xét xử vụ án hành chính đối với khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Luật Tố tụng hành chính quy định thì có hiệu lực pháp luật; trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm vụ án hành chính có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án hoặc ban hành.

1. Tính chất của xét xử phúc thẩm vụ án hành chính

Xét xử phúc thẩm vụ án hành chính là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

2. Mục đích của xét xử phúc thẩm vụ án hành chính

Thông qua xét xử phúc thẩm vụ án hành chính, Tòa án cấp trên trực tiếp sẽ sửa chữa được những sai lầm, thiếu sót trong bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, đảm bảo việc giải quyết vụ án hành chính đúng pháp luật.

3. Trình tự, thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính

3.1. Các điều kiện kháng cáo, kháng nghị

Thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính chỉ phát sinh khi có kháng cáo hoặc kháng nghị hợp lệ. Do đó để thụ lý phúc thẩm vụ án hành chính, Tòa án cấp phúc thẩm phải kiểm tra các điều kiện kháng cáo, kháng nghị trên cơ sở hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và các tài liệu kèm theo (nếu có) mà Tòa án cấp sơ thẩm đã giao.

Các điều kiện kháng cáo, kháng nghị bao gồm:

*Quyền kháng cáo, thẩm quyền kháng nghị: Chỉ những người sau đây mới có quyền kháng cáo, kháng nghị:

- Người có quyền kháng cáo: Đương sự hoặc người đại diện của đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Điều 20 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

+ Đương sự là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Nếu không tự mình kháng cáo thì có thể uỷ quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo. 

+ Đương sự là cơ quan, tổ chức có quyền kháng cáo. Người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình làm đơn kháng cáo.

+ Người đại diện theo pháp luật của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có thể tự mình làm đơn kháng cáo.

Người đại diện theo pháp luật của đương sự có thể uỷ quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo.

- Người có quyền kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

*Đối tượng kháng cáo, kháng nghị:

Đối tượng mà đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo và Viện Kiệm sát có quyền kháng nghị để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm bao gồm: bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm

*Thời hạn kháng cáo, kháng nghị:

Người có quyền kháng cáo, người có quyển kháng nghị thực hiện quyền kháng cáo, quyền kháng nghị trong thời hạn do Luật TTHC quy định như sau:

- Thời hạn kháng cáo:

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án tuyên án; trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ cư trú hoặc nơi có trụ sở, trong trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức.

Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.

Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì.

Nếu người có quyền kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo quá thời hạn quy định nêu trên thì phải có quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của Tòa án cấp phúc thẩm.

- Thời hạn kháng nghị:

Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.

*Thủ tục kháng cáo, kháng nghị:

- Thủ tục kháng cáo:

Người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo. Nội dung và hình thức của đơn kháng cáo phải đảm bảo quy định tại Điều 175 của Luật TTHC.

Đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo. Gửi kèm theo đơn kháng cáo là tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Chú ý:

+ Đương sự là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính tự mình làm đơn kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của đương sự có kháng cáo. Đồng thời ở phần cuối đơn kháng cáo, đương sự đó phải ký tên hoặc điểm chỉ.

Trường hợp uỷ quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo uỷ quyền có kháng cáo; họ, tên, địa chỉ của đương sự uỷ quyền kháng cáo và văn bản uỷ quyền. Đồng thời ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo uỷ quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.

+ Người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức tự mình làm đơn kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi tên, địa chỉ của đương sự là cơ quan, tổ chức; họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức. Đồng thời ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo pháp luật phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó.

Trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức uỷ quyền cho người khác đại diện cho cơ quan, tổ chức kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo uỷ quyền kháng cáo; tên, địa chỉ của đương sự là cơ quan, tổ chức uỷ quyền; họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức đó và văn bản uỷ quyền. Đồng thời ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo uỷ quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.

+ Người đại diện theo pháp luật của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tự mình làm đơn kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đồng thời ở phần cuối đơn kháng cáo, người kháng cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ.

Trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự uỷ quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo uỷ quyền và văn bản uỷ quyền; họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật của đương sự uỷ quyền; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đồng thời ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo uỷ quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.

+ Việc uỷ quyền phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản uỷ quyền đó được lập tại Toà án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc cán bộ Toà án được Chánh án Toà án phân công. Trong văn bản uỷ quyền phải có nội dung đương sự uỷ quyền cho người đại diện theo uỷ quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm.

Trường hợp đơn kháng cáo chưa có đủ các nội dung quy định thì Tòa án cấp sơ thẩm phải yêu cầu người kháng cáo sửa đổi, bổ sung cho đầy đủ.

- Thủ tục kháng nghị:

Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát phải bằng văn bản. Nội dung và hình thức của quyết định kháng nghị phải đảm bảo các quy định tại Điều 182 của Luật TTHC.

Quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục quy định. Gửi kèm theo quyết định kháng nghị là tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ và hợp pháp.

*Nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm:

Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo cho người kháng cáo biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nếu họ không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Theo quy định tại Pháp lệnh về án phí, lệ phí tòa án thì mức tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm là 200.000 đồng.

Trường hợp người khởi kiện kháng cáo phần quyết định của bản án hành chính về phần bồi thường thiệt hại thì họ phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, trừ trường hợp họ không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định. Mức tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là 200.000 đồng.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Hết thời hạn này mà người kháng cáo không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì được coi là họ từ bỏ việc kháng cáo, trừ trường hợp có lý do chính đáng; Tòa án trả lại đơn kháng cáo cho đương sự.

*Gửi hồ sơ vụ án và đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị:

Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày:

- Người kháng cáo nộp đơn kháng cáo cho Tòa án cấp sơ thẩm, trong trường hợp người kháng cáo được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm;

- Người kháng cáo nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trong trường hợp người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm;

- Tòa án cấp sơ thẩm nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát.

*Thủ tục kháng cáo quá hạn:

Trường hợp người kháng cáo nộp đơn kháng cáo quá hạn thì người kháng cáo phải làm văn bản tường trình về lý do kháng cáo quá hạn và xuất trình tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc kháng cáo quá hạn là chính đáng.

Sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm.

Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục theo quy định và gửi hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm.

*Thông báo kháng cáo, kháng nghị:

- Khi gửi hồ sơ vụ án và đơn kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo.

- Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng nghị cho đương sự có liên quan đến kháng nghị.

Người được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị có quyền gửi văn bản ghi ý kiến của mình về nội dung kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm. Văn bản ghi ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.

3.2. Thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm vụ án hành chính

Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm phải vào sổ thụ lý.

Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm hoặc Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm Chủ tọa phiên tòa, phiên họp.

3.3. Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hành chính

*Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm:

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định sau đây:

- Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;

- Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, nhưng không được quá 30 ngày.

Chú ý: Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thì thời hạn chuẩn bị xét xử kết thúc vào ngày ra quyết định tạm đình chỉ. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bắt đầu tính lại, kể từ ngày Toà án cấp phúc thẩm tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn nữa.

*Gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp:

Sau khi thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.

*Xác minh, thu thập chứng cứ:

- Bổ sung chứng cứ mới: Bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở Tòa án cấp phúc thẩm thì người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đều có quyền bổ sung chứng cứ mới.

- Tiến hành xác minh chứng cứ mới được bổ sung:

Tòa án cấp phúc thẩm tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự tiến hành xác minh chứng cứ mới được bổ sung. Các biện pháp xác minh chứng cứ mới được bổ sung tại Tòa án cấp phúc thẩm được tiến hành như tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Tòa án cấp phúc thẩm có thể thực hiện ủy thác xác minh chứng cứ theo quy định tại Điều 86 của Luật TTHC.

Trường hợp kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án, Viện kiểm sát có thể tự mình thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án.

*Các thủ tục khác:

- Người khởi kiện rút đơn khởi kiện:

Theo quy định tại Điều 203 của Luật TTHC, người khởi kiện có quyền rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm.

Nếu người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa thì Tòa án cấp phúc thẩm vẫn phải mở phiên tòa và tại phiên tòa Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi người bị kiện có đồng ý hay không và tùy từng trường hợp mà giải quyết như sau:

+ Người bị kiện không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện;

+ Người bị kiện đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án theo thủ tục do Luật TTHC quy định nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

- Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị:

Người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết.

Người kháng cáo có quyền rút kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị.

Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được làm thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị; thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo của đương sự.

Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với vụ án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã rút kháng nghị. Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa quyết định.

- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời:

Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở cấp phúc thẩm, đương sự, người đại diện của đương sự có quyền yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm đang giải quyết vụ án đó áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Chương V của Luật TTHC.

- Ngoài ra trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải ra một trong các quyết định sau: quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử.

+ Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án nếu phát sinh căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật TTHC.

+ Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án trong các trường hợp sau đây:

·   Các trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 120 của Luật TTHC;

·   Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị;

·   Người kháng cáo được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;

·   Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.

Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án do người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị thì bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 60 ngày.

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP thì lý do chính đáng là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lường trước được như: cần phải có sự thay đổi, phân công lại người tiến hành tố tụng có tên trong quyết định đưa vụ án ra xét xử mà người có thẩm quyền chưa cử được người khác thay thế; vụ án phức tạp đã được xét xử nhiều lần ở nhiều cấp Toà án khác nhau, nên không còn đủ Thẩm phán để tiến hành xét xử vụ án đó mà phải chuyển vụ án cho Toà án cấp trên xét xử hoặc phải chờ biệt phái Thẩm phán từ Toà án khác đến... dẫn đến Toà án không thể tiến hành phiên toà trong thời hạn quy định.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.

II. KỸ NĂNG ĐIỀU KHIỂN PHIÊN TÒA PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. Do đó Thẩm phán phải nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo và quyết định kháng nghị để xác định những phần nào của bản án của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, trên cơ sở đó xác định đúng phạm vi xét xử phúc thẩm thì việc điều khiển phiên tòa sẽ thuận lợi, nhanh chóng, đảm bảo bản án phúc thẩm được ban hành đúng pháp luật.

1. Thủ tục bắt đầu phiên tòa

Thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như thủ tục xét xử sơ thẩm.

2. Thủ tục hỏi

Sau khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm thì một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm công bố nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị.

- Hỏi người khởi kiện có rút đơn khởi kiện hay không; hỏi người kháng cáo, Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị hay không?

Nếu người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi người bị kiện có đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện hay không? Nếu người bị kiện không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện, việc xét xử phúc thẩm vẫn được tiến hành theo quy định của Luật TTHC; Nếu người bị kiện đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Nếu người kháng cáo rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.

- Trường hợp có đương sự vẫn giữ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát vẫn giữ kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc thẩm bắt đầu xét xử vụ án bằng việc nghe lời trình bày của đương sự, Kiểm sát viên theo trình tự sau đây:

+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự kháng cáo trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo. Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến.

Trường hợp tất cả các đương sự đều kháng cáo thì việc trình bày được thực hiện theo thứ tự người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện kháng cáo và người khởi kiện; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện kháng cáo và người bị kiện; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị. Trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị;

+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến.

Trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị và đề nghị của mình.

- Hỏi các vấn đề khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.

- Việc công bố tài liệu, xem xét vật chứng tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện giống như tại phiên tòa sơ thẩm.

3. Tranh luận tại phiên tòa

Sau khi thực hiện xong phần hỏi thì Chủ tọa phiên tòa tuyên bố chuyển sang phần tranh luận. Thủ tục tranh luận được thực hiện như sau:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo trình bày tranh luận trước. Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến.

- Trường hợp tất cả các đương sự đều kháng cáo thì việc trình bày được thực hiện theo thứ tự người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện kháng cáo; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện kháng cáo; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo; Đương sự có quyền bổ sung ý kiến.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trình bày ý kiến tranh luận. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến.

- Trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự tranh luận.

- Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm.

4. Nghị án

Thủ tục nghị án được thực hiện giống như thủ tục nghị án tại phiên tòa sơ thẩm.

5. Tuyên án

Thủ tục tuyên án giống như thủ tục tuyên án tại phiên tòa sơ thẩm.

6. Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm tại phiên tòa

*Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm:

Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm khi phát sinh căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật TTHC.

*Đình chỉ xét xử phúc thẩm:

Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án khi phát sinh căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 198 của Luật TTHC.

*Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm:

Nếu xét thấy thủ tục giải quyết vụ án hành chính của Tòa án cấp sơ thẩm được thực hiện đúng các quy định của Luật TTHC hoặc không vi phạm nghiêm trọng, quyết định của bản án sơ thẩm được ban hành đúng pháp luật thì Hội đồng xét xử bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

*Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm:

Nếu xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong các trường hợp sau đây:

- Việc chứng minh và thu thập chứng cứ đã thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VI của Luật TTHC;

- Việc chứng minh và thu thập chứng cứ chưa thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ.

Thì tùy từng trường hợp cụ thể Hội đồng xét xử phúc thẩm xửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm.

*Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại:

Trong trường hợp bản án sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc có chứng cứ mới quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.

Ví dụ: Vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng như xác định sai người bị kiện, vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình mà thuộc thẩm quyền của Tòa án khác nhưng vẫn xử, đưa thiếu người tham gia tố tụng….

*Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án:

Trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án mà có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 120 của Luật TTHC mà Tòa án cấp sơ thẩm vẫn đưa vụ án ra xét xử thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án.

*Đình chỉ việc giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm:

Nếu việc xét xử phúc thẩm vụ án cần phải có mặt người kháng cáo và họ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm. Trong trường hợp này bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

III. THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM TRƯỚC KHI MỞ PHIÊN TÒA

1. Xét kháng cáo, kháng nghị quá hạn

Tòa án cấp phúc thẩm không phải mở phiên tòa khi xét kháng cáo, kháng nghị quá hạn. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xét kháng cáo quá hạn. Hộp đồng xét kháng cáo quá hạn có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định. Quyết định của Hội đồng phải được gửi cho người kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát cấp phúc thẩm.

2. Xét kháng cáo, kháng nghị về phần án phí

Khi xét kháng cáo, kháng nghị về phần án phí của bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm không phải mở phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm họp và ra quyết định. Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị về phần án phí.

3. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Chương V của Luật TTHC.

4. Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm

Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm khi phát sinh căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc thẩm theo quy định của Luật TTHC.

IV. THỦ TỤC PHÚC THẨM ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM BỊ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ

1. Thời hạn giải quyết

BÀI 6:

KỸ NĂNG SOẠN THẢO

CÁC QUYẾT ĐỊNH TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

 

Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án có thẩm quyền ban hành rất nhiều quyết định tố tụng hành chính khác nhau, như: Quyết định chuyển hồ sơ vụ án; Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ; Quyết định trưng cầu giám định; Quyết định định giá tài sản; Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ; Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án; Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa, v.v... Các quyết định này là những văn bản tố tụng ghi nhận các hoạt động tố tụng của Tòa án đồng thời xác định quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hành chính. Việc ban hành quyết định tố tụng hành chính nào tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng và theo yêu cầu của việc giải quyết vụ án hành chính. Do đó, đòi hỏi người Thẩm phán cần nắm vững nghiệp vụ chuyên môn cần có những kỹ năng soạn thảo quyết định tố tụng để việc soạn thảo một quyết định tố tụng hành chính đúng cả về hình thức lẫn nội dung theo những thể thức, thủ tục quy định.

   I. MỘT SỐ YÊU CẦU CỦA VIỆC SOẠN THẢO QUYẾT ĐỊNH TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

1. Yêu cầu về hình thức

Giống như các văn bản hành chính, việc soạn thảo và ban hành các quyết định tố tụng hành chính không thể tùy tiện mà phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính tại Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính.

1.1.Về thể thức

Quyết định tố tụng hành chính phải có các thành phần cấu thành văn bản hành chính như Quốc hiệu; tên Tòa án ban hành; số, ký hiệu văn bản; địa danh, ngày, tháng, năm ban hành văn bản; chữ ký, dấu, nơi nhận…

1.2. Về kỹ thuật trình bày

Việc soạn thảo quyết định tố tụng hành chính phải đảm bảo đúng yêu cầu về kỹ thuật trình bày văn bản, như sử dụng đúng giấy khổ A4, trình bày theo chiều dài của trang giấy khổ A4, định lề trang văn bản (Lề trên: cách mép trên từ 20-25 mm; Lề dưới: cách mép dưới từ 20-25 mm; Lề trái: cách mép trái từ 30-35 mm; Lề phải: cách mép phải từ 15-20 mm), phông chữ sử dụng trình bày văn bản trên máy vi tính là phông chữ tiếng Việt của bộ mã ký tự Unicode theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6909:2001, sử dụng đúng cỡ chữ, kiểu chữ… 

1.3. Về ngôn ngữ

Ngôn ngữ sử dụng trong các quyết định tố tụng hành chính là tiếng Việt. Câu cú rõ ràng, mạch lạc, đúng chính tả, đúng ngữ pháp. Từ ngữ sử dụng phải phổ thông, đại chúng, dễ hiểu, đúng thuật ngữ pháp lý. Hạn chế sử dụng từ địa phương.

Khi viện dẫn điều, khoản luật và các văn bản pháp lý liên quan phải tuyệt đối chính xác và theo đúng quy tắc về trật tự.

2. Yêu cầu về nội dung

Nội dung của quyết định tố tụng hành chính phải phản ánh rõ ràng, đầy đủ, chính xác đối tượng điều chỉnh, phạm vi áp dụng, nội dung quyền và nghĩa vụ tố tụng. Để đảm bảo tính hợp pháp về nội dung của quyết định thì khi soạn thảo phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Trước khi soạn thảo quyết định tố tụng phải xác định được mục tiêu và giới hạn điều chỉnh của quyết định, như quyết định này ban hành để làm gì, giải quyết việc gì, kết quả thực hiện do quyết định ấy mang lại là gì?

- Các thông tin được sử dụng để đưa vào quyết định phải được xử lý và đảm bảo chính xác, phù hợp quy định của pháp luật với đầy đủ các căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế, bảo đảm sự logic về nội dung, nhất quán về chủ đề, chặt chẽ về bố cục, khách quan khi ban hành.

- Ngôn ngữ phổ thông, đúng thuật ngữ pháp lý, cấu trúc câu đơn giản, dấu câu phải chính xác và đủ. Ví dụ: Sử dụng ngôn ngữ không đúng thuật ngữ pháp lý như “vị thành niên”, “nhân chứng”.

- Phải thể hiện được tính quyền lực nhà nước trong việc ban hành và thực hiện. Để bảo đảm tính công quyền thì việc ban hành quyết định phải bảo đảm có đẩy đủ căn cứ pháp lý, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và đúng hình thức.

Ví dụ (Phải đúng thẩm quyền): Trước khi mở phiên tòa, quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân do Chánh án Tòa án ban hành (khoản 1 Điều 46 của Luật TTHC).

- Các yêu cầu, mục tiêu mà quyết định hướng tới phải bảo đảm có thể thực hiện được.

3. Kiểm tra quyết định

Sau khi soạn thảo xong quyết định thì việc kiểm tra lại quyết định cả về hình thức lẫn nội dung trước khi ký và phát hành là một công việc hết sức quan trọng. Qua kiểm tra, chúng ta sẽ phát hiện và khắc phục kịp thời những sai sót trong quá trình soạn thảo.

II. KỸ NĂNG SOẠN THẢO QUYẾT ĐỊNH TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

1. Cấu trúc của quyết định tố tụng hành chính

*Phần đầu của quyết định gồm: Quốc hiệu; tên Tòa án ban hành; số, ký hiệu văn bản; địa danh, ngày, tháng, năm ban hành văn bản.

*Phần nội dung của quyết định: Là thành phần chủ yếu của văn bản thể hiện các vấn đề cần truyền tải. Nội dung của quyết định bao gồm cả phần căn cứ pháp lý để ban hành, phần mở đầu (họ tên, địa chỉ và địa vị pháp lý trong tố tụng của người tham gia tố tụng), phần xét thấy và phần quyết định.

*Phần cuối của quyết định: Thể hiện họ tên, chức vụ, chữ ký của người có thẩm quyền lập văn bản, con dấu của Tòa án và nơi nhận văn bản.

2. Quy trình soạn thảo quyết định tố tụng hành chính

Quy trình soạn thảo và ban hành quyết định tố tụng hành chính là trình tự các bước được sắp xếp khoa học mà Thẩm phán nhất thiết phải tiến hành trong công tác soạn thảo và ban hành quyết định tố tụng hành chính theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trình tự thời gian mà Luật Tố tụng hành chính quy định. 

Quy trình chung soạn thảo các quyết định tố tụng hành chính được thực hiện theo các bước sau:

- Thu thập, xử lý các thông tin:

Hoạt động này rất quan trọng của quy trình soạn thảo quyết định tố tụng hành chính. Một quyết định tố tụng hành chính đúng quy định của pháp luật phụ thuộc vào sự chính xác của các thông tin được sử dụng trong quyết định.

Thẩm phán có trách nhiệm thu thập các tình tiết sự kiện, nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kiểm tra các thông tin đó có căn cứ pháp luật để ban hành quyết định tố tụng hành chính không.

- Viết bản thảo:

Viết bản thảo nhằm kiểm tra xem nội dung của quyết định tố tụng có logic không, đã đầy đủ các ý cần trình bày chưa, các ý trình bày có phù hợp với mục đích ban hành quyết định không? sử dụng câu chữ đã phù hợp, đúng thuật ngữ pháp lý chưa? hình thức ban hành có đúng không?... nếu có sai sót sẽ sửa chữa, bổ sung kịp thời để một quyết định tố tụng hành chính đúng pháp luật.

- Hoàn thiện thủ tục hành chính để ban hành văn bản:

+ Kiểm tra lần cuối hình thức, nội dung quyết đinh trước khi ký tên;

+ Ghi số, ngày, tháng, năm ban hành văn bản;

+ Đóng dấu Tòa án;

+ Phát hành quyết định.

3. Phương pháp soạn thảo một số quyết định tố tụng hành chính tại Tòa án cấp sơ thẩm

3.1. Quyết định chấp nhận yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng

Tòa án chỉ chấp nhận yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng khi có các căn cứ pháp luật. Các căn cứ này được quy định tại các Điều 41, Điều 42, Điều 43, Điều 44 của Luật TTHC và Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án và Kiểm sát viên có thể bị đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự yêu cầu thay đổi. Trước khi mở phiên tòa, việc chấp nhận yêu cầu thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án do Chánh án Tòa án quyết định; nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì do Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp quyết định. Tại phiên tòa, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên do Hội đồng xét xử quyết định.

Khi soạn thảo quyết định chấp nhận yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, Thẩm phán phải thu thập đầy đủ, chính xác các tài liệu chứng cứ, đánh giá sự việc về mặt pháp lý, xác định xem sự việc đó thuộc căn cứ pháp luật nào để ban hành, thẩm quyền ra quyết định và viện dẫn đúng quy định của pháp luật.

Quyết định chấp nhận yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng về hình thức chưa có mẫu của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để sử dụng cho việc soạn thảo. Khi soạn thảo quyết định phải bao gồm phần đầu có các nội dung như Quốc hiệu; tên Tòa án ban hành; số, ký hiệu văn bản; địa danh, ngày, tháng, năm ban hành văn bản. Phần nội dung phải ghi “Căn cứ hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số...”; ghi họ tên, địa chỉ và địa vị pháp lý trong tố tụng của người tham gia tố tụng; ghi đánh giá, phân tích những tình tiết, sự kiện đương sự đưa ra để chứng minh cho yêu cầu của họ là hợp pháp; ghi căn cứ pháp lý để ban hành, thẩm quyền ra quyết định và ghi quyết định của Tòa án. Phần cuối ghi họ tên, chức vụ, chữ ký của người có thẩm quyền lập văn bản, con dấu của Tòa án và nơi nhận văn bản.

3.2. Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ

Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 86 của Luật TTHC lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ án hành chính.

Về cấu trúc của quyết định ủy thác thu thập chứng cứ cũng gồm ba phần: Phần đầu, phần nội dung và phần cuối.

Phần đầu được soạn thảo giống như phần đầu của quyết định chấp nhận yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng.

Phần nội dung phải ghi rõ tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện; ghi căn cứ pháp lý ban hành quyết định; ghi tên Tòa án nhân dân hoặc cơ quan có thẩm quyền khác được ủy thác thu thập chứng cứ; ghi cụ thể biện pháp thu thập chứng cứ và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ.

Phần cuối được soạn thảo giống như phần cuối của quyết định chấp nhận yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng. 

3.3. Quyết định tạm đình việc chỉ giải quyết vụ án hành chính

Tòa án có thể ban hành quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính khi có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật Tố tụng hành chính.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết thuộc Hội đồng xét xử.

Khi soạn thảo quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án phải thể hiện được các nội dung sau:

- Căn cứ pháp lý để Tòa án ban hành quyết định;

- Phân tích, đánh giá lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án;

- Nội dung quyết định tạm đình chỉ;

- Hiệu lực của quyết định tạm đình chỉ;

3.4. Quyết định đưa vụ án ra xét xử

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 117 của Luật TTHC, khi đã xây dựng hồ sơ vụ án xong, Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Khi soạn thảo quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung chính quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính, bao gồm:

- Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;

- Việc xét xử được tiến hành công khai hay xét xử kín;

- Tên, địa chỉ của những người tham gia tố tụng;

- Nội dung việc khởi kiện;

- Họ, tên của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, kiểm sát viên; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có).

4. Phương pháp soạn thảo một số quyết định tố tụng hành chính tại Tòa án cấp phúc thẩm

4.1. Quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Hội đồng xét kháng cáo quá hạnphải tổ chức phiên họp để xem xét lý do kháng cáo quá hạn. Nếu xét thấy việc kháng cáo quá hạn có lý do chính đáng thì Hội đồng ra quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn.

Quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn cũng gồm ba phần:

- Phần đầu có các nội dung như Quốc hiệu; tên Tòa án ban hành; số, ký hiệu văn bản; địa danh, ngày, tháng, năm ban hành văn bản.

- Phần nội dung phải thể hiện được các nội dung sau:

+ Thành phần Hội đồng xét kháng cáo quá hạn;

+ Ngày tháng năm kháng cáo quá hạn, lý do kháng cáo quá hạn;

+ Phân tích, đánh giá lý do kháng cáo quá hạn;

+ Căn cứ pháp lý ban hành quyết định;

+ Nội dung của quyết định.

- Phần cuối ghi họ tên, chức vụ, chữ ký của Hội đồng xét kháng cáo quá hạn, con dấu của Tòa án và nơi nhận văn bản.

4.2. Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính

Khi xem xét quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo (kháng nghị), nếu Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính của Tòa án cấp sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật thì khi soạn thảo quyết định phải thể hiện được các nội dung sau:

- Số, ngày tháng năm ra quyết định;

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm;

- Số, ngày, tháng, năm ra quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;

- Tên, địa chỉ của những người tham gia tố tụng;

- Lý do Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án;

- Ngày, tháng, năm kháng cáo (kháng nghị);

- Lý do kháng cáo (kháng nghị);

- Phân tích, đánh giá lý do đình chỉ giải quyết vụ án;

- Ý kiến của Viện kiểm sát cùng cấp về việc giải quyết kháng cáo (kháng nghị);

- Căn cứ pháp lý để Tòa án ra quyết định;

- Nội dung quyết định

5. Thực hành soạn thảo một số quyết định tố tụng hành chính

5.1. Thực hành soạn thảo quyết định tố tụng hành chính tại Tòa án cấp sơ thẩm

5.1.1. Quyết định chấp nhận yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng:

 

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN                                   CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

  (QUẬN)……….............                       Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

     Số: .../.../QĐST-HC               .........., ngày ... tháng ... năm ...

 

QUYẾT ĐỊNH CHẤP NHẬN YÊU CẦU

THAY ĐỔI NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG

TÒA ÁN NHÂN DÂN ………..

 

Căn cứ hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số………/………/TLST-HC ngày …… tháng ...... năm........ về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về giải quyết tranh chấp đất đai”, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông (bà)……………, sinh năm..................

Địa chỉ: ………………………………………………………...

2. Người bị kiện: ...................................................……….........

Trụ sở: ………………………………………………………...

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông (bà)……………………, sinh năm ……………………...

Địa chỉ: ………………………………………………………...

Xét thấy: .....................................................................................

Căn cứ Khoản 2 Điều 42 và Khoản 2 Điều 46 của Luật Tố tụng hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng trong vụ án là Hội thẩm nhân dân Nguyễn Văn A của ông (bà)......................................................................................................

2. Hoãn phiên tòa xét xử vụ án để Chánh án Tòa án nhân dân ............................................................... cử Hội thẩm nhân dân khác thay thế.

Nơi nhận:

- Những người tham gia tố tụng;

- VKSND cùng cấp;

- Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên và đóng dấu)

 

Họ và tên

5.1.2. Quyết định tạm đình chỉ  giải quyết vụ án hành chính:

    TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN                                 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

        (QUẬN) ………...............                   Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

          Số: .../.../QĐST-HC             .........., ngày ... tháng ... năm ...

 

QUYẾT ĐỊNH

TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN ………..

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

 

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông (bà) …………………....

Các Hội thẩm nhân dân: Ông (bà) ………………….................

                                               Ông (bà) ..........................................

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông (bà) ……  cán bộ Tòa án …………………….................................................................

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân ……………… tham gia phiên tòa: Ông (bà) …………………………… - Kiểm sát viên.

Căn cứ Điều 118; Khoản 1 Điều 139 của Luật Tố tụng hành chính;

Xét thấy người khởi kiện là cá nhân đã chết mà chưa có cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ trong tố tụng của cá nhân đó quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 118 của Luật Tố tụng hành chính.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số: ......./....../TLST-HC ngày .......... tháng ........ năm ......... về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về giải quyết tranh chấp đất đai”, giữa các đương sự:

 *Người khởi kiện: Ông (bà)………………………..................

Địa chỉ: ……………………………………………………......

*Người bị kiện: ..................................................…………........

Trụ sở: ………………………………………………………...

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông (bà)……………………………., sinh năm ……………...

Địa chỉ: ………………………………………………………..

Kể từ ngày ............ tháng ............ năm .............

2. Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án hành chính khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn.

3. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

 

Nơi nhận:

- Những người tham gia tố tụng;

- VKSND cùng cấp;

- Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên và đóng dấu)

 

Họ và tên

 

 


5.1.3. Quyết định hoãn phiên tòa:

 TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN                                 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

        (QUẬN)………...........                        Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

     Số: …/.../QĐST-HC                       ......, ngày ... tháng ... năm .....

 

QUYẾT ĐỊNH HOÃN PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN ………..

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

 

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông (bà) ……………………

Các Hội thẩm nhân dân:       Ông (bà) …………………........

                                                    Ông (bà) .....................................

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông (bà) ……………………... cán bộ Tòa án ……………………………..

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân ……………… tham gia phiên tòa: Ông (bà) …………………………… - Kiểm sát viên.

Đã tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án hành chính thụ lý số:......../........./TLST-HC ngày .......... tháng .......... năm ........., về việc  “Khiếu kiện quyết định hành chính về giải quyết tranh chấp đất đai”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: ....../......../QĐST-HC, ngày ....... tháng ..... năm ...........

Xét thấy: ....................................................................................

Căn cứ Điểm ......... Khoản .......... Điều 136, điểm ....... Khoản 2, Khoản 3 Điểu 137 của Luật Tố tụng hành chính;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hoãn phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số: ......../......./TLST-HC ngày ....... tháng .... năm...........

2. Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa xét xử vụ án được ấn định như sau:.......................................................................................

Nơi nhận:

- Những người tham gia tố tụng;

- VKSND cùng cấp;

- Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên và đóng dấu)

Họ và tên

5.2. Thực hành soạn thảo quyết định tố tụng hành chính tại Tòa án cấp phúc thẩm

5.2.1. Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án:

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH                                      CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

      (THÀNH PHỐ)………                         Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

     Số: .../.../QĐPT-HC                         ......., ngày ... tháng ... năm ...

 

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

 

TÒA ÁN NHÂN DÂN ………..

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

 

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông (bà) …………………..

Các Thẩm phán:                   Ông (bà) …………………..................

                                            Ông (bà) ...............................................

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông (bà) …………………….... cán bộ Tòa án ……………………………..

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân ……………… tham gia phiên họp: Ông (bà) …………………………… - Kiểm sát viên.

 

NHẬN THẤY:

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số ……../………/QĐST-HC ngày ……. tháng …… năm ……., Tòa án nhân dân huyện (quận) ….................... đã căn cứ Điểm d Khoản 1 Điều 109, Điểm đ Khoản 1 Điều 120 của Luật Tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường hỗ trợ thiệt hại và tái định cư”, giữa:

1. Người khởi kiện: Ông (bà)……………, sinh năm …….........

Địa chỉ: …………………………………………………….....

2. Người bị kiện: ...................................................………….....

Trụ sở: …………………………………………………………

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông (Bà)…………………………..., sinh năm ………………

Địa chỉ: ………………………………………………………..

Với lý do: Ông (bà)…………….. chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính.

Tại đơn kháng cáo ngày …. tháng…. năm……, ông (bà)…………đã kháng cáo toàn bộ quyết định sơ thẩm nêu trên, với lý do ..............................

 

XÉT THẤY:

 

Ngày 24 tháng 9 năm 2009, Ủy ban nhân dân huyện ……. ban hành Quyết định số 10346/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư đối với hộ ông (bà)…………… do có nhà đất bị giải tỏa toàn bộ trong dự án xây dựng công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm Kênh Tham Lương – Bến Cát trên địa bàn huyện ………………..

Ngày 05 tháng 10 năm 2009 ông (bà)…………… đã nhận quyết định trên tại Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng huyện ……………….. .

Ngày 16 tháng 01 năm 2012, Tòa án nhân dân huyện ……………….. nhận được đơn khởi kiện của ông (bà)…………… đề ngày 04/01/2012.

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/01/2012 (có đóng dấu công văn đến của Tòa án nhân dân huyện ............. ngày 16/01/2012), ông (bà) trình bày “Ngày 05/10/2009, tôi nhận được quyết định số 10346/QĐ-UBND ngày 24/9/2009, khi xem xong tôi thấy số liệu đền bù giống như quyết định số 17335/QĐ-UBND ngày 27/8/2009 do Ủy ban nhân dân huyện đã thu hồi hủy bỏ. Ngày 06/10/2009, tôi đem trả ban đền bù quyết định số 10346/QĐ-UBND ngày 24/9/2009 vì tôi đã đồng ý cách giải quyết của quyết định số 2900/QĐ-UBND ngày 27/3/2009 nên tôi không đi khiếu nại quyết định số 10346/QĐ-UBND ngày 24/9/2009”.

Như vậy, kể từ khi nhận được Quyết định số 10346/QĐ-UBND ngày 24/9/2009 của Ủy ban nhân dân huyện …………. cho đến ngày 01/7/2011 (ngày Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực), ông (bà) chưa thực hiện việc khiếu nại đối với Quyết định số 10346/QĐ-UBND ngày 24/9/2009 của Ủy ban nhân dân huyện …………. đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện …………. . Do đó, theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 56/2010/NQ-QH12  ngày 24-11-2010 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính và Điều 4 Nghị quyết số 01/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24-11-2010, ông (bà)………………chưa có đủ điều kiện để  khởi kiện vụ án hành chính về quản lý đất đai tại Tòa án nhân dân theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. 

Tòa án nhân dân huyện …………. căn cứ vào Điểm d Khoản 1 Điều 109, Điểm đ Khoản 1 Điều 120 của Luật Tố tụng hành chính để ra quyết đình chỉ giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.

Kháng cáo của ông (bà) không có cơ sở để chấp nhận.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh ………………… cũng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của ông (bà)…….., giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, ông (bà)…………. là người kháng cáo phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ Điều 190, Điều 207 của Luật Tố tụng hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính số ………/………./QĐST-HC ngày …… tháng …… năm …….. của Tòa án nhân dân huyện (quận)……..

2. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông (bà)…………. phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm là 200.000 đồng mà ông (bà)……. đã nộp theo biên lai thu số AH/2011/08390 ngày 15/6/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện (quận) …………... Ông (bà)……………….đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

 

Nơi nhận:

- TAND huyện ……;

- VKSND tỉnh……..;

- Chi cục THADS huyện…..;

- Các đương sự;

- Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

(Ký tên và đóng dấu)

 

 

Họ và tên

5.2.2. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính:

 TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH                                     CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

   (THÀNH PHỐ)……….......                   Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

     Số: .../.../QĐPT-HC                        .........., ngày ... tháng ... năm ...

 

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN ………..

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

 

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông (bà) ……………………

Các Thẩm phán: Ông (bà) …………………..............................

                             Ông (bà) ...........................................................

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông (bà) ……………………………. cán bộ Tòa án ……………………....

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh (thành phố) ……………… tham gia phiên tòa: Ông (bà) …………………………… - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Sau khi xét xử sơ thẩm bản án hành chính sơ thẩm số ……../………/BAHC-ST ngày ……. tháng …… năm ……. của Tòa án nhân dân huyện (quận) ….................... bị kháng cáo như sau:

Ngày ....... tháng ........ năm, người khởi kiện ............. kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, với lý do Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét hết các tình tiết của vụ án làm ảnh hưởng đến quyến lợi chính đáng của ông.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện ............... đã rút toàn bộ kháng cáo quy định tại điểm...... khỏan....... Điều......... của Luật Tố tụng hành chính.

Căn cứ Điều 27, Khỏan 4 Điều 195, Điểm b Khoản 1 Điều 198 của Luật Tố tụng hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số:...../..../TLPT-HC ngày........... tháng............. năm........... về việc “.........”, giữa:

* Người khởi kiện: Ông (bà)……………………………….......

Địa chỉ: ………………………………………………………..

* Người bị kiện: ....................................................………….....

Trụ sở: ………………………………………………………...

*  Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông (Bà)…………………………., sinh năm ……………….

Địa chỉ: …………………………………………………….....

2. Bản án hành chính sơ thẩm số:........./........./BAHC-ST ngày....... táhng...... năm...... của Tòa án nhân dân............... có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định này.

3. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông (bà).......... phải chịu án phí hành chính phúc thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 200.000 đồng mà ông (bà)....... đã nộp theo biên lai thu tiền số ........ ngày ......... tháng .......... năm .......... của Chi cục Thi hành án dân sự .......... Ông (bà) ........ đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm.

 

Nơi nhận:

- TAND huyện ……;

- VKSND tỉnh……..;

- Chi cục THADS huyện…..;

- Các đương sự;

- Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên và đóng dấu)

 

 

Họ và tên

 

 

 


BÀI 7:

KỸ NĂNG SOẠN THẢO BẢN ÁN HÀNH CHÍNH

                                                                   

I. KHÁI QUÁT VỀ BẢN ÁN HÀNH CHÍNH

Căn cứ vào Luật tố tụng hành chính có thể khái niệm: Bản án hành chính là văn bản tố tụng quyết định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật hành chính phát sinh tranh chấp. Bản án hành chính do Hội đồng xét xử nhân danh nước Cộng hòa xã hôi chủ nghĩa Việt Nam ban hành tại phiên tòa và có hiệu lực thi hành nếu không có kháng cáo kháng nghị, hoặc đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, không còn quyền kháng nghị, kháng cáo. Bản án có thể là bản sơ thẩm, bản án phúc thẩm, bản án giám đốc thẩm, tái thẩm. Có thể nói đấy là văn bản tố tụng quan trọng nhất bởi nó thể hiện hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án vào việc phán quyết đối với một khiếu kiện hành chính cụ thể. Tòa án đưa ra phán quyết của mình về tính hợp pháp của đối tượng bị khởi kiện, và quyết định của Tòa án có tính rằng buộc về mặt pháp lý đối với những người tham gia tố tụng.

Bản án hành chính là một loại văn bản tố tụng nó được quy định bằng một thể thức thể hiện nhất định thống nhất giữa hình thức và nội dung, nếu việc thể hiện bản án không đảm bảo các quy định về hình thức hoặc nội dung sẽ dẫn đến hậu quả bản án sẽ không có hiệu lực thi hành.

Theo điều 163 Luật tố tụng hành chính có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2011 thì bản án sơ thẩm hành chính được quy định:

“1. Hội đồng xét xử sơ thẩm ra bản án sơ thẩm nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Bản án gồm có phần mở đầu, phần nội dung vụ án và nhận định của Toà án, phần quyết định.

3. Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên Toà án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên; tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; những người tham gia tố tụng khác; đối tượng khởi kiện; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử.

4. Trong phần nội dung vụ án và nhận định của Toà án phải ghi yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện; đề nghị của người bị kiện; đề nghị, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhận định của Toà án; điểm, khoản, điều của văn bản quy phạm pháp luật mà Toà án căn cứ để giải quyết vụ án.

Trong nhận định của Toà án phải phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

5. Trong phần quyết định phải ghi rõ các quyết định của Toà án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó’’.

Theo quy định trên thì bản án phải có 4 phần và từng phần có những yêu cầu riêng và cụ thể, tuy nhiên khi thực hiện các bản án còn có những điểm khác nhau, có những bản án còn có vi phạm, hoặc không rõ ràng làm ảnh hưởng đến hiệu lực, và giá trị pháp lý của bản án. Hiện tại Tòa án nhân dân tối cao cũng chưa có hướng dẫn chi tiết về việc viết bản án hành chính.

Hình thức và nội dung của một bản án phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tính chất của tranh chấp, thành phần của Hội đồng xét xử, yêu cầu của các bên, quá trình giải quyết việc tranh chấp…

Tuy nhiên có một số yêu cầu nhất định mà các bản án phải thể hiện được như:

Bản án phải nêu rõ nội dung khiếu kiện hành chính đã được thụ lý giải quyết,  phải phản ánh khách quan, chính xác tình tiết sự việc, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và nhận thức đúng về quy định của pháp luật để áp dụng giải quyết tranh chấp, phải thể hiện được rõ ràng, rành mạch yêu cầu nào được Tòa án chấp nhận, yêu cầu, đề nghị nào không được Tòa án chấp nhận và căn cứ vào đâu để Tòa án quyết định như vậy.

Căn cứ vào quy định của pháp luật tố tụng và thực tiễn, tại chuyên đề này tôi xin nêu ra một số vấn đề nhằm thống nhất cách hiểu và thể hiện bản án hành chính sơ thẩm và phúc thẩm, những sai sót thường mắc phải và những điểm đáng lưu ý sự khác biệt giữa án hành chính và các loại án khác khác.

II. KỸ NĂNG SOẠN THẢO BẢN ÁN SƠ THẨM

1. Phần mở đầu

Các nội dung cần thể hiện tại phần mở đầu như quy định tại phần 3 điều 163 Luật tố tụng hành chính nêu trên. Cách thức thể hiện văn bản có thể tham khảo tại Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03-12-2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung.

Cần lưu ý một số điểm như sau:

Nếu phiên tòa được xét xử và kết thúc trong một ngày thì ngày của bản án là ngày mở phiên tòa, ngày mở phiên tòa phải phù hợp với ngày ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử đã được tống đạt cho những người tham gia tố tụng. Nếu phiên tòa được xét xử kéo dài thì ngày của bản án là ngày tuyên án.

Phần ghi Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán, và chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân.

Nếu phiên tòa được tiến hành trong nhiều ngày thì phần phiên tòa được tiến hành ghi từ ngày…đến ngày, nếu không liên tục thì ghi trong các ngày…

Nếu vụ án có người được ủy quyền hoặc người đại diện thì sau phần ghi tên đương sự thì ghi tên người đại diện hoặc người được ủy quyền. Người đại diện có quan hệ huyết thng thì ghi mối quan hệ đó (thí dụ bà Nguyễn Thị A là mẹ đẻ của Nguyễn Văn B); trường hợp ủy quyền thì ghi văn bản ủy quyền tại..., ngày... tháng... năm….

Việc ghi tên đương sự là cơ quan hay tổ chức không được viết tắt, và phải xác định theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vảo phần ghi trong quyết định ví dụ: Quyết định thu hồi đất của UBND huyện A nhưng lại do chủ tịch huyện A ký thì không thể xác định quyết định thu hồi đất của Chủ tịch UBND huyện A . Trường hợp nếu là Doanh nghiệp tư nhân khởi kiện thì phải xác định ông Nguyễn Văn A là chủ doanh nghiệp tư nhân.

Phần ghi đối tượng bị khởi kiện phải xác định đầy đủ và chính xác đối tượng bị khởi kiện là quyết định hành chính nào, số, ngày, tháng, năm và người ban hành. Nếu là hành vi hành chính bị khởi kiện thì xác định rõ hành vi đó là hành vi nào…

Việc xác định đúng, đầy đủ, chính xác đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính đã được tòa án thụ lý, đặc biệt đối với nhiều quyết định hành chính bị khởi kiện, hoặc vừa khởi kiện quyết định hành chính, vừa khởi kiện hành vi hành chính sẽ tránh được sai lầm trong việc xác định thẩm quyền giải quyết và phạm vi xét xử của Tòa án đối với yêu cầu của người khởi kiện.

2. Phần nội dung (phần nhận thấy)

Là phần phản ánh diễn biến của sự việc làm phát sinh quan hệ pháp luật hành chính tranh chấp và quá trình giải quyết khiếu nại từ khi bắt đầu cho đến khi sự việc được khởi kiện tại Tòa án. Quá trình giải quyết tại Tòa án. Tòa án phải dựa trên các thông tin do các bên đương sự trong vụ án đưa ra để tóm tắt lại, trong đó có các tình tiết các bên thống nhất và các tình tiết các bên chưa thống nhất, các tình tiết thực tế. Các tình tiết có giá trị cần thiết để hiểu đúng sự việc và cần xem xét giải quyết. Yêu cầu chung trong việc xác định tình tiết của sự việc phải đầy đủ, khách quan phản ánh được lôgic trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau giữa các tình tiết, sự kiện của vụ án. Việc sắp xếp các tình tiết, sự kiện cần theo diễn biến thời gian của sự kiện. Tùy theo loại việc phải xác định được trình tự, thủ tục, nội dung và thẩm quyền xử lý để sắp xếp diễn biến sao cho dễ hiểu và dễ dàng đánh giá.

Diễn biến thường theo trình tự như: một sự kiện xảy ra, tiếp sau đó là sự can thiệp của Nhà nước, có thể thông qua một hoặc một số quyết định, hoặc hành vi hành chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước  theo quy định của pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của một cá nhân, cơ quan, tổ chức mà người này cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm nên họ đã thực hiện việc khởi kiện ra Tòa.

Trong phần nội dung của bản án phải phản ánh được những nội dung cơ bản sau:

- Yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

- Ý kiến của người bị kiện về những yêu cầu của người khởi kiện đối với người bị kiện.

- Yêu cầu phản tố của người bị kiện.

- Đề nghị và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan.

Trong phần yêu cầu khởi kiện phải phản ảnh đầy đủ và chính xác yêu cầu khởi kiện không được bỏ sót. Xác định quyền của chủ thể theo quy định của điều 28 Luật tố tụng hành chính, trên cơ sở yêu cầu khởi kiện, các bên trong vụ án phải đưa ra căn cứ của mình về yêu cầu khởi kiện, căn cứ của các bên đưa ra trong vụ án hành chính là những tình tiết, lập luận dựa trên cơ sở của pháp luật để họ chứng minh cho yêu cầu của mình là đúng pháp luật và yêu cầu Tòa án bảo vệ. Nếu có phản tố, hoặc có yêu cầu độc lập thì các bên, người nêu ra các vấn đề này cũng phải đưa ra các căn cứ pháp lý để chứng minh cho yêu cầu của mình là đúng và yêu cầu tòa án bảo vệ, bên có liên quan có quyền đưa ra ý kiến của mình để yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Các tình tiết của sự việc và ý kiến của các bên phải được kiểm tra tại phiên tòa. Tòa án phải tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên theo quy định của pháp luật như quyền khởi kiện, rút đơn khởi kiện, bổ sung, sửa đổi yêu cầu khởi kiện, quyền yêu cầu đối thoại. Hội đồng xét xử phải đưa ra những quyết định đúng đắn về những yêu cầu của những người tham gia tố tụng và những vấn đề phát sinh từ những yêu cầu đó. Hội đồng xét xử không xem xét những vấn đề đương sự không yêu cầu hoặc ngoài những vấn đề mà các bên yêu cầu.

Phần này bản án phải xác định rõ yêu cầu khởi kiện và đối tượng bị khởi kiện. Theo quy định tại Điều 28 của Luật tố tụng hành chính người khởi kiện có quyền khởi kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính… song song với yêu cầu đó người khởi kiện cũng có thể yêu cầu khôi phục hậu quả, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại.

Ngoài ra người khởi kiện cũng có quyền yêu cầu Tòa án xem xét nhằm hủy bỏ đối với quyết định hành chính đã được xử lý xong thông qua việc sửa đổi hoặc hủy bỏ (rút lại) hợp pháp của cơ quan hành chính trước và trong quá trình khiếu kiện vụ án hành chính (Điều 10 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29-7-2011). Thực tiễn xét xử cho thấy có Tòa án vẫn còn sai sót do bỏ sót yêu cầu hoặc xác định sai đối tượng khởi kin, sai thẩm quyền.

Nếu vụ án đã được xem xét giải quyết qua các bước tố tụng, cũng cần được phản ánh để hiểu rõ về diễn biến ví d: Vụ án đã tạm đình chỉ giải quyết, vụ án có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, có trưng cầu giám định, định giá…

Tóm lại mục tiêu của phần nội dung vụ án là làm rõ diễn biến của sự việc và những vấn đề cần giải quyết.

3. Phần nhận định (phần xét thấy)

Cơ cấu của phần này là nhận định về tố tụng (thẩm quyền vụ việc), nhận định về yêu cầu của đương sự (đó là yêu cầu của người khởi kiện, ý kiến của người bị khởi kiện và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) nhận định về các chi phí tố tụng (nếu có) và về án phí vụ án.

Phần nhận định của bản án là phần nhận xét, lập luận của Hội đồng xét xử về từng vấn đề mà các bên đương sự đã yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, khi phân tích Tòa án phải căn cứ vào vào quy định của pháp luật để đánh giá, phải gắn liền với điều luật hoặc quy định của văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực điều chỉnh nội dung các bên đang tranh chấp. Sau mỗi phần lập luận, phân tích về một vấn đề cần giải quyết liên quan đến đối tượng bị khởi kiện, phải xác định rõ quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện có hợp pháp hay không, và đối chiếu với những yêu cầu, đề nghị của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có) để chấp nhận, hoặc không chấp nhận yêu cầu của đương sự. Các bên đương sự trong vụ án hành chính có quyền được đưa ra các chứng cứ và lý lẽ để biện hộ cho yêu cầu của mình, trả lời, đối đáp lại những điểm mà hội đồng xét xử nêu ra hoặc ý kiến về sự việc. Hội đồng xét xử phải có nhận định về những ý kiến của họ là có căn cứ hay không, căn cứ quy định cụ thể nào của pháp luật để nhận định như vậy. Nhận định phải rõ ràng, mạch lạc, chính xác và thống nhất. Sự rõ ràng, mạch lạc được thể hiện qua từng câu, và một loạt câu trong mối liên kết chặt chẽ với nhau. Câu phải đặt ngữ pháp chuẩn và phổ thông. Khi sử dụng các thuật ngữ pháp lý, hoặc từ ngữ chuyên ngành thì phải đúng văn bản quy phạm pháp luật đã có quy định, nếu gặp phải những thuật ngữ khó hiểu, hoặc dễ gây hiểu sai thì phải có nhận định giải thích để đảm bảo sự nhận biết đúng vấn đề đã nêu.

3.1. Về trình tự lập luận trong bản án

Nếu vụ việc phức tạp nên nhận định riêng biệt đối với từng yêu cầu hoặc từng nhóm nội dung khiếu kiện có liên quan đến nhau các kết luận của Hội đồng xét xử về từng yêu cầu đó.

Khi nhận định tính hợp pháp của quyết định hành chính nên xem xét tiêu chí về hình thức trước như thẩm quyền ban hành, thủ tục ban hành, thời hạn ban hành, thể thức thể hiện của văn bản…; những vấn đề trên có đúng quy định của pháp luật không, nếu có sai sót thì sai sót đó có ảnh hưởng đến nội dung không, và có ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan không. Nếu có vi phạm về hình thức nhưng không nghiêm trọng và không làm thay đổi bản chất của sự việc và không ảnh hưởng quyền lợi của các bên liên quan thì tùy từng trường hợp mà có phán quyết cho phù hợp.

Tiếp đến nhận định về nội dung của quyết định như: Xác định pháp luật áp dụng, đánh giá các nội dung đã được thể hiện trong quyết định mà các bên có tranh chấp, việc áp dụng quy phạm pháp luật vào tình tiết sự kiện cụ thể có đúng thực tế không và có căn cứ pháp lý không; các biện pháp xử lý được áp dụng, mức độ quyền hạn… Việc đánh giá được thể hiện thông qua việc nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án do các đương sự xuất trình, cơ quan chức năng cung cấp theo yêu cầu của Tòa án, thông qua việc trình bày của các đương sự, và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa, thông qua việc tranh luận...

Khi nhận định về hành vi hành chính cần phân biệt giữa hành vi hành động và hành vi không hành động.

Việc đầu tiên phải xác định hành vi hành chính bị khởi kiện là hành vi nào, đối chiếu với pháp luật nó được quy định ở đâu hay phát sinh từ đâu, hành vi đó có phải phải là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính không. Tiêu chí để đánh giá tính hợp pháp của hành vi hành chính đối vời hành vi hành động. Xem xét người bị kiện đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, hoặc đúng nội dung của quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật quy định vể hành vi đó. Ngoài ra chúng ta phải xem thời gian phải thực hiện hành vi hành chính, về trình tự, thủ tục thực hiện hành vi hành chính.

Đối với hành vi không hành động, dạng này được thể hiện khi người bị kiện không thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi chức trách của họ theo quy định của pháp luật mà cá nhân, cơ quan, tổ chức không đồng ý với việc không thực hiện nhiệm vụ đó của họ và yêu cầu Tòa án buộc người bị kiện phải thực hiện hành vi hành chính đó theo quy định của pháp luật. Khi xem xét về hành vi không hành động cũng phải xem xét về tiêu chí thời hạn, trình tự, thủ tục mà pháp luật có quy định.

3.2. Cách lập luận

Thông thường có 2 cách lập luận như: Có thể nêu vấn đề trước sau đó mới lập luận và kết luận, hoặc nêu kết luận trước sau đó mới lập luận căn cứ tại sao lại kết luận như thế.

Yêu cầu của việc nhận định và kết luận của tòa án phải rõ ràng, cụ thể, không được khó hiểu và gây hiểu lầm. Phần nhận định và đánh giá của bản án là cơ sở để tòa án phán quyết cụ thể tại phần quyết định của bản án. Do đó giữa phần nhận định và phần quyết định phải có sự thống nhất. Nếu có sự việc tranh chấp và các bên còn có ý kiến khác nhau thì Tòa án cần nêu ý kiến của các bên trước và sau đó đưa ra quan điểm đánh giá, kết luận.

3.3. Áp dụng luật đối với việc giải quyết vụ án

Quyết định của bản án là sản phẩm của việc áp dụng các quy định của pháp luật đối với việc giải quyết vụ án. Thông thường việc áp dụng luật của Tòa án được thể hiện dưới hình thức các nhận định của Tòa án về từng yêu cầu và cho thấy tranh chấp đã được Tòa án sẽ quyết định như thế nào. Các kết luận về các vấn đề được giải quyết phải thể hiện tính logic của các căn cứ lập luận để tìm ra cơ sở chính của quyết định cuối cùng trong bản án.

3.4. Về tính toán các con số

Tòa án phải đưa ra căn cứ cho việc tính toán các con số mà Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của các bên đương sự (tiền bồi thường và án phí) nếu số tiền được đưa ra bằng việc áp dụng một số nguyên tắc hoặc phương thức đã được thỏa thuận thì thì nguyên tắc phương thức đó phải được nêu ra. Tương tự nếu đã có sự thỏa thuận về một số yêu tố của việc tính toán thì trong phần nhận định của bản án phải trình bày rõ những gì đã được thỏa thuận và điều gì là vấn đề Tòa án phải nhận định cho phù hợp pháp luật.

3.5. Nhận định về trách nhiệm chịu án phí

Bản án phải nhận định trách nhiệm phải chịu án phí và mức án phí các bên phải chịu, nếu có phân chia trách nhiệm thanh toán một số khoản chi phí khác trong vụ án cũng phải nhận định cụ thể trách nhiệm của từng đương sự. Khi nhận định Hội đồng xét xử phải đưa ra căn cứ cho quyết định của mình.

Nhận định của bản án là quan điểm giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử trên cơ sở pháp luật, Bản án phải thể hin theo cách thức không nhằm vào ai, nó là kết quả của việc các bên đã lựa chọn giải quyết vụ án tại Tòa án, các bên sẽ phải thi hành và chấp hành nó khi án đã có hiệu lực pháp luật. Sự tự nguyện thi hành của các bên phụ thuộc không nhỏ vào việc Tòa án giải thích việc áp dụng pháp luật một cách rõ ràng có tính thuyết phục cao về lý do tại sao Tòa án lại đi đến những kết luận như vậy.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 164 Luật tố tụng hành chính thì phần nhận định của bản án hành chính sơ thẩm phải nêu điểm, khoản, điều của văn bản quy phạm pháp luật mà Tòa án căn cứ để giải quyết vụ án. Như vậy cần được hiểu việc viện dẫn điều luật được bố cục tại phần nhận đnh và nên để cuối cùng tại phần nhận định trước phần quyết định. Trước kia phần viện dẫn điều luật thường được bố cục tại phần quyết định, nay theo quy định tại khoản 5 Điều 164 Luật tố tụng hành chính thì phần quyết định của bản án không cần tuyên phần viện dẫn điều luật áp dụng để Tòa án quyết định.

Cần chú ý là: Chỉ viện dẫn điểm, khoản, điều của văn bản quy phạm pháp luật mà Tòa án căn cứ để giải quyết vụ án, không phải viện dẫn tất cả các văn bản mà Tòa án đã căn cứ để lập luận giải quyết các vấn đề về chứng cứ. Thông thường các văn bản quy phạm pháp luật Tòa án thường áp dụng là: Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Nghị quyết.

4. Phần Quyết định của bản án

Khi tuyên án Hội đồng xét xử phải căn cứ vào Điều 163 Luật tố tụng hành chính quy định thẩm quyền của Hội đồng xét xử để quyết định cho phù hợp với từng đối tượng bị khởi kiện và đúng với thẩm quyền.

Trong phần quyết định của bản án phải ghi rõ các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án. Cách viết phải ngắn gọn, rõ ràng và đủ ý. Nếu quyết định Hủy quyết định hành chính bị khởi kiện thì phải ghi rõ số quyết định, ngày, tháng năm, cơ quan ban hành…

Chú ý: Nếu không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện về việc hủy quyết định hành chính thì phần quyết định của bản án không ghi thêm giữ nguyên quyết định hành chính bị khởi kiện vì: Khi Cơ quan ban hành quyết định đó xét thấy cần thiết có thể thay đổi quyết định đó theo thẩm quyền.

Trên thực tế quyết định hành chính bị khởi kiện vẫn đang có hiệu lực thi hành, do đó việc Tòa án không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện thì quyết định đó tiếp tục có hiệu lực mà không cần phải tuyên giữ nguyên hiệu lực của quyết định hành chính bị khởi kiện.

Có một số quyết định hành chính bị khởi kiện liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều người, và họ có các quyền và lợi ích độc lập với người đã khởi kiện đối với quyết định đó nhưng họ chưa khởi kiện vì một lý do nào đó. Do đó nếu bản án hành chính tuyên giữ nguyên quyết định hành chính bị khởi kiện nêu trên sẽ làm mất quyền khởi kiện của những người khác theo quy định của pháp luật.

Trong quyết định phải có quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự (nếu là bản án sơ thẩm). Nếu có trường hợp phải thi hành ngay cũng phải tuyên trong phần quyết định.

5. Đính chính bản án

Căn cứ Điều 167 Luật tố tụng hành chính quy định:

Sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định của Toà án

1. Sau khi bản án, quyết định của Toà án được ban hành thì không được sửa chữa, bổ sung trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai. Văn bản sửa chữa, bổ sung phải được Toà án gửi ngay cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp; trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật còn phải gửi cho cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cơ quan cấp trên trực tiếp của người bị kiện.

2. Việc sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này do Thẩm phán Chủ toạ phiên toà, phiên họp phối hợp với các thành viên Hội đồng xét xử vụ án đó thực hiện. Trường hợp một trong những thành viên của Hội đồng xét xử không thể thực hiện được việc sửa chữa, bổ sung thì việc sửa chữa, bổ sung do Chánh án Toà án thực hiện”.

Để hạn chế tối đa việc sai sót và phải sửa chữa, bổ sung bản án quyết định như quy định trên, đòi hỏi Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, phải soát xét bản án quyết định một cách cẩn thận trước khi phát hành. Đồng thời phải nhận thức đúng về quy định của điều luật, lưu ý việc sửa chữa, bổ sung không có nghĩa là viết lại quyết định, hoặc bản án những nội dung mà bản án và quyết định đã được phát hành không có, khác với nội dung đã được giải quyết mà chỉ là có thể sửa chữa, bổ sung: lỗi chính tả, hoặc số liệu do nhầm lẫn, hoặc tính toán sai.

Chú ý việc sửa chữa bổ sung phải lập thành văn bản, và chỉ Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, hoặc Chánh án thực hiện theo quy định của pháp luật.

Các bên cũng có thể yêu cầu Tòa án giải thích bản án và việc giải thích bản án cũng phải thực hiện bằng văn bản và thông báo cho các bên liên quan đến bản án được biết.

Bản án hành chính sơ thẩm có hiệu lực thi hành nếu không có kháng cáo của các đương sự và kháng nghị của Viện Kiểm sát theo Luật tố tụng hành chính.

Theo quy định tại Điều 166 Luật tố tụng hành chính thì:

“1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên toà, các đương sự được Toà án cấp trích lục bản án.

2. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày tuyên án, Toà án phải cấp, gửi bản án cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp, gửi bản án đã có hiệu lực pháp luật cho các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cơ quan cấp trên trực tiếp của người bị kiện”.

III. KỸ NĂNG SOẠN THẢO BẢN ÁN HÀNH CHÍNH PHÚC THẨM

Xét xử phúc thẩm vụ án hành chính là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật và bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Khi giải quyết lại vụ án theo trình tự phúc thẩm có thể có các quyết định khác nhau, tùy vào từng vụ án có thể tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm… ở phạm vi bài này chỉ nghiên cứu kỹ năng viết bản án phúc thẩm.

Chúng ta có thể so sánh quy định về bản án sơ thẩm quy định tại Điều 164 Luật tố tụng hành chính và bản án phúc thẩm quy định tại Điều 206 Luật tố tụng hành chính thì thấy:

Phần 1, 2 của hai điều luật quy định đối với bản án hành chính sơ thẩm và phúc thẩm là giống nhau. Đều là nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, cơ cấu của bản án sơ thẩm và phúc thẩm đều có các phần như phần mở đầu, phần nội dung vụ án và nhận định của Tòa an, phần quyết định.

Phần 3 - phần mở đầu thì trong bản án phúc thẩm tại Điều 206 có thêm phần người kháng cáo, Viện khiểm sát kháng nghị…

Phần 4 - phần về nội dung và nhận định của bản án phúc thẩm phải tóm tắt được nội dung vụ án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị, nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm, điểm, khoản và điều của văn bản quy phạm pháp luật mà Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ để giải quyết vụ án. Trong nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm phải phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị.

Phần quyết định của bản án phúc thẩm:

Căn cứ vào Điều 205 Luật tố tụng hành chính quy định thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm là :

“1. Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

2. Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Toà án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong các trường hợp sau đây:

a) Việc chứng minh và thu thập chứng cứ đã thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VI của Luật này;

b) Việc chứng minh và thu thập chứng cứ chưa thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên toà phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ.

3. Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm xét xử lại trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc có chứng cứ mới quan trọng mà Toà án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.

4. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án nếu trong quá trình xét xử sơ thẩm có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 120 của Luật này.

5. Đình chỉ việc giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, nếu việc xét xử phúc thẩm vụ án cần phải có mặt người kháng cáo và họ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Trong trường hợp này bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.”

Căn cứ vào thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm như đã nêu trên, cần lưu ý trong phần quyết định của bản án phải ghi rõ các quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án do có kháng cáo, kháng nghị, về việc phải chịu án phí sơ thẩm, phúc thẩm và hiệu lực của bản án phúc thẩm (Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án).


PHẦN II: PHẦN CHUYÊN SÂU

----------------

 

BÀI 8:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

 

I. XEM XÉT, ĐÁNH GIÁ TÍNH HỢP PHÁP CỦA QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH BỊ KHIẾU KIỆN

 1. Đối tượng khởi kiện vụ án hành chính

1.1. Đối tượng khởi kiện chung

Đối tượng khởi kiện vụ án hành chính được quy định tại Điều 28 Luật tố tụng hành chính. Điều 28 Luật tố tụng hành chính quy định những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

“1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.

2. Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

3. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.

4. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh”.

Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 thì đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là các quyết định hành chính, hành vi hành chính; khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống; khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.

1.2. Đối tượng khởi kiện về xử lý vi phạm hành chính

Theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì đối tượng khởi kiện vụ án hành chính bao gồm các quyết định xử phạt vi phạm hành chính và các quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Tuy nhiên, theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính (bắt đầu có hiệu lực và thay thế từ ngày 01/7/2013) thì đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là các quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước; còn các quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính (bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc) thực hiện theo một thủ tục khác.

2. Những vấn đề chung về xử phạt vi phạm hành chính

- Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

- Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

- Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

+ Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;

+ Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;

+ Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

+ Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.

Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.

Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.

Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.

+ Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;

+ Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

- Các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính.

Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý;

+ Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra;

+ Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

- Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính:

Không xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp sau đây:

+ Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết;

+ Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng;

+ Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ;

+ Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng;

+ Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính không có năng lực trách nhiệm hành chính; người thực hiện hành vi vi phạm hành chính chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

- Các hình thức xử phạt và nguyên tắc áp dụng:

 Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

+ Cảnh cáo;

+ Phạt tiền;

+ Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

+ Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính);

+ Trục xuất.

- Hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền chỉ được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt chính.

- Hình thức xử phạt Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có thể được quy định là hình thức xử phạt bổ sung  hoặc hình thức xử phạt chính.

- Đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính chỉ bị áp dụng một hình thức xử phạt chính; có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung. Hình thức xử phạt bổ sung chỉ được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính.

Để giải quyết các vụ án hành chính nói chung và đối với các quyết định xử phạt vi phạm hành chính nói riêng, Tòa án cần phải xem xét, đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện. 

3. Xem xét tính hợp pháp của quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị khiếu kiện

Sau khi thụ lý vụ án hành chính đối với quyết định hành chính bị khiếu kiện; để giải quyết vụ án được đúng pháp luật, Tòa án cần xem xét và đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện.

Việc xem xét, đánh giá đúng đắn tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện thể hiện kỹ năng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Để giải quyết tốt vụ án hành chính được giao,Thẩm phán phải thực hiện việc xây dựng hồ sơ vụ án, nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được (thông qua việc yêu cầu các đương sự, các cơ quan chức năng cung cấp các tài liệu, chứng cứ có liên quan); đồng thời phải xây dựng kế hoạch xét xử để thông qua việc hỏi các đương sự, những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa, thông qua việc tranh luận tại phiên tòa; đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đối chiếu với các quy định của pháp luật có liên quan để xác định quyết định hành chính bị khiếu kiện có phù hợp với quy định của pháp luật hay không.

Tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện được thể hiện là việc cơ quan Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước ban hành quyết định hành chính đó (về cả hình thức và nội dung) phải có căn cứ và đúng với quy định của pháp luật điều chỉnh lĩnh vực thuộc quyền quản lý của cơ quan Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước.

Việc xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện là việc xem xét về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định và nội dung của quyết định đó.

3.1. Xem xét về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước

Theo quy định của pháp luật, mỗi cơ quan Nhà nước đều có chức năng quản lý những lĩnh vực khác nhau. Để thực hiện chức năng quản lý của mình, các cơ quan Nhà nước đều có thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính thuộc lĩnh vực mình quản lý; việc ban hành quyết định hành chính phải thực hiện đúng về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành và việc ban hành phải có căn cứ, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Việc xem xét về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước được thể hiện bằng việc xem xét những vấn đề cơ bản sau đây:

a. Lập biên bản vi phạm hành chính:

- Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản:

+ Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ.

Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản.

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, địa chỉ của cá nhân vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; địa điểm xảy ra vi phạm; chứng cứ và tình tiết liên quan đến việc giải quyết vi phạm; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định xử phạt; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng. Trường hợp phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt.

- Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính

+ Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không thuộc trường hợp quy định không phải lập biên bản nêu trên.

+ Việc xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản phải được người có thẩm quyền xử phạt lập thành hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính. Hồ sơ bao gồm biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt hành chính, các tài liệu, giấy tờ có liên quan và phải được đánh bút lục.

Hồ sơ phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

b. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính:

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau:

Vi phạm hành chính về kế toán; thủ tục thuế; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, hải sản; quản lý rừng, lâm sản; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.

Vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế.

- Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.

Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm;

- Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến thì thời hiệu được áp dụng theo quy định nêu trên. Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

- Trong thời hạn được quy định nêu trên mà cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

c. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

- Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản.

Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình (theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật xử lý vi phạm hành chính) mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

- Quá thời hạn quy định (tại khoản 1 Điều này hoặc khoản 3 Điều 63 của Luật xử lý vi phạm hành chính), người có thẩm quyền xử phạt không ra quyết định xử phạt nhưng vẫn quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC), quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành.

Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nếu có lỗi trong việc để quá thời hạn mà không ra quyết định xử phạt thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

d. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính:

Việc xử phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của cá nhân những người có thẩm quyền được quy định từ Điều 38 đến Điều 54 Luật XLVPHC.

3.2. Xem xét nội dung của quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Việc xem xét về nội dung của quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị khiếu kiện là việc Tòa án cần phải xem xét các căn cứ theo quy định của pháp luật để người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước ban hành quyết định hành chính đó, cụ thể:

- Quyết định hành chính bị khiếu kiện phải là quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính (quyết định cá biệt) và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể (là văn bản áp dụng pháp luật).

- Các căn cứ của pháp luật để cơ quan Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước ban hành quyết định hành chính.

Đây là nội dung quan trọng nhất khi xem xét, đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện, làm cơ sở cho việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện khi Tòa án giải quyết vụ án hành chính.

Chú ý: Qua thực tiễn xét xử cho thấy, một số quyết định hành chính bị khiếu kiện có nhiều trường hợp, người bị kiện chỉ viện dẫn tên các văn bản quy phạm pháp luật mà họ áp dụng để ra quyết định mà không ghi cụ thể Điều, khoản nào làm căn cứ để ra quyết định hành chính. Khi giải quyết vụ án hành chính, Tòa án yêu cầu người khởi kiện phải làm rõ Điều, khoản cụ thể làm căn cứ để ra quyết định hành chính.

4. Đánh giá tính hợp pháp đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị khiếu kiện

Sau khi xem xét những vấn đề cơ bản nêu trên của quyết định hành chính bị khiếu kiện, Hội đồng xét xử của Tòa án phải đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện. Việc đánh giá được thể hiện thông qua việc nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án (do các đương sự, các cơ quan chức năng cung cấp các tài liệu, chứng cứ có liên quan theo yêu cầu của Tòa án), thông qua việc hỏi các đương sự, những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa, thông qua việc tranh luận tại phiên tòa; từ đó đối chiếu với các quy định của pháp luật để xác định:

- Việc cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước ban hành quyết định hành chính bị khiếu kiện có những vấn đề gì đúng, vấn đề gì sai theo quy định của pháp luật.

- Việc đúng, sai đó có làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không, có gây ra thiệt hại đối với ai, thiệt hại gồm những gì, giá trị thiệt hại là bao nhiêu.

- Những vấn đề sai sót của quyết định có cần thiết khi xét xử phải hủy toàn bộ quyết định, một phần quyết định hay chỉ cần rút kinh nghiệm.

- Chú ý về vấn đề bồi thường thiệt hại :

+ Người vi phạm hành chính nếu gây ra thiệt hại thì phải bồi thường. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

+ Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Khi đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện, tùy vào từng trường hợp cụ thể mà Hội đồng xét xử của Tòa án có thể đưa ra những đánh giá làm căn cứ để ra quyết định cho phù hợp.

II. KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT MỘT SỐ VỤ ÁN CỤ THỂ

Nhằm mục đích nâng cao kỹ năng xem xét, giải quyết các vụ án hành chính có liên quan đến việc khiếu kiện các quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong bài này chúng tôi đưa ra một số vụ án cụ thể mà Tòa án đã giải quyết để nghiên cứu.

1. Vụ án về việc khiếu kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa thông tin

Vụ án hành chính gồm có các đương sự:

- Người khởi kiện:Bà Phan Thị  M; Địa chỉ: tổ 9, phường Thống Nhất, thành phố P, tỉnh G.

- Người bị kiện:Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G.

- Đối tượng khởi kiện: Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2009 của Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G xử phạt VPHC đối với bà Phan Thị  M.

- Nội dung vụ án vụ án như sau:

Bà Phan Thị M là chủ hộ kinh doanh dịch vụ nhà trọ bình dân có tên Hoàng Mai tại tổ 09, phường Thống Nhất, thành phố P, tỉnh G được Uỷ ban nhân dân thành phố P cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 39A8005684 ngày 19/11/2007.

Khoảng 21h10 phút ngày 23/12/2008, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G đến kiểm tra nhà trọ Hoàng Mai. Sau khi kiểm tra, đoàn kiểm tra đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 11/bb-VPHC với nội dung: “Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Mai, phòng số 11 có ông N và bà  L không có giấy đăng ký kết hôn đang có quan hệ như vợ chồng; phòng số 09 có ông V và bà N không có giấy đăng ký kết hôn đang ở chung phòng xem ti vi. Vào thời điểm kiểm tra tại phòng số 11, chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ Hoàng Mai không vào sổ bà L. Kết luận chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ Hoàng Mai thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra vi phạm hành chính như trên”.

Ngày 10/3/2009, Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G đã ban hành Quyết định số 23/QĐ-XPHC đối với bà Phan Thị M, mức xử phạt chính là 5.000.000đ với lý do: “đã có hành vi vi phạm hành chính tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm, ma tuý, cờ bạc hoặc các hoạt động trái pháp luật khác, áp dụng điểm đ, khoản 3, điều 14, Nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ.

Ngày 24/3/2009, bà M có đơn khiếu nại Quyết định xử phạt hành chính.

Ngày 20/4/2009, Chánh thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh G ban hành Quyết định số 01/QĐ-TTr giải quyết đơn khiếu nại của bà M với nội dung giữ nguyên Quyết định số 23/QĐ-XPHC.

Ngày 04/5/2009, bà M có đơn khởi kiện.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2009/HCST ngày 01/10/2009, Toà án nhân dân tỉnh G quyết định: “Bác yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị M. Giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2009 của Chánh thanh tra Sở Văn hoá, du lịch, thể thao tỉnh G.”

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các bên,

Ngày 08/10/2009, bà M có đơn kháng cáo toàn bộ án sơ thẩm.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 04/2010/HCPT ngày 11/01/2010, Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: “Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, huỷ Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2009 của Chánh thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh G.

Ngày 12/01/2010, Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh G có Công văn số 01/2009/CV-TTr về việc khiếu nại giám đốc thẩm bản án phúc thẩm nêu trên.

- Phương pháp nghiên cứu vụ án:

a) Về thủ tục tố tụng:

Đối tượng khởi kiện trong vụ án là Quyết định số 23/QĐ-XPHX ngày 10/3/2009 của Chánh thanh tra Sở Văn hoá, thể thao, du lịch tỉnh G đối với bà  M. Như vậy, đối tượng khởi kiện thuộc khoản 1 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2006.

b) Về nội dung:

- Đánh giá tính hợp pháp của Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2009

*Về thời hạn ban hành quyết định:

Ngày 23/12/2008, Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao, du lịch tỉnh G lập Biên bản số 11/BB-VPHC về việc vi phạm hành chính đối với nhà trọ Hoàng Mai. Ngày 23/12/2008 là ngày có hành vi vi phạm hành chính. Theo khoản 2 Điều 152 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo của ngày được xác định”. Như vậy, thời hạn ban hành quyết định xử phạt hành chính được tính từ ngày 24/12/2008.

Theo khoản 3 Điều 21 Nghị định 134/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì: “3. Trong trường hợp xét thấy cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì chậm nhất là 10 ngày, trước khi hết thời hạn được quy định tại khoản 2 Điều này, người có thẩm quyền xử phạt phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản; thời gian gia hạn không quá 30 ngày;”

Do cần xác minh thêm nên ngày 16/01/2009, Chánh thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh G đã có tờ trình số 02/TT-TTr đề nghị Giám đốc Sở văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh G xin gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt đến hết ngày 11/3/2009 và đã được Giám đốc Sở phê duyệt.

Khoảng thời gian từ ngày 24/12/2008 (là ngày đầu tiên của thời hạn) đến ngày 10/3/2009 (là ngày ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính) gồm 77 ngày, trong đó có 26 ngày nghỉ cụ thể:

+ Tháng 12/2008: ngày 27, 28 là thứ 7 và chủ nhật;

+ Tháng 01/2009: có các ngày nghỉ là ngày 01, 03, 04, 10, 11, 17, 18, (24, 25, 26, 27, 28 là nghỉ tết âm lịch), 31;

+ Tháng 02/2009 có các ngày nghỉ: 01, 07, 08, 14, 15, 21, 22, 28;

+ Tháng 3/2009 có các ngày nghỉ: 01, 07, 08.

Theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 134/NĐ-CP ban hành 14/11/2003 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định: “Thời hạn trong pháp lệnh được quy định theo ngày thì khoảng thời gian đó được tính theo ngày làm việc, không bao gồm ngày nghỉ theo quy định của Bộ luật lao động”. Nên 26 ngày nghỉ trên không được tính vào thời hạn ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Tính số ngày làm việc từ ngày 24/12/2008 đến ngày 10/3/2009 là 77- 26 = 51 ngày. Như vậy, Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2010 của Chánh thanh tra Sở Văn hoá, du lịch, thể thao tỉnh G ban hành là đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm cho rằng Quyết định số 23/QĐ-XPHC ban hành đúng thời hạn quy định là đúng pháp luật. Toà án cấp phúc thẩm nhận định: Quyết định số 23/QĐ-XPHC ban hành quá thời hạn xử phạt vi phạm hành chính để huỷ Quyết định số 23/QĐ-XPHC là không đúng pháp luật .

*Về nội dung của quyết định:

+ Tại Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2008 đã xác định lỗi của chủ nhà trọ kinh doanh Hoàng Mai là: “…tại thời điểm kiểm tra phòng số 11, chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Mai không vào sổ bà Nguyễn Thị Lợi, kết hợp chủ cơ sở nhà trọ Hoàng Mai thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên.”

Nhưng tại Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2009 lại ghi chủ nhà trọ Hoàng Mai có hành vi vi phạm hành chính là: “tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm, ma tuý, cờ bạc hoặc các hoạt động trái pháp luật”, để áp dụng điểm đ, khoản 3, điều 14, Nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính Phủ. Như vậy, hành vi vi phạm hành chính trong Biên bản vi phạm hành chính và Quyết định xử phạt hành chính là không thống nhất.

Qua kiểm tra phòng số 11 có ông N và bà L, kiểm tra phòng số 9 có ông V và bà N đều không có giấy đăng ký kết hôn ở chung phòng với nhau nên Thanh tra Sở văn hoá, thể thao và du lịch cho rằng chủ nhà trọ Hoàng Mai tạo điều kiện để họ tổ chức hoạt động mại dâm là chưa có căn cứ.

Trong trường hợp này, chủ nhà trọ Hoàng Mai chỉ vi phạm mục 8.5, phần IV của Thông tư số 02/2001/TT-BCA ngày 04/5/2001 của Bộ Công an hướng dẫn thi hành Nghị định số 08/2001/Nđ-CP quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện là không vào sổ trước khi khách vào phòng nghỉ và bố trí cho nam, nữ ở cùng phòng khi họ không có giấy đăng ký kết hôn. Như vậy, hành vi vi phạm của chủ cơ sở Hoàng Mai là đã không thực hiện đúng những yêu cầu về đảm bảo an ninh, trật tự theo điểm c khoản 3 Điều 14 của Nghị định 150/NĐ-CP: “3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

c) Không cam kết thực hiện các điều kiện về an ninh trật tự, không thực hiện đúng những yêu cầu về các điều kiện đảm bảo an ninh trật tự...;”

Như vậy, căn cứ và áp dụng pháp luật để xác định hành vi vi phạm hành chính đối với cơ sở kinh doanh Hoàng Mai trong Quyết định số 23/QĐ-XPHC là chưa phù hợp. Tuy nhiên, trong phần xét thấy của bản án phúc thẩm nhận định: “quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2009 của Chánh thanh tra Sở văn hoá, thể thao, du lịch tỉnh G đã có vi phạm cả nội dung và hình thức, nhưng điều quan trọng là đã quá thời hạn ra quyết định xử phạt về vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi  phạm hành chính nên huỷ Quyết định số 23/QĐ-XPHC” là không đúng.

Trong khi đó, bản án sơ thẩm nhận định: “xét thấy việc Chánh thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh G căn cứ vào điểm đ khoản 13 Điều 14 Nghị định 150/NĐ-CP để xử phạt là không chính xác... Tuy nhiên, xét bản chất, cơ sở Hoàng Mai có vi phạm pháp luật hành chính. Căn cứ xử phạt thuộc cùng một khoản, điều luật, nghị định. Mức xử phạt giữa hai hành vi vi phạm này là như nhau. Do vậy, nhằm đảm bảo tính ổn định của quyết định, để phòng chống các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hoá, thể thao, du lịch trên địa bàn, xét không cần thiết phải huỷ bỏ quyết định trên” là có căn cứ.

Ngày 10/01/2011, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định số 01/HC-KN kháng nghị đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 04/2010/HCPT ngày 11/01/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, với những căn cứ nêu trên và đã quyết định: Huỷ Bản án hành chính phúc thẩm số 04/2010/HCPT ngày 11/01/2010 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao và giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2009/HCST ngày 01/10/2009 của Toà án nhân dân tỉnh G.

2. Vụ án về khiếu kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế

Vụ án hành chính gồm có các đương sự:

- Người khởi kiện: Doanh nghiệp tư nhân Đ;

- Người bị kiện: Chi cục thuế thành phố Q thuộc tỉnh B;

- Đối tượng khởi kiện: Quyết định số 342/QĐ-CCT ngày 08/6/2007 về việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với Doanh nghiệp tư nhân Đ;

- Nội dung vụ án:

Sau khi kiểm tra quyết toán thuế đối với Doanh nghiệp tư nhân Đ; ngày 07/6/2007, Chi cục thuế thành phố Q thuộc tỉnh B (gọi tắt là Chi cục thuế) đã lập biên bản kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế đối với Doanh nghiệp. Tại biên bản này Chi cục thuế đã phát hiện trong năm 2006 doanh nghiệp tư nhân Đ đã có hành vi khai man, trốn thuế như kê khai các khoản chi phí thực tế không hợp lý, không phát sinh như tiền lương 60.350.000đ; nguyên vật liệu sản xuất 334.127.300đ; khai báo doanh thu không đầy đủ thiếu 2.713.060đ.  

Căn cứ vào Biên bản nói trên, Chi cục trưởng Chi cục thuế ra Quyết định số 342/QĐ-CCT ngày 08/6/2007 về việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với doanh nghiệp Đ như sau: “Truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2006 với số tiền: 111.213.300đ; phạt 1,5 lần tiền thuế thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2006: 166.820.000đ; tổng số tiền truy thu và phạt là: 278.033.300đ.  

Không đồng ý với quyết định trên, doanh nghiệp Đ đã khiếu nại và khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 02/HCST ngày 29/9/2008, Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh B đã xét xử: Bác yêu cầu khởi kiện của doanh nghiệp Đ yêu cầu huỷ quyết định số 342/QĐ-CCT ngày  08/6/2007của Chi cục trưởng Chi cục thuế.

Ngày 02/10/2008, doanh nghiệp Đ kháng cáo.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 03/HCPT ngày 15/5/2009, Toà án nhân dân tỉnh B đã xét xử: Chấp nhậnkháng cáo của người khởi kiện; sửa án sơ thẩm; huỷ toàn bộ quyết định số 342/QĐ-CCT ngày 08/6/2007 của Chi cục trưởng Chi cục thuế; buộc Chi cục thuế trả lại cho doanh nghiệp Đ số tiền đã thu theo quyết định số 342/QĐ-CCT ngày 08/6/2007 là 278.033.300đ.

Ngày 15/6/2009, Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố Q, tỉnh B có đơn đề nghị xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.     

- Phương pháp nghiên cứu vụ án:

a) Về thủ tục tố tụng:

  Doanh nghiệp Đ khởi kiện Quyết định số 342/QĐ-CCT ngày 08/6/2007 của Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố Q tỉnh B về việc truy thu thuế và xử lý vi phạm pháp luật về thuế, nên đối tượng khởi kiện thuộc khoản 1 và khoản 10 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2006).

Tòa án nhân dân thành phố Q tỉnh B thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

b) Về nội dung:

- Xét tính hợp pháp của Quyết định số 342/QĐ-CCT ngày 08/6/2007 của Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố Q tỉnh B:

+ Về thẩm quyền xử phạt:

 Toà án cấp phúc thẩm xét xử huỷ quyết định trên vì cho rằng tại điểm b khoản 3 Điều 36 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định Chi cục trưởng Chi cục thuế chỉ có thẩm quyền phạt tiền đến 10.000.000đ, nhưng tại quyết định lại xử phạt đến 166.820.000đ là không đúng thẩm quyền.

Tại điểm b khoản 3 Điều 36 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của cơ quan thuế như sau: Trừ trường hợp luật có quy định khác về mức phạt; Chi cục trưởng Chi cục thuế có quyền phạt tiền đến 10.000.000đ.

Toà án cấp phúc thẩm khi xét xử đã không chú ý đến cụm từ Trừ trường hợp luật có quy định khác về mức phạt của Điều luật này.

Việc Toà án cấp phúc thẩm nhận định như trên là không đúng, vì thẩm quyn xử phạt của Cơ quan thuế trong trường hợp này được quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Tại khoản 3 Điều 23 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định việc xử lý vi phạm về thuế đối với đối tượng nộp thuế như sau: Khai man, trốn thuế thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế theo quy định của Luật này, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, còn bị phạt tiền từ  một đến năm lần số thuế gian lận.

Tại khoản 1 Điều 24 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định thẩm quyền của cơ quan thuế trong việc xử lý vi phạm về thuế như sau: Thủ trưởng cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế được quyền xử lý đối với các vi phạm của đối tượng nộp thuế quy định tại khoản 1 khoản 2 và phạt tiền từ một đến năm lần số tiền gian lận theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này.

Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, việc Chi cục trưởng Chi cục thuế có quyền xử phạt từ một đến năm lần số tiền mà doanh nghiệp khai man, trốn thuế và số tiền đó có thể lớn hơn nhiều lần số tiền 10.000.000đ, tuỳ thuộc vào số tiền trốn lậu thuế.

Do vậy, việc Toà án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ án sơ thẩm và huỷ quyết định số 342/QĐ-CCT ngày 08/6/2007 của Chi cục trưởng Chi cục thuế là không đúng quy định của pháp luật.

3. Vụ án về khiếu kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

Vụ án hành chính có các đương sự:

-  Người khởi kiện: Ông Huỳnh Tắc L;

Trú tại: ấp Cầu Đồn, thị trấn Huỳnh Hữu Nghĩa, huyện M, tỉnh S;

-   Người bị kiện:Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M, tỉnh S ;

- Đối tượng khởi kiện: Quyết định số 742/QĐHC-CTUBH ngày 19/12/2008 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai đối với ông L.

- Nội dung vụ án tóm tắt như sau :

Ngày 15/4/1998, ông Huỳnh Tắc L nhận chuyển nhượng đất của ông Nguyễn Văn N (giấy chuyển nhượng viết tay, diện tích là 700m2), việc chuyển nhượng không có địa chính đo đạc, xác nhận ranh giới và không có xác nhận của Uỷ ban nhân dân thị trấn H.

Trong quá trình sử dụng đất, ông L có lấn chiếm kênh Cầu Đồn bằng cách đổ đất lấn kênh.

Ngày 31/7/2002, Uỷ ban nhân dân thị trấn H lập biên bản và yêu cầu ông L ngưng việc lấn kênh.

Ngày 01/8/2006, ông L xây dựng hàng rào tường phía sau lấn ra kênh, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện phối hợp với Uỷ ban nhân dân thị trấn H lập Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông L, xác định diện tích lấn chiếm là 105m2.

Ngày 10/8/2006, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M ban hành Quyết định số 327/QĐHC-CTUBH về việc xử phạt hành chính đối với ông L với hình thức: phạt tiền 500.000đ và buộc ông Lỹ tháo dỡ hàng rào xây dựng lấn chiếm đất công cộng, giao trả diện tích 105m2 đất lấn chiếm. Ông L không chấp hành quyết định.

Ngày 04/9/2008, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M ban hành Quyết định số 247/QĐHC-CTUBND về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính đối với ông L.

Ngày 13/9/2008, ông L có đơn khiếu nại cho rằng: Ngày 14/8/2006, ông đã có đơn khiếu nại Quyết định số 327/QĐHC-UBND nhưng chưa được giải quyết.

Ngày 25/9/2008, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M ban hành Quyết định số 272/QĐHC-CTUBND về việc hủy bỏ Quyết định số 327/QĐHC-CTUBNH và Quyết định số 247/QĐ-CTUBND vì lý do: Sau khi công bổ Quyết định số 327/QĐHC-CTUBH, ông L đã làm đơn khiếu nại nhưng chưa được xem xét giải quyết.

Uỷ ban nhân dân huyện M thành lập tổ công tác kiểm tra lại việc lấn chiếm đất kênh Cầu Đồn của ông L.

Ngày 12/12/2008, Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông L, xác định diện tích mà ông L lấn chiếm là 131,2m2 (có kích thước các chiều kèm theo).

Ngày 19/12/2008, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M ban hành Quyết định số 742/QĐHC-CTUBND về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lỹ, hình thức xử phạt chính: phạt tiền 500.000đ; biện pháp hành chính khác là buộc ông L tháo dỡ nhà vệ sinh, tường xây và hàng rào để trả lại hiện trạng cũ.

Ông L khiếu nại quyết định trên.

Ngày 23/02/2009, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M ban hành Quyết định số 03/QĐKN-CTUBND về việc giải quyết khiếu nại của ông L với nội dung: Bác đơn khiếu nại.

Ngày 03/3/2009, ông L có đơn khởi kiện.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2010/HCST ngày 30/9/2010, Tòa án nhân dân M xử: Bác đơn khởi kiện của ông L về yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 742/QĐHC-CTUBND của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M.

Ngày 05/10/2010, ông L kháng cáo toàn bộ án sơ thẩm với những lý do:

- Ông không lấn chiếm kênh Cầu Đồn, đất do ông nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn N;

- Các biên bản vi phạm hành chính mỗi lần ghi diện tích khác nhau;

- Con kênh chưa được đo đạc cụ thể và cũng chưa có điểm nào làm căn cứ để đo và sơ đồ ông cung cấp thì con kênh này khoảng 5m;

- Quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính;

- Đã ban hành Quyết định xử phạt số 327/QĐ-CTUBH, lại tiếp tục ban hành Quyết định số 742 là không đúng vì một hành vi mà xử phạt 2 lần;

- Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân ký quyết định xử phạt là không đúng thẩm quyền.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 01/2011/HCPT ngày 21/02/2011, Tòa án nhân dân tỉnh S quyết định: “Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông L và giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2010/HCST ngày 30/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện M”.

Ngày 18/4/2011, ông L có đơn khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm nêu trên.

 - Phương pháp nghiên cứu vụ án:

a) Về thủ tục tố tụng:

  Ông L khởi kiện Quyết định số 742/QĐHC-CTUBND  ngày 19/12/2008 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nên đối tượng khởi kiện thuộc khoản 1 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2006).

Tòa án nhân dân huyện M thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

b) Về nội dung:

- Xét tính hợp pháp của Quyết định số 742/QĐHC-CTUBND ngày 19/12/2008 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M về việc xử phạt vi phạm hành chính đối vi ông L.

* Xét hành vi vi phạm hành chính của ông L:

 Năm 1998, khi nhận sang nhượng đất của ông N, các bên chỉ viết giấy tay, không có đo đạc và xác định kích thước. Trong lời khai tại Biên bản ngày 14/10/2008, ông N đã khẳng định: khi sang nhượng đất cho ông L là sang mão không có kích thước và giữa đất của ông N và ông T có kênh Cầu Đồn rộng khoảng 10m.

 Trong giấy chuyển nhượng ghi tứ cận: Đông giáp Cô út nhưng thực tế phía Đông là một đường đi dân sinh; phía Tây giáp với đất Phan Thành Thái nhưng thực tế lại là giáp kênh Cầu Đồn; phía Bắc giáp ông B nhưng thực tế là giáp đường Hùng Vương.

 Ngày 31/7/2002, ông L đổ đất lấn kênh đã bị Uỷ ban nhân dân thị trấn H lập biên bản và yêu cầu ông L ngưng việc đổ đất chiếm kênh. Ngày 16/02/2003, ông L tiến hành đóng cừ tràm chiếm đất công cũng bị lập biên bản. Ngày 01/8/2006, ông L bị lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi xây dựng tường rào phía sau lấn qua kênh. Ngày 06/6/2008, ông L bị lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi không cho đoàn công tác đo đạc, cắm cọc. Và đến ngày 12/12/2008, ông L tiếp tục bị lập biên bản về hành vi lấn chiếm kênh với diện tích 131,2m2.

 Theo Công văn số 11/CV.TNMT ngày 22/7/2010, Phòng Tài nguyên Môi trường huyện M khẳng định: Theo tỷ lệ bản đồ giải thửa ấp Cầu Đồn 1/5000 thì chiều rộng kênh Rau Cần (Cầu Đồn) tại vị trí cắt ngang đường Hùng Vương là 12-14m. Trong quá trình sử dụng đất các hộ dọc theo 2 bên kênh có bồi trúc một phần, phần còn lại do thời gian nên kênh bị đắp bịt 2 đầu nên bị bồi lắng. Sau khi kiểm tra lại hiện trạng kênh thì chiều rộng chỉ còn 9m ở cạnh giáp đường Hùng Vương, 8m ở cạnh phía Nam. Ông L đã lấn kênh xây dựng nhà vệ sinh và hàng rào trên phần diện tích kênh hiện trạng này.

 Qua kiểm tra hiện trạng và so sánh với hồ sơ thửa đất lập ngày 04/11/2008, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M đã xác định diện tích lấn chiếm là 131,2m2, có tứ cận: Phía Đông giáp đất ông Lỹ dài 32m, phía Tây giáp kênh Cầu Đồn dài 32m, phía Nam giáp kênh Cầu Đồn dài 4,2m, phía Bắc giáp đường Hùng Vương 4,0m.

 Do đó, hành vi trên của ông L là hành vi chiếm đất theo điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 10 Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

* Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định:

- Thời hiệu ban hành quyết định xử phạt:

Ngày 12/12/2008 là ngày lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông L, đến ngày 19/12/2008, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M ban hành quyết định số 742/QĐHC-CTUBND là đúng thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.

- Về thẩm quyền:

Với mức phạt 500.000đ thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M ra quyết định xử phạt là đúng thẩm quyền quy định tại điểm b khoản 2 Điều 25 Nghị định 105/2009/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Ông L cho rằng quyết định số 742/QĐHC-CTUBND do Phó chủ tịch ký là không đúng thẩm quyền. Khiếu nại này là không có cơ sở vì tại Giấy ủy quyền số 42/UQ-HC ngày 19/12/2008, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M đã ủy quyền cho Phó chủ tịch được ký quyết định xử phạt hành chính, buộc tháo dỡ nhà vệ sinh, tường xây và hàng rào đối với hành vi vi phạm hành chính của ông L.

Tại khoản 4 Điều 9 Nghị định 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 quy định: “Buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này nên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M buộc ông L phải tháo dỡ nhà vệ sinh, tường xây, và hàng rào để trả lại hiện trạng cũ là đúng pháp luật.

Do đó, Quyết định số 742/QĐHC-CTUBND xử phạt ông L là đúng. Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm xử: Bác đơn khởi kiện của ông L về yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 742/QĐHC-CTUBND của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện M là có căn cứ, đúng pháp luật.


BÀI 9:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN

QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH, HÀNH VI HÀNH CHÍNH

VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

 

I. GIỚI THIỆU CHUNG

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IX thông qua ngày 21/5/1996 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/1996. Theo đó, ngành Tòa án nhân dân được giao thêm nhiệm vụ giải quyết các khiếu kiện hành chính, trong đó có khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai.

Sau 15 năm, hoạt động giải quyết các khiếu kiện hành chính, trong đó có khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã được sửa đổi, bổ sung hai lần (vào năm 1998 và năm 2006). Tuy nhiên, do Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính còn hạn chế về nhiều mặt, nên cần thiết phải được hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Đảng đã đề ra.

Do vậy, ngày 24/11/2010, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật tố tụng hành chính, có hiệu lực từ ngày 01/7/2011. Nội dung của Luật tố tụng hành chính có nhiều điểm mới so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, trong đó có những điểm mới về khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai.

 Hiện nay, các khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai là lĩnh vực rất quan trọng và phức tạp, chiếm tỉ lệ khoảng 70% số lượng các vụ án hành chính mà Tòa án phải giải quyết hàng năm.

Cũng như các khiếu kiện hành chính khác, trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai (gọi tắt là lĩnh vực quản lý đất đai), đối tượng bị khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng vụ án hành chính theo quy định của pháp luật bao gồm các quyết định hành chính và hành vi hành chính.

Khái niệm về quyết định hành chính và hành vi hành chính trong quá trình xây dựng pháp luật về tố tụng hành chính từ năm 1996 đến nay có sự thay đổi cụ thể là:

1. Quyết định hành chính

 Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2006) thì:“Quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính”.

Tại khoản 1 Điều 3 Luật tố tụng hành chính (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011) quy định: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”.

Căn cứ vào quy định trên thì quyết định hành chính bao gồm cả các văn bản như công văn, thông báo… có nội dung như quyết định.

Như vậy theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính trước kia thì quyết định hành chính phải được thể hiện bằng văn bản với hình thức là quyết định, nhưng theo Luật tố tụng hành chính thì hình thức văn bản có thể được coi là quyết định hành chính không nhất thiết phải là quyết định mà có thể được biểu hiện bằng hình thức khác như: Thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó)… như hướng dẫn tại Điều 1 nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29-7-2011. Như vậy theo Luật tố tụng hành chính và văn bản hướng dẫn thi hành cho đến nay chưa thống kê được có bao nhiêu loại hình thức văn bản có thể được coi là quyết định hành chính vì vậy việc này đòi hỏi sự chủ động của Thẩm phán khi xem xét đánh giá từng trường hợp cụ thể, cần lưu ý văn bản đó phải chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính.

2. Hành vi hành chính

Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2006) thì: “Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”.

Tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011) quy định: “Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”.

Hành vi hành chính thường được gắn liền với một quyết định hành chính và được thể hiện dưới hai hình thức là thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định của pháp luật.

Khi xem xét quyết định hành chính, hành vi hành chính như nêu trên không chỉ do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà còn bao gồm cả khái niệm cơ quan, tổ chức khác có thể là cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, và các tổ chức khác… khi được giao quyền tham gia vào quản lý hành chính nhà nước. Có thể hiểu một cách khái quát là tham gia vào quản lý, chỉ đạo việc chấp hành luật pháp, chính sách của Nhà nước.

Căn cứ vào quy định trên của pháp luật thì hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu kiện là hành vi của cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai hoặc của cán bộ, công chức trong cơ quan đó khi giải quyết công việc thuộc phạm vi liên quan đến việc thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật về quản lý đất đai.

II. THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI       

Ngoài việc quy định thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính (trước đây là quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính), thì còn một trong những căn cứ khác để xác định thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của Tòa án là theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Do vậy, trong lĩnh vực quản lý đất đai, khi xác định thẩm quyền về việc của Tòa án thì ngoài pháp luật tố tụng, cần phải áp dụng Luật Đất đai quy định những loại việc nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng vụ án hành chính.       

Tại khoản 5 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998) quy định: “Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính sau đây: …Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.         

*Theo Luật đất đai năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001) thì nội dung quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại Điều 13 cụ thể là:

Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm:

1- Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa chính;

2- Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất;

3- Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó;

4- Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất;

5- Đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

6- Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất;

7- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai.      

Luật đất đai sửa đổi 1998 và 2001 không sửa đổi nội dung quản lý nhà nước về đất đai tại điều 13 luật đất đai năm 1993.        

Căn cứ vào quy định trên, giai đoạn này các khiếu kiện đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong đó có việc tranh chấp đất đai đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng vụ án hành chính (từ khi thành lập Tòa hành chính năm 1996). Tuy nhiên trên thực tế thì việc khởi kiện vụ án hành chính lại không nhiều, lý do là nếu họ không đồng ý với quyết định hành chính, hoặc hành vi hành chính họ phải thực hiện việc khiếu nại trước và phải có văn bản trả lời khiếu nại mà họ không đồng ý thì mới được quyền khởi kiện tại Tòa án bằng vụ án hành chính. Tâm lý người dân chưa quen khởi kiện ra Tòa việc này. Và việc giải quyết của Tòa án vì nhiều lý do cũng chưa hiệu quả cao…

*Theo Luật đất đai năm 2003:

Các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai là đối t­ượng khiếu kiện vụ án hành chính.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật đất đai năm 2003 thì Nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm:        

a) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó;      

b) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính;      

c) Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;     

d) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;       

đ) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất;     

e) Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;   

g) Thống kê, kiểm kê đất đai;     

h) Quản lý tài chính về đất đai;    

i) Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản;     

k) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; 

l) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;   

m) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai;   

n) Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.

Các quyết định hành chính về quản lý đất đai có thể là:

+ Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, tr­ưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;

+ Quyết định bồi th­ường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư­;      

+ Quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

+ Quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất;          

+ Quyết định xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai;        

+ Giải quyết tranh chấp đất đai;

+ Giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai.

Căn cứ vào các quy định của pháp luật về quản lý đất đai (Nghị 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004) thì các hành vi hành chính sau đây có thể bị khiếu kiện:

- Hành vi vi phạm quy định về hồ sơ và mốc địa giới hành chính:

+ Làm sai lệch sơ đồ vị trí, bảng tọa độ, biên bản bàn giao mốc địa giới hành chính;

+ Cắm mốc địa giới hành chính sai vị trí trên thực địa.

- Hành vi vi phạm quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:

+ Không công bố hoặc chậm công bố quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt; không công bố hoặc chậm công bố việc điều chỉnh hoặc huỷ bỏ kế hoạch sử dụng đất; làm mất, làm sai lệch bản đồ quy hoạch sử dụng đất chi tiết;

+ Cắm mốc chỉ giới quy hoạch sử dụng đất chi tiết sai vị trí trên thực địa;

+ Để xảy ra việc xây dựng, đầu tư bất động sản trái quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết trong khu vực đất phải thu hồi để thực hiện quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt.

- Hành vi vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất:

+ Giao đất, giao lại đất, cho thuê đất không đúng vị trí và diện tích đất trên thực địa;

+ Giao đất, giao lại đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được xét duyệt.

- Hành vi vi phạm quy định về thu hồi đất:

+ Không thông báo trước cho người có đất bị thu hồi theo quy định tại Điều 39 của Luật Đất đai; không công khai phương án bồi thường, tái định cư;

+ Thực hiện bồi thường không đúng đối tượng, diện tích, mức bồi thường cho người có đất bị thu hồi; làm sai lệch hồ sơ thu hồi đất; xác định sai vị trí và diện tích đất bị thu hồi trên thực địa;

+ Thu hồi đất không đúng thẩm quyền; không đúng đối tượng; không đúng với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt.

- Hành vi vi phạm quy định về quản lý đất được Nhà nước giao để quản lý:

+ Để xảy ra tình trạng người được pháp luật cho phép sử dụng đất tạm thời mà sử dụng đất sai mục đích;

+ Sử dụng đất sai mục đích;

+ Để đất bị lấn, bị chiếm, bị thất thoát.

- Hành vi vi phạm quy định về thực hiện trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất:

+ Không nhận hồ sơ đã hợp lệ, đầy đủ, không hướng dẫn cụ thể khi tiếp nhận hồ sơ, gây phiền hà đối với người nộp hồ sơ, nhận hồ sơ mà không ghi vào sổ theo dõi;

+ Tự đặt ra các thủ tục hành chính ngoài quy định chung, gây phiền hà đối với người xin làm các thủ tục hành chính;

+ Giải quyết thủ tục hành chính không đúng trình tự quy định, trì hoãn việc giao các loại giấy tờ đã được cơ quan có thẩm quyền ký cho người xin làm thủ tục hành chính;

+ Giải quyết thủ tục hành chính chậm trễ so với thời hạn quy định;

+ Từ chối thực hiện hoặc không thực hiện thủ tục hành chính mà theo quy định của pháp luật đã đủ điều kiện để thực hiện;

+ Thực hiện thủ tục hành chính không đúng thẩm quyền;

+ Quyết định, ghi ý kiến hoặc xác nhận vào hồ sơ không đúng quy định gây thiệt hại hoặc tạo điều kiện cho người xin làm thủ tục hành chính gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức và công dân;

+ Làm mất, làm hư hại, làm sai lệch nội dung hồ sơ.

- Hành vi vi phạm các quy định khác như:

+ Bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất không đúng;

+ Thực hiện việc giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất không đúng;

+ Bố trí tái định cư không đúng quy định…

Tuy nhiên theo Điều 136 Luật Đất đai 2003 thì Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cụ thể là:      

Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;  

2. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:     

a) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;

b) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.          

Giải quyết khiếu nại về đất đai tại Điều 138 Luật đất đai năm 2003 quy định:

1. Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.   

2. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện như sau:      

a) Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trong trường hợp khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;       

b) Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân;    

c) Thời hiệu khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính đó. Trong thời hạn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân.     

3. Việc giải quyết khiếu nại về đất đai quy định tại khoản 2 Điều này không bao gồm trường hợp khiếu nại về quyết định giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại khoản 2 Điều 136 của Luật này.    

Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐTP ngày 4-8-2006 hướng dẫn: Cần lưu ý là đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai trong việc giải quyết tranh chấp đất đai thì trong mọi trường hợp đều không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Như vậy đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (trước ngày 01/7/2011 là ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực thi hành) là những khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính nếu thuộc loại việc quy định tại khoản 2 Điều 136 (không có giấy tờ…) và khoản 1 Điều 138 (đã được giải quyết khiếu nại lần 2) và việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thì trong mọi trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng vụ án hành chính.      

Đồng thời điều kiện bắt buộc để đương sự có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai là phải có quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, thì căn cứ vào thời hiệu để khởi kiện vụ án hành chính. Thời hiệu khiếu nại và khởi kiện được quy định như sau:

Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Luật Đất đai năm 2003; khoản 3 Điều 163, khoản 3 Điều 164 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP thì:        

- Thời hiệu khiếu nại lần đầu: 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính;        

- Thời hiệu khiếu nại lần hai: 45 ngày, kể từ ngày nhận đ­ược quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

- Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính: 45 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện hoặc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

Như vậy luật đất đai năm 2003 và các văn bản pháp luật có liên quan trong việc giải quyết các khiếu kiện về quản lý đất đai còn có điểm thiếu thống nhất trồng chéo và không rõ ràng. Luật tố tụng hành chính ra đời đã khắc phục những vấn đề trên để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người khởi kiện, và mở rộng thẩm quyền cho Tòa án đối với loại việc này.

III. THỦ TỤC KHIẾU NẠI VÀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH, HÀNH VI HÀNH CHÍNH VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

Điều 264 Luật TTHC đã sửa đổi bổ sung điều 136 và 138 của Luật đất đai năm 2003 như sau:

Khoản 2 Điều 136 của Luật đất đai được sửa đổi, bổ sung:         

Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:        

a) Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính;      

b) Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính.”

Điều 138 của Luật đất đai được sửa đổi, bổ sung như sau:

1. Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.        

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính.        

Điều 138 được sửa đổi không còn quy định giải quyết khiếu nại lần 2 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh là giải quyết khiếu nại cuối cùng (điểm a khoản 2 Điều 138 cũ) và cũng không còn quy định nếu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết khiếu nại lần đầu mà không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án. Điều 138 cũng không còn nhắc lại thủ tục, trình tự và thời gian giải quyết khiếu nại nữa mà chỉ quy định là nếu có khiếu nại thì giải quyết theo luật khiếu nại. Như vậy thì:

- Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính theo Luật khiếu nại.       

- Trình tự, thủ tục giải quyết việc khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính thì theo Luật tố tụng hành chính.        

Khi khoản 2 Điều 136 và Điều 138 Luật Đất đai năm 2003 đã được sửa đổi tại điều 264 Luật tố tụng hành chính thì sau khi Luật TTHC có hiệu lực (từ ngày 1-7-2011) thì hầu hết các quyết định hành chính và hành vi hành chính về quản lý đất đai trong đó có cả việc giải quyết tranh chấp đất đai mà  người khởi kiện cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính đã làm thiệt hại đến quyền và lợi ích của mình thì có quyền khởi kiện bằng vụ án hành chính và lựa chon ngay: khởi kiện hoặc khiếu nại. Không cần phải khiếu nại lần đầu như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định. Trừ những việc tranh chấp đất đai như quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai - thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng vụ án dân sự và Khoản 2 Điều 136 là: a) Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính; b) Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

IV. VIỆC XEM XÉT, ĐÁNH GIÁ TÍNH HỢP PHÁP ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI BỊ KHIẾU KIỆN

Việc xem xét, đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện nói chung và phương pháp xem xét, đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính về quản lý đất đai bị khiếu kiện cũng cần tuân thủ những nội dung sau:

1. Xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện

 Xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện là thông qua việc nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, thông qua việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa; Thẩm phán và Hội đồng xét xử phải làm rõ, đối chiếu những vấn đề cơ bản do pháp luật quy định về loại quyết định hành chính đó. Những vấn đề cơ bản do pháp luật quy định bao gồm:

 *Việc xem xét về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định hành chính:

- Xem xét về trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính bao gồm:

+ Xem xét về trình tự ban hành quyết định hành chính;

+ Xem xét về thủ tục ban hành quyết định hành chính;

+ Xem xét về thời hạn ban hành quyết định hành chính;

+ Xem xét v